Những chuyển biến tâm lý xã hội của đội ngũ cán bộ, công chức thành phố hà nội và hải dương trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay - Pdf 13


18

VIN KHOA HC X HI VIT NAM
VIN X HI HC V TM Lí LNH O, QUN Lí BO CO TNG KT
đề tài khoa học cấp bộ năm 2009 Đề tài

Những chuyển biến tâm lý x hội
của đội ngũ cán bộ, công chức trong quá trình
hội nhập, hợp tác kinh tế quốc tế qua khảo sát
một số tỉnh đồng bằng sông hồng hiện nay
n trọng điểm (Bộ máy; thể chế; cán bộ; tài chính công).
Nhận thức và quán triệt sâu sắc di huấn của chủ tịch Hồ Chí Minh: “Cán
bộ là cái gốc của mọi công việc”; “Muôn việc thành công hay thất bại đều do
cán bộ tốt hay kém”, đội ngũ cán bộ, công chức nước ta trong nhiều chục năm
qua đã có những đóng góp đáng kể vào sự nghiệp xây dựng xã hội theo định
hướng xã hội chủ
nghĩa mà Đảng và Nhân dân đã giao phó. Không thể không
thừa nhận rằng: trong những thành tựu kinh tế - xã hội đã đạt được, nhất là từ
thời kỳ đổi mới đến nay ở nước ta, có sự đóng góp to lớn của đội ngũ cán bộ,
công chức, trong đó đặc biệt nói đến tính tiên phong, gương mẫu, luôn không
ngừng phấn đấu trau dồi năng lực, nâng cao phẩm chất, rèn luyện ý chí, tác
phong làm việc đ
áp ứng yêu cầu thực tiễn mới là những nhân tố tâm lý đắc lực
nhất giúp đội ngũ cán bộ, công chức có được những thành tích đáng kể đó.
Trở thành thành viên chính thức trong tổ chức thương mại thế giới
(WTO) và sự hội nhập quốc tế ngày càng đi vào chiều sâu, càng đặt đội ngũ

2
cán bộ, công chức nhà nước vào nhiệm vụ, vị thế và những trọng trách mới,
thuận lợi có, song khó khăn, thử thách cũng không ít. Thực tế đang cho thấy:
hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay vẫn đang còn là vấn đề mới mẻ, có tính
bước ngoặt trên mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống kinh tế - xã hội nói
chung, dẫn đến làm thay đổi m
ột cách vừa có tích cực vừa tiêu cực về tâm lý,
tác phong và lề lối làm việc của đội ngũ cán bộ công chức. Để đáp ứng yêu
cầu hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay và những năm tiếp theo, hơn lúc
nào hết, đội ngũ cán bộ công chức nhà nước càng phải nỗ lực nhiều hơn
nữa, phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu nhiều hơn nữa, mà trước hết
ph
ải bắt đầu từ nội lực, trong đó lấy sự nhận diện đúng tâm lý và diễn biến

chuyển biến tâm lý xã hội theo hướng tích cực của đội ngũ cán bộ, công ch
ức
hiện nay, còn có những đặc điểm tâm lý đã “định hình” là do hoặc từ sự “hoài
niệm truyền thống như một giá trị”, hoặc do thói quen, kinh nghiệm làm ảnh
hưởng nhất định đến quá trình công tác của họ trước những yêu cầu thực tiễn
trong thời kỳ hội nhập quốc tế. Bên cạnh đó, trong đời sống tâm lý đội ngũ cán
bộ, công chức nhà nước cũng đang b
ộc lộ những biểu hiện tâm lý xã hội mới
do sự tác động của hội nhập quốc tế mà được hình thành trên hai khía cạnh: tự
phát và tự giác. Sự chuyển biến và hình thành tâm lý mới một cách tự phát
nghĩa là: từ những quan sát, nhận thấy được và lĩnh hội do tiếp xúc trực tiếp
với những diễn biến hàng ngày của thực tiễn hội nhập. Sự chuyển biến và hình
thành tâm lý mới theo h
ướng tự giác nghĩa là tính chủ động của quá trình
chính trị thông qua các hệ thống giáo dục, đào tạo và các “kênh” truyền thông
đại chúng có tổ chức. Sự chuyển biến tâm lý xã hội mang tính tự phát và tự
giác này cũng có những biểu hiện tâm lý tích cực và tiêu cực. Xu hướng
chuyển biến tâm lý xã hội như đã khái quát là vấn đề có tính quy luật tâm lý xã
hội với nghĩa là sự phản ánh khách quan trên cơ sở hiện thực xã hội và chịu sự

