BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
PHẠM THỊ THANH NGA
NGUYÊN TẮC CHỨNG MINH
TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số: 60.38.01.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Minh Hằng
HÀ NỘI- 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
nêu trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa
từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
XÁC NHẬN CỦA GIẢNG VIÊN
GIẢNG DẠY
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
PGS. TS. NGUYỄN MINH HẰNG
:
:
:
:
:
:
Bộ luật Tố tụng dân sự
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
Hội đồng xét xử
Kiểm sát viên
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự
năm 1989
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế
năm 1994
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp
lao động năm 1996
Tòa án nhân dân cấp cao
Tòa án nhân dân tối cao
Tố tụng dân sự
Tố tụng hình sự
Vụ án dân sự
Vụ việc dân sự
Viện kiểm sát
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
PHỤ LỤC
1
9
9
26
29
33
34
34
38
61
69
70
70
72
89
90
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tố tụng dân sự là một hoạt động bao gồm nhiều giai đoạn với những trình
tự, thủ tục để Tòa án giải quyết các VADS. Trong suốt quá trình tố tụng, ở mỗi
giai đoạn, pháp luật TTDS đều có những quy định riêng, cụ thể nhằm đảm bảo
tính khách quan, chính xác trong việc giải quyết từng vụ việc.
Chứng minh là hoạt động TTDS cơ bản, có ý nghĩa rất quan trọng, xuyên
từ đó đề xuất những giải pháp để áp dụng pháp luật thống nhất trong thực tiễn
xét xử ở hệ thống Tòa án, hướng đến việc bảo đảm thực hiện nguyên tắc chứng
minh trong tố tụng dân sự.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nguyên tắc chứng minh là một nguyên tắc cơ bản, quan trọng trong
TTDS nên việc nghiên cứu đề tài liên quan đến “Nguyên tắc chứng minh trong
TTDS” cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu khai thác của nhiều tác
giả và ở những góc độ khác nhau. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trước
đây chủ yếu đề cập ở khía cạnh là một trong các giai đoạn của hoạt động
chứng minh, hoặc dưới góc độ là một quyền và nghĩa vụ của chủ thể là đương
sự. Các đề tài đó thuộc các tài liệu chuyên khảo, các tạp chí và luận văn, có thể
kể đến một số công trình nghiên cứu như:
- Luận văn “Chứng cứ và hoạt động chứng minh trong TTDS Việt Nam”
của tác giả Vũ Trọng Hiếu (Luận văn thạc sỹ luật học, bảo vệ tại trường đại
học luật Hà Nội năm 1998). Luận văn giải quyết các vấn đề lý luận về chứng
cứ và chứng minh trong TTDS; phân tích một cách hệ thống các quy định
trong BLTTDS về hoạt động chứng minh của các chủ thể trong TTDS. Từ đó,
kiến nghị một số vấn đề nhằm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh về hoạt động
chứng minh.
- Luận văn Nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng
dân sự của tác giả Tăng Hoàng My (Luận văn thạc sỹ luật học, bảo vệ tại
trường đại học luật Hà Nội năm 2012). Luận văn giải quyết các vấn đề lý luận
về nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong TTDS. Tiếp cận nghiên
cứu với hai chủ thể là đương sự và Tòa án, trong đó đương sự có nghĩa vụ
cung cấp chứng cứ và chứng minh, còn Tòa án hỗ trợ đương sự trong việc thực
hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh. Kết quả nghiên cứu luận văn
đã phần nào đánh giá thực tiễn áp dụng nguyên tắc cung cấp chứng cứ và
chứng minh trong TTDS, từ đó đưa ra những yêu cầu cơ bản để hoàn thiện và
thực hiện pháp luật về nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh.
