Những chuyển biến tâm lý xã hội của đội ngũ cán bộ, công
chức trong quá trình hội nhập, hợp tác kinh tế quốc tế qua
khảo sát một số tỉnh đồng bằng sông Hồng hiện nay
M U
1. Tớnh cp thit ca ti
y mnh cụng nghip húa, hin i húa nhm xõy dng xó hi theo
mc tiờu: Dõn giu, nc mnh, xó hi cụng bng, dõn ch, vn minh m
ng v Nhõn dõn ta ang tin hnh t nn kinh t th trng theo nh hng
xó hi ch ngha trong xu th hi nhp quc t hin nay, ang t i ng cỏn
b, cụng chc nc nh trc nhng c hi, nhng thun li mi, song cng
khụng ớt th thỏch, khú khn, phc tp. Cựng vi sc mnh ton dõn tc trong
tin trỡnh lch s xõy dng, bo v v phỏt trin t nc, ng v Nhõn dõn ta
luụn coi trng v t nim tin vo i ng cỏn b, cụng chc lc lng nũng
ct ca s nghip cỏch mng. Thc tin nhiu thp k qua v hin nay ó,
ang khng nh tm quan trng c bit ca i ng cỏn b, cụng chc nh
nc. í thc c vai trũ quan trng ca i ng cỏn b cỏn b, cụng chc
nh nc, gúp phn vo xõy dng thnh cụng ch ngha xó hi trong iu kin
hi nhp v hp tỏc quc t hụm nay, ng v chớnh ph ch trng tin hnh
cụng cuc ci cỏch hnh chớnh, trong ú ci cỏch cỏn b, cụng tỏc cỏn b l
mt trong bn trng im (B mỏy; th ch; cỏn b; ti chớnh cụng).
Nhn thc v quỏn trit sõu sc di hun ca ch tch H Chớ Minh: Cỏn
b l cỏi gc ca mi cụng vic; Muụn vic thnh cụng hay tht bi u do
cỏn b tt hay kộm, i ng cỏn b, cụng chc nc ta trong nhiu chc nm
qua ó cú nhng úng gúp ỏng k vo s nghip xõy dng xó hi theo nh
hng xó hi ch ngha m ng v Nhõn dõn ó giao phú. Khụng th khụng
tha nhn rng: trong nhng thnh tu kinh t - xó hi ó t c, nht l t
thi k i mi n nay nc ta, cú s úng gúp to ln ca i ng cỏn b,
cụng chc, trong ú c bit núi n tớnh tiờn phong, gng mu, luụn khụng
ngng phn u trau di nng lc, nõng cao phm cht, rốn luyn ý chớ, tỏc
1
phong làm việc đáp ứng yêu cầu thực tiễn mới là những nhân tố tâm lý đắc lực
và hình thành những tâm lý mới…Điều đó có ảnh hưởng nhất định đến quá
trình trau dồi năng lực, tu dưỡng phẩm chất, rèn luyện phong cách đáp ứng
yêu cầu thực tiễn hội nhập quốc tế của đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước.
Trong những nghiên cứu gần đây về xu hướng chuyển biến tâm lý xã
hội nói chung, đội ngũ cán bộ, công chức nói riêng, ý nghĩa cần thiết không
phải chỉ xác định những tác động của môi trường khách quan, mà quan trọng
hơn là cần phải nhận diện đúng nguyên nhân, và tính chất biểu hiện của diễn
biến tâm lý trước sự tác động của môi trường ngoại cảnh đó. Trước những
chuyển biến tâm lý xã hội theo hướng tích cực của đội ngũ cán bộ, công chức
hiện nay, còn có những đặc điểm tâm lý đã “định hình” là do hoặc từ sự “hoài
niệm truyền thống như một giá trị”, hoặc do thói quen, kinh nghiệm làm ảnh
hưởng nhất định đến quá trình công tác của họ trước những yêu cầu thực tiễn
trong thời kỳ hội nhập quốc tế. Bên cạnh đó, trong đời sống tâm lý đội ngũ cán
bộ, công chức nhà nước cũng đang bộc lộ những biểu hiện tâm lý xã hội mới
do sự tác động của hội nhập quốc tế mà được hình thành trên hai khía cạnh: tự
phát và tự giác. Sự chuyển biến và hình thành tâm lý mới một cách tự phát
nghĩa là: từ những quan sát, nhận thấy được và lĩnh hội do tiếp xúc trực tiếp
với những diễn biến hàng ngày của thực tiễn hội nhập. Sự chuyển biến và hình
thành tâm lý mới theo hướng tự giác nghĩa là tính chủ động của quá trình
chính trị thông qua các hệ thống giáo dục, đào tạo và các “kênh” truyền thông
đại chúng có tổ chức. Sự chuyển biến tâm lý xã hội mang tính tự phát và tự
giác này cũng có những biểu hiện tâm lý tích cực và tiêu cực. Xu hướng
chuyển biến tâm lý xã hội như đã khái quát là vấn đề có tính quy luật tâm lý xã
hội với nghĩa là sự phản ánh khách quan trên cơ sở hiện thực xã hội và chịu sự
quy định của thực tiễn xã hội trong xu thế phát triển tất yếu của hiện thực.