quy định của thực tiễn xã hội trong xu thế phát triển tất yếu của hiện thực.
Trong những chuyển biến tâm lý xã hội chung đó, đội ngũ cán bộ, công
chức thành phố Hà Nội và Hải Dương chịu sự ảnh hưởng đáng kể, trước hết từ
tính chất, vị thế và bối cảnh tự nhiên – xã hội trước tiến trình hội nhập, đặc
biệt là thành phố
Hà Nội. Qua quan sát, nghiên cứu thực tế cho thấy: Hà Nội
và Hải Dương từ khi hội nhập có những phát triển khá mạnh và toàn diện trên
các lĩnh vực kinh tế - xã hội của địa phương. Là trung tâm chính trị, kinh tế,
văn hóa… của các nước - Hà Nội là một trong những thành phố có tốc độ phát
triển cao, đặc biệt có sự sát nhập Hà Tây được xác định thành phố đa chức

tâm lý xã hội, nhất là của đội ngũ cán bộ, công chức trước thực tiễn phát triển
là vấn đề quan tr
ọng, song ý nghĩa quan trọng hơn là nghiên cứu xác định
đúng nguyên nhân, tính chất biểu hiện của những chuyển biến tâm lý mới và
tác dụng ảnh hưởng của nó đối với hoạt động thực tiễn của đội ngũ cán bộ,
công chức nhà nước trong sự nghiệp xã hội ta hiện nay. Đề tài: “Những
chuyển biến tâm lý xã hội của đội ngũ cán bộ, công chức thành phố Hà Nội
và Hải Dươ
ng trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay” được lựa chọn
nghiên cứu trước hết từ những yêu cầu cấp thiết đó.

5
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Liên quan đến đề tài, đã có nhiều công trình, nhiều bài viết đợc các tác
giả nghiên cứu, đề cập trên các dạng: Công trình đề tài khoa học; Sách tham
khảo, chuyên khảo, luận án; luận văn; tham luận hội thảo, tạp chí Trong quá
trình su tầm, tham khảo chúng tôi nhận thấy có thể phân thành ba nhóm vấn
đề nghiên cứu chính:
1) Nghiên cứu những tác động đến sự hình thành, phát triển và biến đổi
tâm lý ngời Việt và đội ngũ cán bộ, công chức Việt Nam từ các điều kiện
khách quan. Đó là các điều kiện tự nhiên - xã hội bao gồm các yếu tố nh: địa
lý; kinh tế; chính trị; văn hoá; truyền thống xã hội nói chung, vùng đồng
bằng sông Hồng nói riêng. Tiêu biểu trong nhóm nghiên cứu này có các tác
giả: Phan Huy Lê Vũ Minh Giang: Các giá trị truyền thống và con ngời
Việt Nam hiện nay.(1994); Nguyễn Chí Mỳ. Sự biến đổi của thang giá trị đạo
đức trong nền kinh tế thị trờng với việc xây dựng đạo đức mới cho cán bộ
quản lý ở nớc ta hiện nay.(1997) Trần Đình Hựu: Đến hiện đại từ truyền
thống (1998); Phan Ngọc: Văn hoá Việt nam và cách tiếp cận mới.(1998);
Phan Đại Doãn Mai Văn Hai: Quan hệ dòng họ ở châu thổ sông Hồng. 2000.
Trần Đức: Nền văn minh sông Hồng xa và nay (1997); Tô Duy Hợp: Sự biến