cứ” của tác giả Nguyễn Minh Hằng, tạp chí Tòa án nhân dân, số 9/5-2004; Bài
viết “Một số ý kiến sung quanh vấn đề chứng cứ” của tác giả Nguyễn Văn
Khuê, tạp chí kiểm sát, số 10/2004; Bài viết “Một vài suy nghĩ về vấn đề
chứng cứ và chứng minh được quy định trong Bộ luật TTDS” của tác giả
4
Tưởng Duy Lượng, tạp chí Tòa án nhân dân, số 10/2004 và số 11/2004; Bài
viết “Vấn đề chứng cứ và chứng minh trong BLTTDS” của tác giả Trần Văn
Trung, tạp chí kiểm sát số 12/2004; Bài viết “Chứng cứ và chứng minh trong
TTDS” của tác giả Dương Trung Thành, tạp chí Tòa án nhân dân số 01/2004;
Bài viết “Chứng cứ và chứng minh trong TTDS” của tác giả Hoàng Ngọc
Thỉnh, tạp chí luật học năm 2004 – Đặc san góp ý dự thảo BLTTDS; Bài viết
“Bàn về chế định chứng cứ và chứng minh trong TTDS” của tác giả Phạm
Thái Quý, tạp chí dân chủ và pháp luật của Bộ Tư pháp, số 12/2008; Bài viết
“Một số khó khăn, vướng mắc qua thực tiễn áp dụng các quy định của
BLTTDS về giám định, chi phí giám đinh, định giá, án phí cùng một số kiến
nghị” của tác giả Phạm Minh Tuyên, tạp chí Tòa án nhân dân, số 8/2008; Bài
viết “Phân định ranh giới giữa nghĩa vụ chứng minh và trách nhiệm chứng
minh trong TTDS” của tác giả Nguyễn Minh Hằng, tạp chí kiểm sát, số
20/2012…
Qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu trên, tác giả nhận thấy, các công
tình này mới dừng lại ở việc nghiên cứu một khía cạnh trong nguyên tắc chứng
minh trong TTDS, như: quyền, nghĩa vụ, hoạt động, thời hạn chứng minh...
Cho đến nay, chưa có một công trình nào nghiên cứu hệ thống, toàn diện về
nguyên tắc chứng minh trong TTDS. Những nội dung nghiên cứu trong Luận
văn này không trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào đã
được công bố trước đây.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản về nguyên tắc chứng minh trong
TTDS, trên cơ sở xây dựng, phân tích khái niệm, đặc điểm, cơ sở ý nghĩa của
nguyên tắc chứng minh, tìm ra mối quan hệ, sự chi phối của nguyên tắc chứng
minh tới các nguyên tắc khác trong TTDS, để từ đó làm sáng tỏ vai trò quan
trọng của nguyên tắc chứng minh trong suốt quá trình giải quyết các VADS.
Tiếp cận nghiên cứu bằng phương pháp hệ thống các quy định của pháp
luật TTDS về nguyên tắc chứng minh trong TTDS, phân tích nội dung các quy
định pháp luật về nguyên tắc chứng minh đến thực tiễn thực hiện quy định này
trong TTDS nhằm tìm ra những thành công, nguyên nhân của những thành
công và những điểm hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế trong các quy
6
định pháp luật về nguyên tắc chứng minh trong trong tố tụng dân sự. Kết quả
nghiên cứu nhằm đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về nguyên tắc
chứng minh, cũng như việc áp dụng quy định pháp luật về nguyên tắc chứng
minh trong tố tụng dân sự trên thực tế đạt được hiệu quả hơn.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận cơ bản về nguyên tắc chứng minh trong
tố tụng dân sự.
- Nghiên cứu nội dung các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện
hành về nguyên tắc chứng minh.