Trong những chuyển biến tâm lý xã hội chung đó, đội ngũ cán bộ, công
chức thành phố Hà Nội và Hải Dương chịu sự ảnh hưởng đáng kể, trước hết từ
tính chất, vị thế và bối cảnh tự nhiên – xã hội trước tiến trình hội nhập, đặc
biệt là thành phố Hà Nội. Qua quan sát, nghiên cứu thực tế cho thấy: Hà Nội
và Hải Dương từ khi hội nhập có những phát triển khá mạnh và toàn diện trên
tác dụng ảnh hưởng của nó đối với hoạt động thực tiễn của đội ngũ cán bộ,
4
cụng chc nh nc trong s nghip xó hi ta hin nay. ti: Nhng
chuyn bin tõm lý xó hi ca i ng cỏn b, cụng chc thnh ph H Ni
v Hi Dng trong quỏ trỡnh hi nhp quc t hin nay c la chn
nghiờn cu trc ht t nhng yờu cu cp thit ú.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Liên quan đến đề tài, đã có nhiều công trình, nhiều bài viết đợc các tác
giả nghiên cứu, đề cập trên các dạng: Công trình đề tài khoa học; Sách tham
khảo, chuyên khảo, luận án; luận văn; tham luận hội thảo, tạp chí Trong quá
trình su tầm, tham khảo chúng tôi nhận thấy có thể phân thành ba nhóm vấn đề
nghiên cứu chính:
1) Nghiên cứu những tác động đến sự hình thành, phát triển và biến đổi
tâm lý ngời Việt và đội ngũ cán bộ, công chức Việt Nam từ các điều kiện khách
quan. Đó là các điều kiện tự nhiên - xã hội bao gồm các yếu tố nh: địa lý; kinh
tế; chính trị; văn hoá; truyền thống xã hội nói chung, vùng đồng bằng sông
Hồng nói riêng. Tiêu biểu trong nhóm nghiên cứu này có các tác giả: Phan Huy
Lê Vũ Minh Giang: Các giá trị truyền thống và con ngời Việt Nam hiện nay.
(1994); Nguyễn Chí Mỳ. Sự biến đổi của thang giá trị đạo đức trong nền kinh tế
thị trờng với việc xây dựng đạo đức mới cho cán bộ quản lý ở nớc ta hiện nay.
(1997) Trần Đình Hựu: Đến hiện đại từ truyền thống (1998); Phan Ngọc: Văn
hoá Việt nam và cách tiếp cận mới.(1998); Phan Đại Doãn Mai Văn Hai:
Quan hệ dòng họ ở châu thổ sông Hồng. 2000. Trần Đức: Nền văn minh sông
Hồng xa và nay (1997); Tô Duy Hợp: Sự biến đổi làng xã Việt Nam ngày nay ở
đồng bằng sông Hồng. (2001). Nguyễn Thế Kiệt: Vai trò của những điều kiện
khách/chủ quan trong việc xây dựng con ngời mới thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội ở nớc ta. (1998). Nguyễn Công Huân(LATS): T tởng Hồ Chí Minh về con
ngời với việc phát huy nhân tố Con ngời trong CNH,HĐH ở Việt Nam hiện nay.
(2001). Nguyễn văn Nhớn(LATS): ảnh hởng chính sách xã hội đối với việc
nâng cao vai trò nhân tố con ngời trong sự nghiệp đổi mới theo định hớng
nớc. (2003); Nguyễn Linh Khiếu. Con ngời và vấn đề phát triển bền vững ở Việt
Nam. (2003); Phạm Văn Đức. Thực trạng nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay.