Việt Nam đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hoá - những điều cần khắc phục.
(2004); Nghiên cứu giá trị nhân cách trong thời kỳ toàn cầu hoá (2007); Thái
Duy Tuyên: Một số điều cần khắc phục trong nhân cách ngời Việt Nam thời
kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá. (2007); Tô Minh Giới. Những t tởng lệch
lạc trong đời sống xã hội hiện nay (2003); Trần Trọng Thuỷ. Mô hình nhân
cách con ngời Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá - một
căn cứ quan trọng của chiến lợc giáo dục - đào tạo (2006); Lê Hữu Xanh.(chủ
biên). Tác động tâm lý làng xã đến đời sống con ngời ở đồng bằng bắc bộ
trong thời kỳ CNH, HĐH (2004); Phạm văn Đức. Mấy suy nghĩ về vai trò của
nguồn lực con ngời trong sự nghiệp CNH,HĐH đất nớc. (2003); Nguyễn
Linh Khiếu. Con ngời và vấn đề phát triển bền vững ở Việt Nam. (2003);
Phạm Văn Đức. Thực trạng nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay.(2000); Đặng
Hữu Toàn. Gắn phát triển con ngời Việt Nam hiện đại với giữ gìn và phát huy
bản sắc văn hoá dân tộc. (2000); Nguyễn Văn Huyên. Giáo dục nhân cách vì
sự phát triển con ngời Việt Nam. (1999);Vũ Anh Tuấn. Tính cách ngời Việt
Nam với quá trình hội nhập Asean (T/C TLH 2004); Nguyễn Hồi Loan. Một số
đặc điểm tâm lý của ngời nông dân Việt Nam ảnh hởng tiêu cực đến quá

7
trình hội nhập kinh tế (2005); Nguyễn Ngọc Phú. Bàn về chuẩn mực đạo đức
chủ yếu của con ngời Việt Nam hiện nay (2007)
3) Nghiên cứu ảnh hởng tâm lý, các phẩm chất tâm lý và những biến
đổi tâm lý của đội ngũ cán bộ, công chức trên các lĩnh vực hoạt động đời sống
xã hội. Trong nhóm nghiên cứu này, tiêu biểu có các tác giả nh: Lê Hữu Xanh
(Chủ biên). ảnh hởng tiêu cực của tâm lý tiểu nông đối với cán bộ lãnh đạo,
quản lý doanh nghiệp nhà nớc (2005); Bùi Văn Nhơn. Các giải pháp nhằm
xây dựng đội ngũ công chức hành chính nhà nớc trong giai đoạn hiện nay
(2005); Lơng Trọng Yên. Xây dựng và đổi mới đội ngũ công chức hành chính
nhà nớc (1993); Nguyễn Chí Mỳ. Sự biến đổi các thang giá trị đạo đức trong
nền kinh tế thị trờng với việc xây dựng đạo đức mới cho cán bộ quản lý ở

2. ảnh hởng từ những yếu tố tâm lý con ngời Việt Nam trong điều
kiện kinh tế thị trờng và xu thế hội nhập tác động đến sự hình thành, biến đổi
tâm lý đội ngũ cán bộ, công chức: Tâm lý truyền thống; nguồn nhân lực; giáo
dục nhân cách giá trị nhân cách và chuẩn mực đạo đức nhân cách
3. Những yếu tố tâm lý và xu hớng biến đổi của đội ngũ cán bộ, công
chức trong nền kinh tế thị trờng và xu thế hội nhập: Những yếu tố tâm lý
trong cải cách hành chính; trong hệ thống chính trị; nâng cao năng lực lãnh
đạo; tổ chức thực tiễn, tính tích cực lao động, bệnh quan liêu ở đội ngũ cán
bộ, công chức
Thứ hai Hợp tác kinh tế quốc tế và hội nhập là vấn đề phản ánh xu thế
phát triển đang đợc diễn ra rất mới đối với nớc ta, nên, hiện tại cha có đợc
nhiều những công trình nghiên cứu, đánh giá về vấn đề này, nhất là những
công trình thuộc lĩnh vực chuyên ngành tâm lý học lãnh đạo, quản lý. Phần lớn
các công trình khoa học trên đợc triển khai trên các chuyên ngành khoa học
chủ yếu nghiên cứu trong điều kiện kinh tế thị trờng và sự hội nhập mang tính
khu vựcHơn nữa, hiện nay công tác nghiên cứu khoa học đang cần những
phơng pháp tiếp cận mới mang tính chất định lợng dự báo trong tổ chức
triển khai, do đó trong những nghiên cứu về đội ngũ cán bộ, công chức giai
đoạn hiện nay rất cần đợc triển khai từ góc độ tâm lý học lãnh đạo, quản lý
với tính chất là khoa học ứng dụng có u thế về phơng pháp chẩn đoán và
định lợng trong nghiên cứu khoa học.
Thứ ba Trớc thực tế phân tích khái quát trên, căn cứ vào tính cấp
thiết, vào mục tiêu và nội dung nghiên cứu của đề tài, chúng tôi cho rằng: nếu