- Đánh giá thực trạng áp dụng các quy định của Pháp luật TTDS trong
BLTTDS 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) về nguyên tắc chứng minh. Từ đó,
phân tích nguyên nhân dẫn tới sự những thay đổi trong quy định về nguyên tắc
chứng minh trong BLTTDS 2015, đồng thời đánh giá khả năng hiện thực của các
quy định đó trong thực tế hoạt động tố tụng dân sự và đề xuất giải pháp nhằm
sánh luật học được sử dụng để đối chiếu so sánh và tổng hợp các quy định của
pháp luật nước ngoài với pháp luật Việt Nam... nhằm làm sáng tỏ các vấn đề
trong nội dung luận văn.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn là một công trình nghiên cứu khoa học pháp lý toàn diện, có hệ
thống về cơ sở lý luận và thực tiễn về nguyên tắc chứng minh trong Pháp luật
TTDS Việt Nam. Luận văn có các ý nghĩa khoa học và thực tiễn sau:
Thứ nhất, nghiên cứu hoàn thiện khái niệm về nguyên tắc chứng minh trong
pháp luật TTDS Việt Nam, phân tích rõ bản chất, ý nghĩa và đặc điểm của nguyên
tắc chứng minh trong pháp luật TTDS Việt Nam.
Thứ hai, các quy định về nguyên tắc chứng minh theo quy định của pháp
luật TTDS Việt Nam hiện hành được nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn
diện cả trên cả phương diện lý luận và thực tiễn.
Thứ ba, Nghiên cứu thực trạng áp dụng nguyên tắc chứng minh trong
thực tiễn xét xử hiện nay, đánh giá khách quan khả năng hiện thực hóa của quy
định pháp luật về nguyên tắc chứng minh trong BLTTDS 2015. Phát hiện các
vấn đề và đề xuất, kiến nghị một số giải pháp góp phần bảo đảm thực hiện
pháp luật TTDS Việt Nam về nguyên tắc chứng minh.
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu giảng dạy,
tham khảo ở bậc Đại học, các trường đào tạo nghề trong lĩnh vực tư pháp và là tư
liệu có giá trị để các nhà khoa học, những người làm công tác thực tiễn tham khảo
trong nghiên cứu khoa học TTDS.
8
7. Bố cục luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục;
Luận văn này gồm 3 chương như sau:
- Chương 1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về nguyên tắc chứng minh
có sự bình đẳng giữa các bên. Trong đó, Toà án, Viện kiểm sát là các chủ thể
có vai trò có tính quyết định đối với quá trình giải quyết VVDS. Quyết định
của các cơ quan này về giải quyết VVDS được bảo đảm thi hành bằng cưỡng
chế nhà nước, buộc các chủ thể khác phải nghiêm chỉnh thực hiện.
Tố tụng dân sự được thực hiện tuân thủ theo hệ thống những nguyên tắc
cơ bản được pháp điển hóa. Theo từ điển Tiếng Việt, nguyên tắc được hiểu là
“điều cơ bản đã được định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc
Trường Đại học Luật Hà Nội (2003), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà
Nội, tr.8.
1
10
làm”2. Như vậy, nhắc tới nguyên tắc là đề cập tới hai vấn đề: Một là, mức
chuẩn mực cơ bản do con người định ra, bao hàm cả tính khách quan và tính
chủ quan. Tính khách quan thể hiện là “điều cơ bản” – nói cách khác, xuất phát
từ bản chất của sự việc, còn tính chủ quan thể hiện trong việc ghi nhận nguyên
tắc được “định ra” bởi con người, ảnh hưởng bởi ý chí của con người, dù sự
việc có khách quan nhưng đứng ở góc độ mỗi người tại những hoàn cảnh khác
nhau, việc định ra nguyên tắc cũng có những điểm khác biệt. Hai là, tư tưởng
chỉ đạo, định hướng chung mà toàn bộ hoạt động trong một lĩnh vực phải tuân
theo – tính bắt buộc. Với cách hiểu này, nguyên tắc của ngành luật là tư tưởng
chính trị, pháp lý cơ bản được định ra để định hướng chung cho toàn bộ các
quy định cụ thể điều chỉnh những quan hệ xã hội nhất định.