(2000); Đặng Hữu Toàn. Gắn phát triển con ngời Việt Nam hiện đại với giữ gìn
và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc. (2000); Nguyễn Văn Huyên. Giáo dục
nhân cách vì sự phát triển con ngời Việt Nam. (1999);Vũ Anh Tuấn. Tính cách
6
ngời Việt Nam với quá trình hội nhập Asean (T/C TLH 2004); Nguyễn Hồi
Loan. Một số đặc điểm tâm lý của ngời nông dân Việt Nam ảnh hởng tiêu cực
đến quá trình hội nhập kinh tế (2005); Nguyễn Ngọc Phú. Bàn về chuẩn mực đạo
đức chủ yếu của con ngời Việt Nam hiện nay (2007)
3) Nghiên cứu ảnh hởng tâm lý, các phẩm chất tâm lý và những biến đổi
tâm lý của đội ngũ cán bộ, công chức trên các lĩnh vực hoạt động đời sống xã
hội. Trong nhóm nghiên cứu này, tiêu biểu có các tác giả nh: Lê Hữu Xanh (Chủ
biên). ảnh hởng tiêu cực của tâm lý tiểu nông đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý
doanh nghiệp nhà nớc (2005); Bùi Văn Nhơn. Các giải pháp nhằm xây dựng đội
ngũ công chức hành chính nhà nớc trong giai đoạn hiện nay (2005); Lơng Trọng
Yên. Xây dựng và đổi mới đội ngũ công chức hành chính nhà nớc (1993);
Nguyễn Chí Mỳ. Sự biến đổi các thang giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trờng
với việc xây dựng đạo đức mới cho cán bộ quản lý ở nớc ta hiện nay (1997); Lê
Hữu Xanh. Những yếu tố tâm lý của cán bộ, công chức đang cản trở chơng trình
cải cách hành chính ở đồng bằng sông Hồng (2007). Trần Xuân Sầm. Xác định
tiêu chuẩn và cơ cấu cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị đổi mới (1998);
Nguyễn Phú Trọng Trần Xuân Sầm (chủ biên). Luận cứ khoa học của việc
nâng cao chất lợng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH (2001);
Vũ Anh Tuấn. ảnh hởng những yếu tổ tâm lý của đội ngũ cán bộ, công chức
đến cải cách hành chính ở một số tỉnh đồng bằng sông Hồng thực trạng và
giải pháp (2006). Nguyễn Thị Tuyết Mai (chủ biên). Nâng cao năng lực tổ chức
thực tiễn của cán bộ chủ chốt cấp xã - qua khảo sát ở đồng bằng sông Hồng
(2007); Trần hơng Thanh. Tính tích cực lao động của đội ngũ cán bộ, công chức
hành chính ở nớc ta hiện nay qua khảo sát các tỉnh trung du bắc bộ (2007);
nghiên cứu trong điều kiện kinh tế thị trờng và sự hội nhập mang tính khu vực
Hơn nữa, hiện nay công tác nghiên cứu khoa học đang cần những phơng pháp
tiếp cận mới mang tính chất định lợng dự báo trong tổ chức triển khai, do đó
trong những nghiên cứu về đội ngũ cán bộ, công chức giai đoạn hiện nay rất cần
đợc triển khai từ góc độ tâm lý học lãnh đạo, quản lý với tính chất là khoa học
ứng dụng có u thế về phơng pháp chẩn đoán và định lợng trong nghiên cứu
khoa học.
Thứ ba Trớc thực tế phân tích khái quát trên, căn cứ vào tính cấp thiết,
vào mục tiêu và nội dung nghiên cứu của đề tài, chúng tôi cho rằng: nếu đề tài đ-
8
ợc triển khai, sẽ có đợc những giá trị đóng góp nhất định đáp ứng yêu cầu
nghiên cứu khoa học - thực tiễn trong điều kiện hiện nay ở nớc ta.
3. Mục tiêu của đề tài
ti t chc nghiờn cu, trin khai trờn c s thc hin hai mc tiờu
t ra:
Thứ nhất Nghiên cứu, phân tích hiện trạng đời sống tâm lý những
đặc điểm, phẩm chất và những chuyển biến tâm lý của đội ngũ cán bộ, công
chức thnh ph H Ni v Hi Dng trong quá trình tham gia hội nhập quốc
tế ở nớc ta hiện nay.
Thứ hai - Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị từ góc độ tâm lý học lãnh
đạo, quản lý góp phần khơi dậy và phát huy những phẩm chất tâm lý tích cực,
đồng thời chỉ ra những biện pháp khắc phục, hạn chế những phát sinh tâm lý tiêu
cực trong quá trình chuyển biến tâm lý xã hội của đội ngũ cán bộ, công chức
thnh ph H Ni v Hi Dng trớc xu thế hội nhập quốc tế nhằm thực hiện
đúng quan điểm chỉ đạo của Đảng ta về xây dựng đội ngũ cán bộ, cụng chc
đáp ứng yêu cầu thực tiễn mới đang đặt ra.