9
đề tài đợc triển khai, sẽ có đợc những giá trị đóng góp nhất định đáp ứng yêu
cầu nghiên cứu khoa học - thực tiễn trong điều kiện hiện nay ở nớc ta.
3. Mục tiêu của đề tài
ti t chc nghiờn cu, trin khai trờn c s thc hin hai mc tiờu
t ra:

Thứ hai – Tổ chức nghiên cứu khảo sát thực trạng đời sống tâm lý, đặc
điểm tâm lý và những chuyển biến tâm lý của đội ngũ cán bộ, công chức thành
phố Hà Nội, Hải D
ương trong quá trình hội nhập quốc tế.
Thứ ba – Đề xuất các biện pháp và kiến nghị nhằm phát huy những yếu
tố tâm lý tích cực, khắc phục tâm lý tiêu cực phát sinh của sự chuyển biến tâm
lý trong quá trình hội nhập quốc tế của đội ngũ cán bộ, công chức thành phố
Hà Nội và Hải Dương đáp ứng yêu cầu thời kỳ phát triển mới – thời kỳ hội
nhập quố
c tế.
7. Phương pháp luận nghiên cứu
Trên cơ sở quan điểm duy vật khoa học và phương pháp biện chứng
mác xít – đề tài được tổ chức nghiên cứu bằng những phương pháp cụ thể:
Lịch sử - logic; Phân tích – tổng hợp; Phân tích văn bản; điều tra phiếu; quan
sát và phỏng vấn sâu…
8. Gỉa thuyết khoa học của vấn đề nghiên cứu
Chuyển biến tâm lý xã hội của đội ngũ
cán bộ, công chức trong bối cảnh
kinh tế - xã hội của nước ta nói chung, thành phố Hà Nội và Hải Dương nói
riêng vừa có tự giác, vừa có tự phát, bởi chịu sự tác động của thực tiễn hội
nhập quốc tế là xu hướng tất yếu, phản ánh quy luật khách quan.
Hội nhập quốc tế ở nước ta đang còn là vấn đề mới mẻ dẫn đến những
chuyển biế
n tâm lý trong đội ngũ cán bộ, công chức, đồng thời chúng có ảnh
hưởng nhất định đến thực tiễn công tác của đội ngũ cán bộ, công chức Hà Nội,
Hải Dương trên hai khía cạnh: tích cực và tiêu cực.


của con người. Đến lượt nó, tâm lý phản ánh thế giới khách quan thông qua
hành vi với nghĩa là bản chất của hành vi, điều hành các hành vi hoạt động của
con ngườ
i. Tâm lý là quá trình phản ánh tích cực, chủ động và sáng tạo của
con người.
Thứ ba – Nhận thức, tình cảm, ý chí là ba yếu tố cơ bản của tâm lý phản
ánh sự hiểu biết, thái độ và chí hướng hành động được biểu đạt qua lối sống,

12
nếp nghĩ và cách ứng xử hàng ngày. Nhận thức, tình cảm, ý chí có quan hệ
chặt chẽ với nhau trong tính độc lập tương đối giữa chúng, nhờ đó mà con
người chủ động trong quá trình thực hiện các mối quan hệ với tự nhiên với xã
hội và với chính bản thân mình, đồng thời khẳng định được vai trò khám phá
và chinh phục thế giới xung quanh con người.
Thông qua quá trình nhận thức, con người hình thành thế giới quan và
quan
điểm cho sự nhận biết bản chất các sự vật, hiện tượng trong đời sống tự
nhiên và xã hội. Hoạt động nhận thức bao gồm nhiều quá trình khác nhau: cảm
giác, tri giác, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng. Trí nhớ là giai đoạn quá độ giữa hai
quá trình nhận thức cảm tính và lý tính. Hai giai đoạn cảm tính và lý tính có
quan hệ chặt chẽ và tác động tương hỗ lẫn nhau trong quá trình nhận thức thế
giới khách quan,
nhận thức chân lý bởi con người. Đánh giá vai trò của nhận
thức trong tâm lý người, trong lý luận phản ánh - Lê Nin đã khái quát: “Từ
trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng đến thực tiễn – đó là con đường
biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức hiện thực khách quan”.
Nếu quá trình nhận thức phản ánh thế giới khách quan bằng các cảm
giác, tri giác, khái niệm, phán đoán, suy lý thì tình cảm l
ại phản ánh hiện thực
khách quan đó bằng các rung động và cách biểu cảm của “tâm hồn” được đo ở