“Nguyên tắc của luật TTDS là những tư tưởng pháp lý chỉ đạo, định
hướng cho việc xây dựng và thực hiện Pháp luật TTDS và được ghi nhận trong
các văn bản pháp luật TTDS”.3 Các nguyên tắc cơ bản của luật TTDS là
những quy tắc xử sự cơ bản có hiệu lực pháp luật bao trùm nhất, đối với việc
cấp, thu thập, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ, vv. Chứng minh được các
chủ thể tố tụng thực hiện trong suốt quá trình giải quyết VVDS. Các chủ
thể chứng minh trong TTDS bao gồm các đương sự, người đại diện,
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, cá nhân, cơ quan,
tổ chức khởi kiện bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước hoặc yêu
cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích của người khác. Trong đó, các đương
sự là chủ thể chứng minh chủ yếu. Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải đưa ra chứng cứ để chứng minh
cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp; đương sự phản đối yêu cầu của
người khác đối với mình phải chứng minh sự phản đối đó là có căn cứ và
phải đưa ra chứng cứ để chứng minh; đương sự có nghĩa vụ đưa ra
chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không
đưa ra đủ chứng cứ thì phải chịu hậu quả của việc không chứng minh
được hoặc chứng minh không đầy đủ đó.
Các tình tiết, sự kiện phải chứng minh trong VVDS bao gồm: tình
tiết, sự kiện mà quan hệ pháp luật giữa các bên đương sự phụ thuộc vào
nó và các tình tiết, sự kiện khác có ý nghĩa cho việc giải quyết VVDS. Các
tình tiết, sự kiện không phải chứng minh trong VVDS bao gồm: tình tiết,
sự kiện rõ rang mà mọi người đều biết; những tình tiết, sự kiện đã được
xác định trong các bản án, quyết định của Tòa án hoặc quyết định của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật, những tình tiết,
sự kiện đã được ghi trong văn bản và được công chứng, chứng thực hợp
pháp.5
5
Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, Nxb. Từ điển bách khoa, Nxb. Tư pháp. Hà Nội, tr. 166.
12
Luật Hà Nội, Hà Nội, tr. 9.
7 Vũ Văn Đồng (2006), Chứng minh và vấn đề chứng minh trong BLTTDS, Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học
Luật Hà Nội, Hà Nội, tr. 15.
8 Kỹ năng giải quyết các VADS (2006), Nxb. Thống Kê, Hà Nội, tr. 81.
6
13
ba tham gia với vai trò phán xét tính đúng đắn trong tranh chấp hai bên thì Nhà
nước, mà đại diện là Tòa án sẽ tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp đó
với tư cách là cơ quan tiến hành tố tụng xét xử VADS đó. Nhưng, bản thân
Tòa án, cụ thể là Thẩm phán được phân công giải quyết VADS không thể biết
về các tình tiết, sự kiện trong vụ án đó rõ như chính các đương sự. Chính vì thế
để hoạt động TTDS có thể diễn ra, thì một trong những nguyên tắc quan trọng,
đặt nền tảng cho quá trình giải quyết các VADS đó chính là nguyên tắc chứng
minh trong TTDS của đương sự. Hoạt động chứng minh trong TTDS là hoạt
động cần thiết để giải quyết VADS. Tuy nhiên, chủ thể thực hiện và cách thức
thực hiện được pháp luật ghi nhận
trong các thời kỳ có sự khác biệt.
Có thể hiểu, nguyên tắc chứng minh trong TTDS là những tư tưởng chỉ
đạo, định hướng cho việc xây dựng và thực hiện pháp luật để giải quyết VVDS,
chi phối mọi hành vi tố tụng dân sự của các chủ thể chứng minh thực hiện hoạt
động chứng minh trong tố tụng dân sự.
Theo đó, nguyên tắc chứng minh đề ra hai tư tưởng chỉ đạo, định hướng
cho việc xây dựng một loạt các quy định cụ thể về việc chứng minh để giải
quyết VVDS, cũng như chi phối mọi hành vi tố tụng của các chủ thể chứng
minh, bao gồm:
Thứ nhất, đương sự chứng minh cho yêu cầu, phản yêu cầu của mình.
Đây là định hướng đương nhiên của nguyên tắc chứng minh, xuất phát từ
hoạt động chứng minh. Bên cạnh đó, để hệ thống hóa hoạt động chứng minh
thành nguyên tắc cơ bản trong TTDS, cần sự nhìn nhận vấn đề một cách tổng
quát, khách quan từ các nhà làm luật. Vì thế những nguyên tắc cơ bản trong
TTDS được hình thành trên cơ sở các quan hệ TTDS cũng mang tính khách
quan.