4. i tng nghiờn cu ca ti.
Nghiờn cu nhng chuyn bin tõm lý xó hi ca i ng cỏn b, cụng
chc nh nc trong quỏ trỡnh hi nhp quc t.
5. Khỏch th v phm vi nghiờn cu ca ti.
Hội nhập quốc tế ở nước ta đang còn là vấn đề mới mẻ dẫn đến những
chuyển biến tâm lý trong đội ngũ cán bộ, công chức, đồng thời chúng có ảnh
hưởng nhất định đến thực tiễn công tác của đội ngũ cán bộ, công chức Hà Nội,
Hải Dương trên hai khía cạnh: tích cực và tiêu cực.
10
Chương I
TÂM LÝ XÃ HỘI, CHUYỂN BIẾN TÂM LÝ XÃ HỘI
– NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
1.I. Khái niệm công cụ
- Tâm lý: Là khái niệm tổng quát để chỉ tất cả những chức năng, quá
trình, trạng thái nội tâm của con người mà cơ sở của nó là quá trình hoạt động
của hệ sinh lý thần kinh cấp cao trong quá trình tiếp nhận và phản ánh thế giới
khách quan của con người thông qua hành vi và điều hành các hành vi hoạt
động của con người. Có thể hiểu khái niệm tâm lý trên ba khía cạnh:
Thứ nhất – Là những chức năng, quá trình, trạng thái bên trong của con
người, tâm lý có cơ sở là hoạt động của hệ sinh lý thần kinh cấp cao của con
người. Trong đời sống tự nhiên – xã hội, mỗi con người có cấu tạo sinh học và
các kiểu hoạt động sinh lý thần kinh khác nhau, phản ánh nét đặc trưng quy
định sự hình thành tâm lý của con người nhằm phân biệt với tâm lý của con
người khác. Điều đó cho thấy: tâm lý con người trong xã hội luôn tồn tại và
phát triển một cách phong phú, sinh động, đa dạng và phức tạp. không có tâm
lý người nào giống người nào (kể cả những trường hợp sinh đôi cùng trứng).
Do đó, sự chuyển biến tâm lý trong mỗi con người cũng khác nhau.
Thứ hai – Tâm lý là sự phản ánh thế giới khách quan của con người
được biểu đạt qua hành vi và điều hành các hành vi, hoạt động của con người.
Tâm lý là quá trình tiếp nhận các tác động từ thế giới khách quan vào óc người
và là sự phản ánh thế giới khách quan đó bởi con người. Thông qua hoạt động
nói chung, hoạt động thực tiễn nói riêng, tâm lý được hình thành và củng cố
với nghĩa là quá trình “biến” các tri thức khách quan thành tri thức chủ quan
của con người. Đến lượt nó, tâm lý phản ánh thế giới khách quan thông qua
cảm là cung bậc cao của sự phát triển các quá trình xúc cảm trong những điều
kiện xã hội. Xúc cảm và tình cảm thể hiện trong đời sống con người trên cả
hai mặt: sinh lý và tâm lý. Xúc cảm và tình cảm phản ánh trên hai cấp độ trạng
thái rung động khác nhau: Xúc cảm là các rung động bị chi phối bởi các yếu tố
sinh lý, bản năng, nên mạnh mẽ song thiếu tính ổn định hơn so với tình cảm.
Tình cảm là những rung động mang tính xã hội cao, phản ánh những đặc
12
trưng: tính nhận thức, tính xã hội, tính khái quát, tính ổn định và tính đối cực.
Cao hơn xúc cảm, trong tâm lý xã hội, tình cảm xã hội được thể hiện qua các
cấp độ cao, thấp khác nhau: Tình cảm cấp thấp là tình cảm có liên quan đến sự
thỏa mãn hay không thỏa mãn những nhu cầu mang tính sinh lý. Chúng có ý
nghĩa sinh học to lớn trong việc “báo hiệu” cho con người biết mức độ trạng
thái cơ thể của mình. Tình cảm cấp cao liên quan đến thỏa mãn nhu cầu tinh
thần xã hội: tình cảm đạo đức; tình cảm trí tuệ; tình cảm thẩm mỹ…Trên cơ sở
các xúc cảm được động hình hóa và khái quát hóa – tình cảm có vai trò đặc
biệt quan trọng của tâm lý trong quá trình tiếp nhận và phản ánh thế giới khách
quan. Đánh giá vai trò của cảm xúc, tình cảm trong đời sống xã hội của con
người, Lê Nin: “ Nếu không có những cảm xúc của con người” thì trước đây,
hiện nay và sau này sẽ không có và không thể có sự tìm kiếm của con người
về chân lý”.