về chân lý”.
Phân biệt khoa học về sự phản ánh thế giới khách quan của nhận thức và
tình cảm trong tâm lý người – ý chí phản ánh hiện thực khách quan bằng chí
hướng hành động hóa, thông qua các mức độ của sự nỗ lực và sự khắc phục
khó khăn của tâm lý, ý thức. “Là mặt năng động của tâm lý, ý thức - ý chí
biểu hiện ở năng lực thực hiện những hành động có mục
đích, đòi hỏi phải có
sự nỗ lực, khắc phục khó khăn”. Trong hành động tâm lý của con người, ý chí
giữ hai chức năng có liên quan với nhau, đó là chức năng kích thích và chức
năng kìm hãm. Chức năng kích thích được phản ánh ở chí khí nghị lực, khát
vọng, kiên trì và quyết tâm không sợ gian, khó…Chức năng kìm hãm thể hiện
ở sự thiếu kiên quyết, nản chí, thiếu kiên trì, nôn nóng, muốn “đốt cháy giai
đoạn”…Ý chí là phẩm chất tâm lý cá nhân và là mộ
t thuộc tính tâm lý của
nhân cách, thể hiện tính năng động của ý thức trong quá trình điều chỉnh hành
vi một cách tích cực nhất. Có được sự điều chỉnh hành vi một cách tích cực
trong hành động ý chí, bởi lẽ - ý chí đã kết được trong nó cả mặt năng động
của trí tuệ và cả mặt năng động của tình cảm đạo đức như I.M. Xêtrenôp đã
chỉ ra: “Ý chí – đó là mặt hành động củ
a trí tuệ và của tình cảm đạo đức”. Nhờ
ý chí, con người chuyển được từ nhận thức và rung động sang hoạt động thực

14
tiễn, biến đổi thực tại theo nhu cầu, dự định và lợi ích của mình. Nhờ ý chí,
con người tổ chức các hoạt động, điều khiển, điều chỉnh được hành vi của
mình. Người không có ý chí là người vô dụng. Con người có ý chí mạnh sẽ
thành công trong nhiều công việc.
Qúa trình tâm lý – từ sự tiếp nhận các tác động từ hiện thực khách
quan, quá trình tâm lý là sự phản ánh thế giới khách quan trên cơ sở có s
ự khởi

Khi ang cụng tỏc nc ngoi, trong trng thỏi tỡnh cm nh nh, con ngi
thng suy ngh v tng nh n nhng ngi thõn v nhng ký c ca mỡnh
khi quờ hng. Khi ú cỏc quỏ trỡnh tõm lý hin ti c din ra tng thớch
v h tr cho trng thỏi tõm lý ang nh nh.
Thuc tớnh tõm lý. Nhng phm cht tõm lý mang du hiu c trng,
bn cht cú tớnh
n nh, bn vng lm c s phõn bit tõm lý gia ngi ny
vi ngi khỏc. Thuc tớnh tõm lý hỡnh thnh trờn hai khớa cnh: sinh hc (do
di truyn) v do rốn luyn, tr thnh tp nhim, thúi quen ca mụi trng v
thõm niờn ngh nghip. thay i thuc tớnh tõm lý cn phi cú thi gian, s
kiờn trỡ v n lc phn u ca bn thõn. Trong tõm lý cỏ nhõn cú bn thuc
tớnh tõm lý c bn cú nh hng n chuyn bin tõm lý xó hi: Xu hng,
n
ng lc, tớnh cỏch, tớnh khớ.
- Xu hớng. Với nghĩa là sự lựa chọn giá trị cho con ngời hớng tới, thể
hiện và lấy đó làm lẽ sống, đợc biểu đạt qua: nhu cầu, hứng thú, thế giới
quan, lý tởng và niềm tin xu hớng l mt thuc tớnh tõm lý có ý nghĩa
quan trọng trong quá trình hình thành tâm lý ngời . Xu hớng là hớng sống
c thể hiện ở chiều hớng phấn đấu, mục tiêu phấn đấu của con ngời phản
ánh qua nhu cầu, hứng thú, thế giới quan, lý tởng, niềm tin. Do đó, vấn đề cốt
yếu của xu hớng trong hình thành tâm lý ngời là năng lực lựa chọn giá trị
trong sự phân biệt giữa các giá trị xã hội hiện nay: giá trị khách quan; giá trị
thừa nhận; giá trị ảo trong hệ thống giá trị thông qua các thang và các chuẩn
giá trị khác nhau của đời sống xã hội hiện thực. Một sự sai lệch trong lựa chọn
giá trị, tất yếu dẫn đến lệch chuẩn trong xu hớng phát triển tõm lý có ảnh
hởng bất lợi đến quá trình hình thành các phm chất tâm lý nhân cách.
- Năng lực. Là tổng hoà các phẩm chất tâm, sinh lý của mi con ngi
làm điều kiện chủ quan cho cá nhân đó thực hiện có kết quả một hoạt động
nhất định năng lực l mt thuc tớnh tõm lý biểu thị mức độ chất lợng và
xác định khả năng thực hiện các hoạt động của tâm lý ngời. Trong tâm lý