- Tính chủ quan: Mặc dù được hình thành trên cơ sở quan hệ TTDS của
các chủ thể chứng minh trong TTDS, cũng như cách nhìn tổng quát của các
nhà làm luật. Song, do ảnh hưởng từ môi trường sống, môi trường giáo dục và
làm việc nên đối với mỗi sự vật, sự kiện thường được tiếp cận ở nhiều góc nhìn
khác nhau. Chính vì thế, việc xây dựng các nguyên tắc cơ bản trong TTDS này
luôn mang theo một phần tư tưởng chủ quan của nhà làm luật.
- Tính giai cấp: Việc hình thành các nguyên tắc cơ bản trong TTDS chịu
ảnh hưởng vào tư tưởng của các nhà làm luật. Yếu tố lớn nhất tác động đến tư
tưởng của các nhà làm luật chính là hệ tư tưởng, văn hóa, của mỗi quốc gia,
mỗi nhà nước, mỗi thời điểm lịch sử nhất định. Do đó, việc xây dựng nguyên
15
tắc chứng minh trong TTDS cũng chịu tác động từ tính giai cấp (trong nhà
nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa thì tính giai cấp khá mờ nhạt)..
- Tính ổn định: Nguyên tắc chứng minh trong TTDS có tính ổn định
tương đối trong từng thời kỳ. Sự ổn định tương đối được xuất phát từ hai khía
cạnh: (i) Nguồn gốc hình thành của các nguyên tắc này là từ các quan hệ của
các chủ thể chứng minh trong TTDS, sự biến động của nguyên tắc chứng minh
trong TTDS phụ thuộc vào biến động của các quan hệ đó. Các quan hệ được
điều chỉnh trong luật thường là các quan hệ chung có tính ổn định cao. (ii) Khi
tiến hành xây dựng các nguyên tắc cơ bản trong TTDS, các nhà làm luật phải
tiếp cận ở khả năng thực thi của quy định đó trong một giai đoạn, một thời kỳ
nhất định, đặc biệt quy định được xây dựng phải phụ thuộc vào các chính sách
chứng minh, làm rõ là những sự kiện, tình tiết nào? Việc chứng minh của các
chủ thể khác có đúng, có phù hợp, cần thiết cho việc giải quyết VADS hay
không? Việc phân định người tiến hành tố tụng là chủ thể có trách nhiệm
chứng minh, bởi: Tòa án và VKS không phải chủ thể hiểu rõ giao dịch dân sự,
cũng như tranh chấp dân sự như chính các đương sự; đồng thời, Tòa án là chủ
thể đứng giữa tranh chấp hai bên với vai trò trung gian xét xử, nên cần phải vô
tư, khách quan trong xét xử, việc đặt nặng vai trò chứng minh (quyền và nghĩa
vụ chứng minh) cho Tòa án hay VKS dễ dẫn đến tình trạng chủ quan duy ý chí
trong quá trình phán xét hoặc kiểm sát quá trình TTDS của họ. Chính vì thế,
Tòa án chỉ thực hiện nguyên tắc chứng minh trong phạm vi hoạt động xét xử,
giải quyết vụ án, một số trường hợp việc thực hiện nguyên tắc chứng minh của
Tòa án còn bị hạn chế bởi ý chí của đương sự, cònVKS thực hiện nguyên tắc
chứng minh qua chứng năng, nhiệm vụ quyền hạn kiểm sát của mình.
(ii) Đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên
quan)… là chủ thể có quyền và nghĩa vụ chứng minh – chủ thể trung tâm của
nguyên tắc chứng minh, là người đủ điều kiện, khả năng nắm giữ những thông
tin chứng minh cho yêu cầu, phản yêu cầu của chính mình nhất. Đương sự
tham gia trực tiếp trong giao dịch dân sự, họ là những người nắm rõ nhất tình
tiết của vụ án, họ biết những chứng cứ nào là căn cứ chứng minh tốt nhất để
bảo vệ quyền lợi của mình, hiểu nhất nên thu thập chứng cứ như thế nào và đặc
biệt họ có thể chính là người nắm giữ những chứng cứ quan trọng nhất.
“Quyền chứng minh là khả năng của các chủ thể chứng minh, bằng hành
vi tố tụng của mình tham gia vào hoạt động chứng minh. Việc thực hiện quyền
chứng minh do các chủ thể chứng minh quyết định”10. Theo từ điển luật học,
“quyền” được giải thích là:
Nguyễn Minh Hằng (2012), “Phân định ranh giới giữa nghĩa vụ chứng minh và trách nhiệm chứng minh
trong tố tụng dân sự”, Tạp chí Kiểm sát (số 20) tại địa chỉ: http://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/81/551
ngày truy cập 05/8/2016.
10
Từ điển luật học (1999), Nxb. Từ điển Bách khoa, Hà Nội, tr. 399.
Nguyễn Minh Hằng (2012), “Phân định ranh giới giữa nghĩa vụ chứng minh và trách nhiệm chứng minh
trong tố tụng dân sự”, Tạp chí Kiểm sát (số 20) tại địa chỉ: http://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/81/551
ngày truy cập 05/8/2016.
13 Nguyễn Minh Hằng (2012), “Phân định ranh giới giữa nghĩa vụ chứng minh và trách nhiệm chứng minh
trong tố tụng dân sự”, Tạp chí Kiểm sát (số 20) tại địa chỉ: http://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/81/551
ngày truy cập 05/8/2016.
11
12
18
quyền và nghĩa vụ chứng minh của chủ thể chứng minh đều ảnh hưởng trực
tiếp tới chính quyền và lợi ích của chính họ. Dù với cách gọi là “quyền” hay
“nghĩa vụ” trong việc chứng minh thì cách thức thực hiện và mục đích đều chỉ
là một. Do đó, “quyền chứng minh” và “nghĩa vụ chứng minh” mặc dù đối lập
nhau nhưng không hề mâu thuẫn nhau. Điều này cũng dẫn đến việc thực hiện
quyền và nghĩa vụ chứng minh đều thuộc về chủ thể chứng minh là đương sự
và được quy định tại Điều 6 BLTTDS 2004 và Điều 6 BLTTDS 2015.
(iii) Những người tham gia tố tụng khác… vai trò chứng minh của nhóm
chủ thể này chỉ ở mức độ hỗ trợ, phụ thuộc, và hoàn toàn dựa trên cơ sở yêu
cầu của hai nhóm chủ thể trên. Mặc dù pháp luật TTDS quy định về vai trò
chứng minh của nhóm chủ thể này, song, họ chỉ thực sự tham gia chứng minh
khi nhận được yêu cầu từ đương sự, Tòa án. Nếu là yêu cầu từ đương sự, thì họ
có quyền lựa chọn hỗ trợ chứng minh hoặc không. Nhưng nếu người yêu cầu là
người tiến hành tố tụng thì họ phải hỗ trợ, vì khi đó, yêu cầu này có mang theo
tính mệnh lệnh, bảo đảm thực hiện bằng quyền lực nhà nước.
- Đặc trưng về đối tượng nguyên tắc chứng minh trong TTDS hướng tới
là tất cả các tình tiết, sự kiện phải chứng minh để làm sáng tỏ sự thật khách
kiện đã được xác định trong các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực
pháp luật hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực
pháp luật; hoặc những tình tiết, sự kiện đã được ghi trong văn bản và được
công chứng, chứng thực hợp pháp. Các tình tiết, sự kiện này được ghi nhận tại
khoản 1 Điều 80 BLTTDS 2004 và kế thừa tại khoản 1 Điều 92 BLTTDS
2015. (Phụ lục 1)
Tuy nhiên, theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 80 BLTTDS 2004 việc
Tòa án coi các tình tiết, sự kiện đã được ghi trong văn bản đã được công
chứng, chứng thực hợp pháp là không cần phải chứng minh là việc suy đoán
pháp lý, không hề có sơ sở chắc chắn. Bởi không thể khẳng định rằng các văn
bản công chứng, chứng thực hợp pháp đã được thực hiện đúng pháp luật và
không có yếu tố sai phạm trong đó. Trên thực tế, do những nguyên nhân khách
quan và chủ quan, có thể dẫn tới việc Công chứng viên để xảy ra những sai sót
trong quá trình thực hiện công chứng hợp đồng, giao dịch. Ví dụ 1: Chủ thể
giao dịch; các giấy tờ, tài liệu trong giao dịch là giả mạo; Đối tượng của giao
dịch (quyền sử dụng đất, tài sản,…) không có thật hoặc không được phép tham
gia giao dịch,… Để khắc phục tồn tại này, khoản 1 Điều 92 BLTTDS 2015 đã
20
đưa ra cách giải quyết “Thẩm phán có thể yêu cầu đương sự, cơ quan, tổ chức
công chứng, chứng thực xuất trình bản gốc, bản chính”.
* Nhóm các tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan
chuyên môn do một bên đương sự đưa ra được bên đương sự còn lại thừa nhận
hoặc không phản đối. BLTTDS 2015 đã bổ sung thêm một số đối tượng không
phải chứng minh: tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn như: biên
bản giám định, dịch thuật, vi bằng, định giá… Sự thừa nhận hoặc không phản
đối này phụ thuộc vào ý chí chủ quan của đương sự (hoặc người đại diện theo
ủy quyền của đương sự), chỉ các tình tiết, sự kiện, kết quả ghi nhận trong văn
giải quyết các vấn đề đặt ra”. Tranh luận là một phần của tranh tụng. Từ tranh
luận, các đương sự làm rõ được các tình tiết, sự kiện trong vụ án, chỉ ra được
những vấn đề khúc mắc cần giải quyết trong vụ án nói chung hay chính trong
những chứng cứ đã được cung cấp hoặc ngay trong chính những luận điểm,
luận cứ, luận chứng được đưa ra trong quá trình tranh luận, chứng minh được
yêu cầu, hoặc phản đối yêu cầu của mình là đúng, bảo vệ được quyền và lợi ích
hợp pháp của chính mình. Còn Tòa án mà cụ thể là Thẩm phán giải quyết vụ
án là người trọng tài “cầm cân công lí” để phân xử giữa hai bên tham gia tranh
luận, duy trì trật tự phiên tòa và quá trình tranh luận giữa hai bên, hướng quá
trình tranh luận vào việc giải quyết các yêu cầu của các đương sự, các căn cứ
thực tiễn và pháp lí của các yêu cầu đó cũng như các tình tiết khác nhau về
quan hệ pháp luật dân sự mà từ đó phát sinh tranh chấp giữa các đương sự 15.
Đây là quá trình mà các bên có lợi ích mâu thuẫn nhau, hoặc bảo vệ lợi ích
mâu thuẫn nhau đối trọng gay gắt nhất. Do đó, có thể khẳng định, tranh luận là
phương thức thực hiện nguyên tắc chứng minh một cách mạnh mẽ, quyết liệt
nhất.
(iii) Xem xét, đánh giá tài liệu, chứng cứ:
Xem xét, đánh giá tài liệu, chứng cứ là việc dựa trên những hiểu biết về
vụ án, về pháp luật, lẽ thường tình, cũng như toàn bộ quá trình tranh tụng tại
phiên tòa của các bên đương sự, VKS (nếu có) để đưa ra quan điểm, cách nhìn
nhận của theo ý chí chủ quan của mình (đối với đương sự), hoặc quan điểm,
cách nhìn nhận khách quan của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành
Hoàng Ngọc Thỉnh (2004), “Chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự”, Tạp chí Luật học, Đặc san góp
ý dự thảo BLTTDS, trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, số 4/2004, tr. 66.
15 Nguyễn Thị Thu Hà (4/2004), “Một số vấn đề về phiên tòa sơ thẩm”, Đặc san góp ý dự thảo BLTTDS, Tạp
chí Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr. 33.
14