Phân biệt khoa học về sự phản ánh thế giới khách quan của nhận thức
và tình cảm trong tâm lý người – ý chí phản ánh hiện thực khách quan bằng
chí hướng hành động hóa, thông qua các mức độ của sự nỗ lực và sự khắc
phục khó khăn của tâm lý, ý thức. “Là mặt năng động của tâm lý, ý thức - ý
chí biểu hiện ở năng lực thực hiện những hành động có mục đích, đòi hỏi phải
có sự nỗ lực, khắc phục khó khăn”. Trong hành động tâm lý của con người, ý
chí giữ hai chức năng có liên quan với nhau, đó là chức năng kích thích và
chức năng kìm hãm. Chức năng kích thích được phản ánh ở chí khí nghị lực,
khát vọng, kiên trì và quyết tâm không sợ gian, khó…Chức năng kìm hãm thể
hiện ở sự thiếu kiên quyết, nản chí, thiếu kiên trì, nôn nóng, muốn “đốt cháy
Trạng thái tâm lý. Trên cơ sở tác động lẫn nhau của các quá trình tâm
lý, hoặc sự lặp đi lặp lại của quá trình tâm lý mà xuất hiện các trạng thái tâm
lý thể hiện các mức độ tiếp nhận thông tin từ các quá trình tâm lý. Trạng thái
tâm lý diễn ra thường không rõ lúc mở đầu và khi kết thúc được phản ảnh trên
ba yếu tố: Trạng thái nhận thức: Tập trung, chú ý hay sự phân tán tư duy…
Trạng thái tình cảm: Phấn chấn, vui sướng hay lo âu, buồn phiền.., Trạng thái
ý chí: quyết tâm, kiên trì hay hoang mang, dao động, nản chí…So với quá
trình tâm lý, thời gian tồn tại của trạng thái tâm lý kéo dài hơn, có tính ổn định
14
hn, qua ú tr thnh nn cho s hỡnh thnh cỏc quỏ trỡnh tõm lý tng
thớch. Vớ d: Khi ang cụng tỏc nc ngoi, trong trng thỏi tỡnh cm nh
nh, con ngi thng suy ngh v tng nh n nhng ngi thõn v nhng
ký c ca mỡnh khi quờ hng. Khi ú cỏc quỏ trỡnh tõm lý hin ti c
din ra tng thớch v h tr cho trng thỏi tõm lý ang nh nh.
Thuc tớnh tõm lý. Nhng phm cht tõm lý mang du hiu c trng,
bn cht cú tớnh n nh, bn vng lm c s phõn bit tõm lý gia ngi ny
vi ngi khỏc. Thuc tớnh tõm lý hỡnh thnh trờn hai khớa cnh: sinh hc (do
di truyn) v do rốn luyn, tr thnh tp nhim, thúi quen ca mụi trng v
thõm niờn ngh nghip. thay i thuc tớnh tõm lý cn phi cú thi gian, s
kiờn trỡ v n lc phn u ca bn thõn. Trong tõm lý cỏ nhõn cú bn thuc
tớnh tõm lý c bn cú nh hng n chuyn bin tõm lý xó hi: Xu hng,
nng lc, tớnh cỏch, tớnh khớ.