của cá nhân thì tính khí phản ánh cấu trúc tâm, sinh lý tự nhiên trong các
hoạt động và các mối quan hệ xã hội của con ngi. Tính khí chịu sự quy định
của cơ chế sinh học trong cấu tạo các kiểu hoạt động thần kinh cấp cao, do đó,
sự hình thành các phm cht c trng trong tâm lý ngời chịu sự ảnh hởng

17
khá bền vững của bốn kiểu tính khí: Nóng nảy; Hoạt bát; Điềm đạm; Ưu
tVà sự ảnh hởng này không chỉ tác động đến sự hình thành các phm cht
c trng trong tâm lý ngi mà ảnh hởng quan trọng hơn đến việc tạo vị thế
và hiệu quả hoạt động thc tin của con ngi đó. Tớnh khớ l s phn ỏnh cỏc
sc thỏi tõm lý t nhiờn, chu s quy nh ỏng k ca h thng phn x trong
cỏc kiu hot ng thn kinh, nờn khụng tuyt i cú tớnh khớ no xu, cng
nh khụng tuyt i cú tớnh khớ no tt. Vn l con ngi c
n c rốn
luyn, bit iu chnh tớnh khớ mt cỏch phự hp vi tng tỡnh hung, tng i
tng tip xỳc., phũng nhng quan nim thiu khỏch quan khi ỏnh giỏ tớnh
khớ ca nhau. Vớ d: Ngời cỏn b tớnh khớ nóng (thiu kim ch) thờng dễ
làm mất lòng mọi ngời; Ngời cỏn b tỏ ra quỏ hoạt bát, nhiều khi lại b
cho rằng không thật; Ngời cỏn b t ra điềm tĩnh lại dễ bị coi là thâm
trầm; Ngời cỏn b u t thờng bị coi là bạc nh
ợc
Qỳa trỡnh tõm lý, trng thỏi tõm lý v thuc tớnh tõm lý l ba hỡnh thc
v tớnh cht biu hin ca tõm lý con ngi, chỳng cú quan h cht ch vi
nhau trong quỏ trỡnh tip nhn cỏc tỏc ng ca th gii khỏch quan v l s
phn ỏnh th gii khỏch quan ca tõm lý ngi. Dn n s chuyn bin tõm
lý xó hi núi chung, thc cht l s bin i ca cỏc quỏ trỡnh tõm lý, cỏc trng
thỏi tõm lý v cỏc thuc tớnh tõm lý trong quỏ trỡnh tip nhn cỏc tỏc ng t
th gii khỏch quan v l s phn ỏnh th
gii khỏch quan ú ca con ngi.
Túm li, nghiờn cu tõm lý vi tớnh cỏch l mt khỏi nim trong phõn

ới các công dân khác. Con người chỉ có thể tồn tại, phát
triển và khẳng định được vai trò của mình, khi con người đó đặt trong một tập
hợp người với một môi trường xã hội nhất định và trong một không gian, thời
gian nhất định. Đó là quy luật “tự nhiên” của xã hội và với ý nghĩa đó, tâm lý
xã hội được phản ánh trên hai phương diện:
- Tính xã hội của tâm lý cá nhân với nghĩa là “tính người” là “bản chất
nhân cách” người xét đến cùng.
- Tâm lý xã hội là tâm lý của những nhóm xã hội cụ thể, bao gồm
những nét tâm lý chung nhất, đặc trưng nhất của nhóm được tạo nên từ sự tác
động qua lại giữa các cá nhân trong nhóm. Tất nhiên, tâm lý xã hội không phải
là cái tâm lý như là sản phẩm hoạt động của mỗi cá nhân dưới tác động của
hiện thực khách quan và càng không phải là cấp số cộng giản đơn của tâm lý
các cá nhân gộp lại.
Tâm lý xã hộ
i trong những phẩm chất tâm lý cá nhân được phản ánh
trên những phẩm chất tâm lý nhân cách và uy tín cá nhân.

19
Nhân cách. Là tổng hòa các phẩm chất tâm lý ổn định có ý nghĩa xã hội
của cá nhân quy định giá trị và hành vi xã hội của cá nhân đó – nhân cách
được quan niệm là hiện tượng tâm lý xã hội. Nếu “cá thể” được xác định là
một khái niệm chỉ một đơn vị người đại diện cho loài người trong sự phân biệt
với các loài động khác trong tự nhiên với nghĩa là một “thực thể sinh học xã
hội”, thì nhân cách là khái niệm chỉ b
ản chất xã hội của con người, là một
đơn vị người đại diện cho một người trong quan hệ xã hội “loài người” và với
nghĩa là chủ thể tham gia vào sự “cải biến” giới tự nhiên, xã hội và bản thân.
Nói bản chất xã hội trong tâm lý - nhân cách không có nghĩa phủ nhận “phần
sinh vật bản thể” của con người mà với nghĩa “phần bản thể sinh vật được xã
hội hóa” trong con người. Hay còn

là ĐỨC – TÀI. Và ưu thế
đó được phản ánh trong quan hệ xã hội hàng ngày
thông qua ngôn ngữ, cử chỉ, dáng điệu, tư thế, tác phong của cá nhân gây được
sự tín nhiệm của mọi người trong đời sống xã hội. Trong uy tín cá nhân, đạo
đức được thể hiện ở sự thống nhất giữa thái độ tính cách của cá nhân đó đối
với công việc, với xã hội và với các chuẩn mực đạo đức của xã hội. Cụ thể

sự đức độ - khiêm tốn, cầu thị, nhiệt huyết, biết sống vì mọi người, biết đặt lợi
ích của cá nhân trong lợi ích chung của tập thể và xã hội, đồng thời biết ảnh
hưởng để cùng mọi người thực hiện các chuẩn mực đạo đức xã hội như: Cần,
kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư…Trong uy tín cá nhân, tài năng được thể
hiện bằng kết quả hoạ
t động thực tiễn thông qua các nhóm năng lực cụ thể
như: Năng lực “tổ chức”, năng lực chuyên môn, năng lực trí tuệ và năng lực
ứng xử. Trong đời sống tâm lý xã hội – uy tín cá nhân là một hiện tượng tâm
lý xã hội tất yếu và mang tính lịch sử - xã hội. Uy tín là “phương tiện” không
thể thiếu nhằm giúp con người có được những vị thế trong thực hiện các mối
quan hệ xã hội. Uy tín cá nhân g
ắn với mỗi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã
hội và chịu sự quy định của mỗi lĩnh vực hoạt động xã hội đó. Ví dụ: Uy tín
đạo đức; uy tín khoa học; uy tín lãnh đạo…Để có được uy tín cá nhân, con
người phải không ngừng kiên trì phấn đấu trau dồi năng lực, tu dưỡng phẩm
chất đạo đức và rèn luyện bản lĩnh, phong cách làm việc trong thực tiễn, trong
quan hệ
xã hội, đồng thời thông qua các hiện tượng tâm lý xã hội khác.
Tâm lý nhóm. Tâm lý học xã hội nghiên cứu tâm lý xã hội thông qua
các nhóm xã hội. Đời sống xã hội thực chất là sự cấu thành của các nhóm xã
hội khác nhau. Tính đa dạng, sinh động và phức tạp của đời sống xã hội bắt
nguồn từ sự kết hợp giữa các nhóm xã hội, trong đó tâm lý các nhóm xã hội là
cơ sở của sự đa dạng, sinh động và phức t

là nhóm có tính pháp lý và là nhóm thành viên chính thức trong hệ thống chính
trị - xã hội. Ví dụ: Văn phòng sở kế hoạch và đầu tư thành phố Hà Nội; Vụ
quản lý khoa học – Học viện CT – HC QG…Nhóm không chính th
ức là các
nhóm được cố kết nhìn chung trên các dấu hiệu tâm lý xã hội khác…Ví dụ:
Nhóm bạn bè; Nhóm đồng hương; nhóm những thành viên có những sở thích
giống nhau: nhóm thích xem bóng đá… Cũng căn cứ vào tính chất hoạt động

22
của các loại nhóm nhỏ mà có các nhóm không chính thức như: Nhóm chuẩn,
nhóm quy chiếu, nhóm ước lệ, nhóm kín, nhóm mở…Đặc điểm tâm lý xã hội
của các nhóm nhỏ chính thức và không chính thức chịu sự ảnh hưởng về tính
chất và mục tiêu hoạt động của các loại nhóm đó mà hình thành. Ví dụ, đặc
điểm tâm lý của nhóm kín và các thành viên trong nhóm kín thường chứa
đựng những yếu tố tâm lý có tính tiêu cực, do chỗ tính chất và mục tiêu hoạt
động củ
a nhóm kín thường đối lập với mục tiêu, tính chất hoạt động của nhóm
chính thức, khi nhóm không chính thức đó đang là thành viên của nhóm chính
chính thức. Ngược lại đặc điểm tâm lý của các thành viên thuộc nhóm mở
thường có những yếu tố tâm lý tích cực, tiêu biểu với tính cách là tâm lý của
nhóm ưu trội, bởi lẽ, tuy chỉ là nhóm không chính thức, song tính chất và mục
tiêu hoạt động của nhóm có tính đồng thuận với nhóm chính thức và thường
đượ
c các thành viên trong nhóm chính thức tôn vinh như nhóm hạt nhân. Đặc
điểm tâm lý xã hội trong các nhóm nhỏ mang “cấu trúc kép” và thường phức
tạp hơn, do chỗ các thành viên tham gia vào nhóm nhỏ đều mang trong mình
đặc điểm tâm lý của một nhóm lớn nhất định nào đó và có quan hệ trực tiếp
với nhau nên chịu sự ảnh hưởng tâm lý của nhau. ví dụ: Thành viên A tham
gia vào nhóm B có thành phần xuất thân là người dân tộc Mường – tỉnh Hòa
Bình, thuộc giai cấp nông dân hiện đang làm công việc kế toán củ

sinh nhu cầu mới. Nhu cầu luôn biến đổi do sự biến đổi của thực tiễn xã hội.
Xã hội càng phát triển thì nhu cầu xã hội càng phong phú, sinh động và càng
phức tạp. Trong đời sống tâm lý xã hội, nhu cầu được phân loại thành: nhu cầu
vật chất (nhu cầu tự
nhiên) và nhu cầu tinh thần (Nhu cầu xã hội). Tùy thuộc
vào mức độ phát triển của các giá trị hưởng thụ mà nhu cầu được phân thành
trình độ khác nhau trên cơ sở tồn tại các nhu cầu tự nhiên, xã hội của mỗi cá
nhân và nhóm xã hội (Nhu cầu ăn, mặc, ở và các nhu cầu sinh lý khác; Nhu
cầu an toàn; Nhu cầu giao lưu xã hội; Nhu cầu đòi được mến mộ và nhu cầu tự
khẳng định). Ví dụ: “Ăn no, mặc ấm vớ
i ăn ngon, mặc đẹp” phản ánh hai trình
độ đòi thỏa mãn nhu cầu theo sự phát triển của các gía trị hưởng thụ phản ánh
hai mức độ hưởng thụ cao - thấp . Đặt trong mối quan hệ giữa khơi dậy nhu
cầu với giáo dục nhu cầu nhằm tạo động lực kích thích sự phát triển xã hội,
trong công tác quản lý xã hội, hướng tâm lý xã hội đến sự thỏa mãn nhu cầu ở
trình độ cao là y
ếu tố cần thiết cho sự kích thích động lực phát triển xã hội.
Tuy nhiên, trình độ hưởng hưởng thụ nhu cầu cũng cần đặt trong tính khách
quan của điều kiện kinh tế, văn hóa – xã hội nhất định.
Định hướng giá trị. “Định hướng giá trị là cơ sở tư tưởng chính trị, đạo
đức, thị hiếu, thẩm mỹ…dựa vào đó, chủ thể đánh giá hiện thự
c xung quanh

24
và định hướng vào hiện thực đó, là cách thức cá nhân phân loại các khách thể
theo các giá trị của chúng”. Gía trị, trước hết thuộc về khách quan và trở thành
cái có ý nghĩa cho con người trên mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội
khi con người đã ý thức được nó. Giá trị tồn tại trên mọi lĩnh vực đời sống xã
hội với nghĩa là kết tinh của sự lao động sáng tạo trong quá trình con ng
ười tác


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status