- Xu hớng. Với nghĩa là sự lựa chọn giá trị cho con ngời hớng tới, thể hiện
và lấy đó làm lẽ sống, đợc biểu đạt qua: nhu cầu, hứng thú, thế giới quan, lý t-
ởng và niềm tin xu hớng l mt thuc tớnh tõm lý có ý nghĩa quan trọng
trong quá trình hình thành tâm lý ngời . Xu hớng là hớng sống c thể hiện ở
chiều hớng phấn đấu, mục tiêu phấn đấu của con ngời phản ánh qua nhu cầu,
hứng thú, thế giới quan, lý tởng, niềm tin. Do đó, vấn đề cốt yếu của xu hớng
trong hình thành tâm lý ngời là năng lực lựa chọn giá trị trong sự phân biệt giữa
các giá trị xã hội hiện nay: giá trị khách quan; giá trị thừa nhận; giá trị ảo
sự nỗ lực, quyết tâm vợt khó để hoàn thành nhiệm vụ và mục tiêu đặt ra. Do đó,
hình thành các tố chất nói chung, tính cách đợc quan niệm nh bộ mặt tâm lý
đạo đức - xã hội của con ngi
- Tính khí. Nếu tính cách biểu lộ thái , đạo đức, ý chí qua hành vi, ngôn
ngữ, cử chỉ thì tính khí l mt thuc tớnh tõm lý biểu lộ qua hành vi, ngôn ngữ,
cử chỉ bằng các sắc thái: Mạnh, yếu; Nhanh, chậm; cân bằng, linh hoạt về các
phản ứng tâm lý của con ngi. Nếu tính cách thể hiện mặt xã hội của cá nhân
thì tính khí phản ánh cấu trúc tâm, sinh lý tự nhiên trong các hoạt động và các
mối quan hệ xã hội của con ngi. Tính khí chịu sự quy định của cơ chế sinh
học trong cấu tạo các kiểu hoạt động thần kinh cấp cao, do đó, sự hình thành các
16
phm cht c trng trong tâm lý ngời chịu sự ảnh hởng khá bền vững của
bốn kiểu tính khí: Nóng nảy; Hoạt bát; Điềm đạm; Ưu t Và sự ảnh h ởng này
không chỉ tác động đến sự hình thành các phm cht c trng trong tâm lý
ngi mà ảnh hởng quan trọng hơn đến việc tạo vị thế và hiệu quả hoạt động
thc tin của con ngi đó. Tớnh khớ l s phn ỏnh cỏc sc thỏi tõm lý t
nhiờn, chu s quy nh ỏng k ca h thng phn x trong cỏc kiu hot
ng thn kinh, nờn khụng tuyt i cú tớnh khớ no xu, cng nh khụng tuyt
i cú tớnh khớ no tt. Vn l con ngi cn c rốn luyn, bit iu
chnh tớnh khớ mt cỏch phự hp vi tng tỡnh hung, tng i tng tip xỳc.,
phũng nhng quan nim thiu khỏch quan khi ỏnh giỏ tớnh khớ ca nhau.
Vớ d: Ngời cỏn b tớnh khớ nóng (thiu kim ch) thờng dễ làm mất lòng
mọi ngời; Ngời cỏn b tỏ ra quỏ hoạt bát, nhiều khi lại b cho rằng không thật;
Ngời cỏn b t ra điềm tĩnh lại dễ bị coi là thâm trầm; Ngời cỏn b u t thờng
bị coi là bạc nhợc
Qỳa trỡnh tõm lý, trng thỏi tõm lý v thuc tớnh tõm lý l ba hỡnh thc
v tớnh cht biu hin ca tõm lý con ngi, chỳng cú quan h cht ch vi
nhau trong quỏ trỡnh tip nhn cỏc tỏc ng ca th gii khỏch quan v l s
phn ỏnh th gii khỏch quan ca tõm lý ngi. Dn n s chuyn bin tõm
lý xó hi núi chung, thc cht l s bin i ca cỏc quỏ trỡnh tõm lý, cỏc trng
hợp người với một môi trường xã hội nhất định và trong một không gian, thời
gian nhất định. Đó là quy luật “tự nhiên” của xã hội và với ý nghĩa đó, tâm lý
xã hội được phản ánh trên hai phương diện:
- Tính xã hội của tâm lý cá nhân với nghĩa là “tính người” là “bản chất
nhân cách” người xét đến cùng.
- Tâm lý xã hội là tâm lý của những nhóm xã hội cụ thể, bao gồm
những nét tâm lý chung nhất, đặc trưng nhất của nhóm được tạo nên từ sự tác
động qua lại giữa các cá nhân trong nhóm. Tất nhiên, tâm lý xã hội không phải
là cái tâm lý như là sản phẩm hoạt động của mỗi cá nhân dưới tác động của
hiện thực khách quan và càng không phải là cấp số cộng giản đơn của tâm lý
các cá nhân gộp lại.
18
Tâm lý xã hội trong những phẩm chất tâm lý cá nhân được phản ánh
trên những phẩm chất tâm lý nhân cách và uy tín cá nhân.
Nhân cách. Là tổng hòa các phẩm chất tâm lý ổn định có ý nghĩa xã hội
của cá nhân quy định giá trị và hành vi xã hội của cá nhân đó – nhân cách
được quan niệm là hiện tượng tâm lý xã hội. Nếu “cá thể” được xác định là
một khái niệm chỉ một đơn vị người đại diện cho loài người trong sự phân biệt
với các loài động khác trong tự nhiên với nghĩa là một “thực thể sinh học xã
hội”, thì nhân cách là khái niệm chỉ bản chất xã hội của con người, là một
đơn vị người đại diện cho một người trong quan hệ xã hội “loài người” và với
nghĩa là chủ thể tham gia vào sự “cải biến” giới tự nhiên, xã hội và bản thân.
Nói bản chất xã hội trong tâm lý - nhân cách không có nghĩa phủ nhận “phần
sinh vật bản thể” của con người mà với nghĩa “phần bản thể sinh vật được xã
hội hóa” trong con người. Hay còn được xã hội quan niệm là “phần tính
người” nhiều hơn “tính con” trong khái niệm CON NGƯỜI. Nhân cách là một
hiện tượng tâm lý xã hội nghĩa là nhân cách chỉ được hình thành trong quan hệ
xã hội, thông qua quan hệ xã hội với ba khía cạnh cơ bản:
+ Con người được tự nhiên sinh ra, còn nhân cách thì không tự nhiên
sinh ra mà được hình thành lên.
như: Năng lực “tổ chức”, năng lực chuyên môn, năng lực trí tuệ và năng lực
ứng xử. Trong đời sống tâm lý xã hội – uy tín cá nhân là một hiện tượng tâm
lý xã hội tất yếu và mang tính lịch sử - xã hội. Uy tín là “phương tiện” không
thể thiếu nhằm giúp con người có được những vị thế trong thực hiện các mối
quan hệ xã hội. Uy tín cá nhân gắn với mỗi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã
hội và chịu sự quy định của mỗi lĩnh vực hoạt động xã hội đó. Ví dụ: Uy tín
đạo đức; uy tín khoa học; uy tín lãnh đạo…Để có được uy tín cá nhân, con
người phải không ngừng kiên trì phấn đấu trau dồi năng lực, tu dưỡng phẩm
chất đạo đức và rèn luyện bản lĩnh, phong cách làm việc trong thực tiễn, trong
quan hệ xã hội, đồng thời thông qua các hiện tượng tâm lý xã hội khác.
Tâm lý nhóm. Tâm lý học xã hội nghiên cứu tâm lý xã hội thông qua
các nhóm xã hội. Đời sống xã hội thực chất là sự cấu thành của các nhóm xã
20
hội khác nhau. Tính đa dạng, sinh động và phức tạp của đời sống xã hội bắt
nguồn từ sự kết hợp giữa các nhóm xã hội, trong đó tâm lý các nhóm xã hội là
cơ sở của sự đa dạng, sinh động và phức tạp đó. Trong đời sống xã hội, có bao
nhiêu nhóm xã hội thì có bấy nhiêu tâm lý nhóm xã hội tương ứng. Cơ sở
khách quan của sự hình thành tâm lý nhóm xã hội là hình thức cố kết, tính mục
đích, quy mô và số lượng người tham gia cùng quá trình hoạt động của các
nhóm xã hội. Khi có sự thay đổi về môi trường ngoại cảnh, về điều kiện khách
quan, về tính chất và mục tiêu hoạt động của nhóm khi đó tâm lý nhóm có sự
thay đổi theo. Sự thay đổi của tâm lý nhóm ảnh hưởng đến sự chuyển đổi tâm
lý của các thành viên trong nhóm và ngược lại. Căn cứ vào phạm vi, quy mô
hoạt động, vào số lượng người tham gia và vào tính chất quan hệ giữa các
thành viên tham gia mà tâm lý học phân ra thành các nhóm xã hội khác nhau,
với các đặc điểm tâm lý nhóm xã hội khác nhau. Tâm lý các nhóm xã hội được
khái quát trên các loại nhóm khác nhau như: Nhóm lớn và nhóm nhỏ; Nhóm
chính thức và nhóm không chính thức…Tính cố kết từ các dấu hiệu lãnh thổ,
giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp và các yếu tố chính trị xã hội khác và tính chất
quan hệ mang tính gián tiếp giữa các thành viên tham gia mà hình thành tâm
điểm tâm lý xã hội trong các nhóm nhỏ mang “cấu trúc kép” và thường phức
tạp hơn, do chỗ các thành viên tham gia vào nhóm nhỏ đều mang trong mình
đặc điểm tâm lý của một nhóm lớn nhất định nào đó và có quan hệ trực tiếp
với nhau nên chịu sự ảnh hưởng tâm lý của nhau. ví dụ: Thành viên A tham
gia vào nhóm B có thành phần xuất thân là người dân tộc Mường – tỉnh Hòa
Bình, thuộc giai cấp nông dân hiện đang làm công việc kế toán của trường đại
học X. Như vậy trong con người anh A có đặc điểm tâm lý của người nông
dân Mường tỉnh Hòa Bình, đồng thời chịu sự ảnh hưởng tâm lý nghề kế toán
trong môi trường đào tạo. Do đó, những chuyển biến tâm lý xã hội trước sự tác
động của hội nhập quốc tế ở nhóm B có biểu hiện khác với các nhóm khác
trong đời sống tâm lý xã hội.
Các hiện tượng tâm lý xã hội. Là sự biểu hiện của nhận thức, tình cảm,
ý chí trong mối cá nhân và các nhóm xã hội được hình thành và phản ánh các
mối quan hệ xã hội của con người trong các điều kiện kinh tế - xã hội nhất
22
định – hiện tượng tâm lý xã hội phản ánh rõ nét nhất trong sự chuyển biến tâm
lý xã hội trước tác động của quá trình hội nhập quốc tế. Các hiện tượng tâm lý
đó là: Nhu cầu xã hội; Dư luận xã hội; Bầu không khí tâm lý xã hội; Truyền
thống của các nhóm xã hội và các định hướng giá trị xã hội. Trong quan hệ xã
hội và công tác hàng ngày của đội ngũ cán bộ, công chức, các hiện tượng tâm
lý xã hội đó thường được thể hiện qua: nhận thức, thái độ, hành vi.
Nhu cầu xã hội. Là những điều cần thiết mà con người đòi được thỏa
mãn để tồn tại và phát triển – nhu cầu xã hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
đối với sự chuyển biến tâm lý xã hội trước các tác động của môi trường và
điều kiện sống.Trong tâm lý mỗi cá nhân và các nhóm xã hội luôn tồn tại một
hệ thống nhu cầu: có nhu cầu cá nhân, nhu cầu tập thể và xã hội; có nhu cầu cơ
bản, thiết yếu, cũng có nhu cầu thứ yếu, giả tạo; có nhu cầu ở trình độ cao và
nhu cầu trình độ thấp…khi thì hòa hợp, khi thì mâu thuẫn. Nhu cầu nào nổi lên
đòi thỏa mãn sẽ lấn át các nhu cầu khác, tạo thành động lực kích thích con
người hành động. Khi được thỏa mãn, nhu cầu đó bị dập tắt, đồng thời nảy
+ Bối cảnh kinh tế - xã hội trong những điều kiện, hoàn cảnh lịch sử xã
hội nhất định.
+ Năng lực đánh giá, lựa chọn của chủ thể.
Năng lực đánh giá, lựa chọn giá trị để chủ thể định hướng được nhận
diện cụ thể trên các hệ giá trị xã hội, trong đó thể hiện năng lực phân tích các
thang giá trị xã hội, đồng thời xác định được chuẩn mực giá trị xã hội đó.
Năng lực định hướng giá trị con được phản ánh qua khả năng phân biệt các giá
trị đang tồn tại trong đời sống xã hội với các mức độ biểu hiện khác nhau: Gía
trị thực; giá trị thừa nhận và giá trị ảo.
Định hướng giá trị đặt trong giáo dục giá trị và chuyển đổi giá trị là vấn
đề cần quan tâm, coi trọng. Là một hiện tượng tâm lý xã hội – định hướng giá
trị được hình thành thông qua hoạt động thực tiễn cùng với quá trình tiếp nhận
các tác động từ xã hội hiện thực và phản ánh hiện thực xã hội đó của con
người. Do đó, khi có sự thay đổi về kinh tế, chính trị trong đời sống xã hội
hiện thực dẫn đến các giá trị xã hội thay đổi theo, tác động đến các định hướng
24
giá trị xã hội trong mỗi chủ thể. Ví dụ: Từ quản lý kinh tế - xã hội theo cơ chế
hành chính, bao cấp sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước thì
trong tâm lý xã hội có sự chuyển đổi từ coi trọng các giá trị đạo đức sang cùng
các giá trị đạo đức, các giá trị kinh tế được đề cao hơn. Hay khi xã hội trong
xu thế hội nhập quốc tế, thì không chỉ đề cao giá trị giai cấp mà giá trị nhân
loại và độc lập dân tộc là những giá trị được coi trọng trong tâm lý xã hội. Với
ý nghĩa đó, trong định hướng giá trị, giáo dục giá trị là công việc thường
xuyên cần quan tâm, coi trọng.
Dư luận xã hội. Là một hiện tượng tâm lý xã hội – dư luận xã hội được
quan niệm là hình thức biểu hiện tâm trạng, sự phán xét, đánh giá và là sự
đồng tình của mọi người về một vấn đề nào đó có liên quan đến đời sống của
họ. Trong những chuyển biến tâm lý xã hội cần phân biệt ảnh hưởng của dư
luận xã hội và phân biệt dư luận xã hội với tin đồn. Cơ sở lý luận của sự phân
biệt dư luận xã hội với tin đồn phản ánh trên ba vấn đề cơ bản: