BÀI TẬP NHÓM
MÔN : LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
VIỆT NAM
Đề tài : CHẾ ĐỊNH CHỨNG MINH TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
NỘI DUNG
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I/ Khái quát chung về Chế định chứng minh:
1. Khái niệm
1
2. Ý nghĩa của Chế định chứng minh
3. Cơ sở của chế định chứng minh
II/ Nội dung chế định chứng minh :
1. Chủ thể chứng minh :
1.1. Đương sự
1.2. Người đại diện của đương sự
1.3. Người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự
1.4. Người làm chứng, người giám định
1.5. Người giám định
1.6. Tòa án Nhân dân
1.7. Viện kiểm sát Nhân dân
2. Đối tượng chứng minh
2.1. Đối tượng chứng minh
2.2. Những tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh
2.3. Phương tiện chứng minh
III/ Trình tự, thủ tục chứng minh
IV/ Thực tiễn áp dụng, phương hướng hoàn thiện và kiến nghị của nhóm
pháp luật tố tụng nói chung trong đó có pháp luật tố tụng dân sự. Mọi hoạt động
tố tụng đều tập trung làm rõ những vấn đề cần phải chứng minh bằng việc thu
thập và đánh giá chứng cứ” 3
Nhận thấy được vai trò quan trọng của Chứng minh trong tố tụng dân sự,
nhóm đã lựa chọn và nghiên cứu đề tài “ Chế định chứng minh trong tố tụng dân
sự”. Đây không phải là một đề tài mới, đã có rất nhiều bài viết của nhiều tác giả về
1
Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam – ĐH Luật Hà Nội , NXB Tư pháp năm 2006, tr.1
2
Trích “ Báo cáo công tác của ngành Tòa án”, năm 2001.
3
Xem “ Bàn về chế định chứng minh và chứng cứ trong Tố tụng dân sự “, Phạm Quý Thái, Tạp chí Dân
chủ và pháp luật, Bộ Tư pháp, số 12/2008.
3
vấn đề này như “ Các quy định về chứng minh trong Tố tụng dân sự” - Ths
Nguyễn Công Bình, “ Bàn về Chế định chứng cứ và chứng minh trong Tố tụng
dân sự” - Phạm Quý Thái, hay “ Chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự” –
Ths Dương Quốc Thành …Tuy nhiên dưới góc độ là những sinh viên luật bài viết
của nhóm đi vào làm rõ các vấn đề cơ bản về : Nội dung, vai trò của chế định
chứng minh cũng như thực tiến áp dụng và phương hướng hoàn thiện chế định
chứng minh trong Tố tụng dân sự.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
TTDS là một dạng của hoạt động chứng minh nói chung nhưng khác biệt ở chỗ
hoạt động này là hoạt động mang tính chất pháp lý được điều chỉnh bởi luật tố
tụng dân sự và pháp luật liên quan, được thực hiện bởi các chủ thể có quyền, nghĩa
vụ cụ thể và kết quả của hoạt động này sẽ là một bản án, quyết định của tòa án
mang tính chất bắt buộc áp dụng.
Hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự là một quá trình gồm hoạt động
của tòa án, viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng trong việc cung cấp, thu
thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ làm cơ sở cho yêu cầu, phản đối yêu cầu
của mình và phán quyết của tòa án trên cơ sở quy định của pháp luật.
Qua những lập luận trên có thể đưa ra một số nhận xét sau :
-
Bản chất của hoạt động chứng minh của các chủ thể tố tụng không
chỉ thể hiện ở chỗ xác định , làm rõ các tình tiết sự kiện của vụ việc dân sự mà còn
phải làm cho mọi người “ thấy rõ là có thật, là đúng”
-
Chứng minh có tính chất chi phối kết quả giải quyết vụ việc dân sự
của Tòa án, trên cơ sở này Tòa án đưa ra phán quyết, quyết định của mình.
-
Hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự là một quá trình nhận
thức diễn ra suyên suốt vụ án dân sự, được bắt đầu khi có quyết định thụ lý đơn
khởi kiện cho đến khi tòa án ra phán quyết. Khởi đầu là việc chứng minh của
nguyên đơn cho yêu cầu của mình thông qua đơn khởi kiện, tiếp đến là hoạt động
chứng minh của bị đơn bác yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu phản tố (nếu có),
4
quan trọng của vấn đề này. Luật tố tụng dân sự Nhật Bản định nghĩa: “Chứng cứ
là một tư liệu thông qua đó một tình tiết được tòa án công nhận và là một tư liệu,
cơ sở thông qua đó tòa án được thuyết phục là một tình tiết có tồn tại hay
không?” hoặc theo điều 401 Luật chứng cứ của Mỹ định nghĩa “Chứng cứ là
những gì mà hàm chứa trong nó sự tồn tại của bất cứ một sự thực nào mà bản thân
sự hàm chứa đó ảnh hưởng tới việc xác định được một hành động hơn hoặc kém
hơn”. Trong Luật TTDS 2004, khái niệm chứng cứ lần đầu tiên được ghi nhận một
cách tương đối đầy đủ tại Điều 81, theo đó:
“Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cá
nhân, cơ quan, tổ chức khác giao nộp cho Tòa án hoặc do Tòa án thu thập được
theo trình tự, thủ tục do bộ luật này quy định mà tòa án dùng làm căn cứ để xác
6
định yêu cầu hay phản đối của đương sự là có căn cứ hợp pháp hay không cũng
như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự”.
Quá trình chứng minh là việc sử dụng chứng cứ đúng đắn bao gồm bốn giai
đoạn khác nhau là cung cấp, thu thập, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ. Các giai
đoạn này có mối liên hệ mật thiết với nhau, chỉ có giai đoạn trước mới có giai
đoạn sau, và giai đoạn sau sẽ là cơ sở để đánh giá tính đúng đắn và triệt để của giai
đoạn trước. Phải có hoạt động thu thập, cung cấp chứng cứ thì mới phát sinh hoạt
động nghiên cứu, đánh giá chứng cứ và kết quả của họat động nghiên cứu, đánh
giá chứng cứ sẽ phát sinh những nhận thức từ vụ án dân sự, nhận thức này có đúng
đắn, khách quan và toàn diện hay không hoàn toàn phụ thuộc vào việc cung cấp,
thu thập chứng cứ có đầy đủ và đúng hay không. Bốn giai đoạn này kéo dài, nối
tiếp và đan xen nhau, không thể tách bạch cơ học từ thời điểm nào đến thời điểm
nào là giai đoạn cung cấp, thu thập, nghiên cứu hay đánh giá chứng cứ. Nhưng có
thể nhận thấy rằng những giai đoạn này kéo dài suyên suốt quá trình giải quyết vụ
án dân sự, nó chỉ kết thúc khi tòa án ra phán quyết. Mặc dù có thể tòa án cấp dưới
đã ra quyết định giải quyết vụ án nhưng bản án này lại được giải quyết tiếp theo
2. Ý nghĩa của Chứng minh:
Chứng minh là một chế định lớn trong Bộ Luật Tố tụng dân sự , là hoạt
động cơ bản của các chủ thể tố tụng. Chứng minh đã và đang giữ vai trò và ý
nghĩa quan trọng trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ việc dân sư .
-
Nó là công cụ để tòa án có thể nhận thức được chính xác sự việc đã
sảy ra trên thực tế làm cơ sở để đưa ra phán quyết giải quyết các tranh chấp phát
sinh một cách nhanh chóng, chính xác và khách quan. Việc ra phán quyết hay
quyết định chính là kết quả của Hoạt động chứng minh. Chứng minh là biện pháp
để làm rõ các sự kiện và tình tiết của vụ việc dân sự , dựa trên những nghiên cứu
đánh giá chứng cứ Tòa án căn cứ vào đó để giải quyết vụ việc dân sự.
-
Chứng minh trong tố tụng dân sự bao gồm hoạt động của nhiều chủ
thể , trong đó hoạt động chứng minh của đương sự là chủ yếu. Chế định chứng
minh trong luật tố tụng dân sự có ý nghĩa quan trọng đối với các đương sự, đảm
bảo cho các đương sự bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa
án. Đối với các đương sự, chứng minh là phương tiện duy nhất để họ có thể bảo vệ
được các quyền và lợi ích của mình. Khi vụ việc dân sự được tòa án thụ lý và giải
quyết cũng đồng nghĩa với việc bên nguyên đơn cho rằng quyền và lợi ích của
8
mình bị xâm phạm, bên bị đơn không thừa nhận các quyền và lợi ích đó của
nguyên đơn nên yêu cầu tòa án phân xử. Trong quá trình tố tụng có thể phát sinh
nhiều chủ thể khác, khi họ đưa ra yêu cầu hoặc phản đối yêu cầu thì họ cũng có
Đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền lợi của mình. Tòa án có
nghĩa vụ xét xử mọi tình tiết liên quan đến vụ án và khi cần thiết có thể thu nhập
thêm chứng cứ để bảo đảm cho việc giải quyết các vụ án được chính xác.
Điều 3 (PLTTGQCVAKT) – nghĩa vụ chứng minh: Đương sự có nghĩa vụ
cung cấp chứng cứ và chứng minh để bảo vệ quyền lợi của mình.
Điều 2 (PLTTGQCVALĐ) – Xác minh, thu thập chứng cứ: Khi cần thiết,
tòa án tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ hoặc yêu cầu các bên tranh chấp lao
động, cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo đảm
cho việc giải quyết các vụ án lao động được chính xác, công bằng. Các bên tranh
chấp lao động, cơ quan, tổ chức, cá nhân được yêu cầu phải cung cấp đầy đủ và
đúng thời hạn theo yêu cầu của tòa án.
Chế định chứng minh được hình thành trên cở sở quyền tự định đoạt của
các đương sự và là sự kế thừa của các văn bản pháp luật trước và đã được hình
thành rõ nét trong Bộ luật Tố tụng dân sự hiện nay.
II/ Nội dung chế định chứng minh :
1. Chủ thể chứng minh :
Chủ thể chứng minh – tức là chủ thể có quyền và nghĩa vụ chứng minh,
những đối tượng thực hiện hoạt động chứng minh – trong tố tụng dân sự là các chủ
thể của tổ tụng dân sự. Cụ thể, đó là những người tham gia tố tụng gồm đương sự
đưa ra yêu cầu, đương sự phản đối yêu cầu, đại diện đương sự, người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định và
thành phần tiến hành tố tụng, tức cơ quan Tòa án Nhân dân và Viện Kiểm sát.
Các chủ thể trong hoạt động chứng minh:
1.1 Đương sự:
Đương sự - cả bên đưa ra yêu cầu lẫn bên phản đối yêu cầu – là những chủ
thể chứng minh chủ yếu. Chứng minh và cung cấp chứng cứ là cơ sở để đương sự
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, từ đó cung cấp căn cứ để Tòa án đưa
ra các phán quyết; bởi vậy đó là quyền và cũng là nghĩa vụ của đương sự. Sở dĩ có
10
11
thu thập chứng cứ được quy định tại chương VII BLTTDS về chứng cứ và chứng
minh đều thuộc về đương sự, như:
Quyền khai báo (Điều 86). Thực chất quyền này phát sinh từ khi đương sự
khởi kiện, lúc ấy đương sự đã phải có bản khai báo; trong giai đoạn tố tụng nếu
nhận thấy trong lời khai của đương sự có những tình tiết chưa đầy đủ, chưa rõ ràng
thì phải lấy lại lời khai. Biên bản ghi lời khai của đương sự phải được người khai
tự đọc lại hay nghe đọc lại và ký tên hoặc điểm chỉ. Đương sự có quyền yêu cầu
ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản ghi lời khai và ký tên hoặc điểm chỉ xác
nhận.
Quyền yêu cầu yêu cầu lấy lời khai của người làm chứng (Điều 87)
Quyền yêu cầu đối chất (Điều 88)
Quyền thỏa thuận, lựa chọn giám định, giám định bổ sung (Điều 90)
Quyền yêu cầu định giá tài sản (Điều 92)
Quyền yêu cầu cơ quan tổ chức, cá nhân đang nắm giữ giao chứng cứ (Điều
94)
Tuy việc thu thập chứng cứ là trách nhiệm của đương sự đối với yêu cầu
của mình và họ có sự chủ động trong các thao tác thu thập, nếu đương sự có yêu
cầu, Tòa án hoặc Viện kiểm sát vẫn có thể can thiệp bởi nếu không can thiệp sẽ
gây ra tình trạng lộn xộn và đôi khi chứng cứ thu thập được không có giá trị pháp
lý.
Trong giai đoạn xét xử, đương sự là người tham gia tích cực trong hoạt
động nghiên cứu, đánh giá chứng cứ. Hai hoạt động này đan xen và diễn ra trong
suốt quá trình giải quyết vụ án, đòi hỏi không những phải có hệ thống chứng cứ
đầy đủ mà còn đòi hỏi chủ thể nghiên cứu, đánh giá phải nhìn nhận một cách toàn
diện, đặt hệ thống chứng cứ trong mối liên hệ biện chứng, tác động lẫn nhau. Yêu
cầu đặt ra là phải loại bỏ được những yếu tố mang tính “ngẫu nhiên”, tìm ra các
yếu tố “tất nhiên” – mang tính quy luật nội tại mới có thể nhận thức chính xác vụ
phúc thẩm đương sự có quyền và nghĩa vụ tham gia phiên tòa (Điều 199, 200,
201), được nghe lời trình bày của các bên (Điều 221), được trình bày quan điểm ý
kiến của mình (Điều 197), được tham gia hỏi tại phiên tòa (Điều 222) và đặc biệt
BLTTDS đã dành một phần là mục 4 chương XIV để quy định về việc tranh luận
13
giữa các đương sự, đây giai đoạn mà vai trò của đương sự trong việc nghiên cứu,
đánh giá chứng cứ cũng như trong quá trình chứng minh được thể hiện rõ ràng
nhất. Thậm chí, sự tranh luận này có hệ quả trực tiếp đến phán quyết của tòa án
giải quyết vụ việc.
Ngoài các đương sự, Bộ luật Tố tụng Dân sự còn quy định các cá nhân, cơ
quan, tổ chức khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
người khác cũng có nghĩa vụ phải chứng minh những quyền và lợi ích này (Điều
79), bởi tuy không có quyền, lợi ích gắn liên với vụ việc dân sự nhưng các cá
nhân, cơ quan, tổ chức này cũng đưa ra yêu cầu và biết rõ sự việc. Các cá nhân, cơ
quan, tổ chức khởi kiện yêu cầu toà án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà
nước hoặc quyền và lợi ích hợp pháp của người khác cũng có nghĩa vụ tương tự.
1.2 Người đại diện của đương sự:
Người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự là người thay mặt cho
đương sự trong việc xác lập, thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng nhằm mục
đích bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho đương sự. Người này có thể là người
đại diện theo pháp luật (cha mẹ đối với con chưa thành niên, người giám hộ đối
với người được giám hộ, người được tòa án chỉ định đối với người bị hạn chế năng
lực hành vi dân sự, người đứng đầu pháp nhân theo quy định của điều lệ hoặc theo
quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, chủ hộ gia đình đối với gia đình,
tổ trưởng tổ hợp tác đối với tổ hợp tác, cơ quan tổ chức khởi kiện bảo vệ lợi ích
của người khác với người đó, người được Tòa án chỉ định làm đại diện,..) hoặc
người đại diện theo ủy quyền của đương sự. Nghĩa vụ chứng minh của họ được
hình thành trên cơ sở quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự; họ đại diện
đỡ đương sự khi được “nhờ”, đương sự vẫn là người đề ra việc chứng minh, yêu
cầu nhưng do có hạn chế về mặt pháp lý cũng như kinh nghiệm tố tụng nên họ
phải cầu cứu đến sự hỗ trợ. Những người này chỉ có quyền chứ không có nghĩa vụ
chứng minh, việc chứng minh được hay không không ảnh hưởng đến quyền và lợi
ích của họ.
Liên quan đến hoạt động chứng minh, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của đương sự có quyền (Điều 64 BLTTDS):
15
“2. Xác minh, thu thập chứng cứ và cung cấp chứng cứ cho tòa án, nghiên
cứu hồ sơ vụ án và được sao chụp những tài liệu cần thiết trong hồ sơ để thực hiện
việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
5. Giúp đương sự về mặt pháp lý liên quan đến việc bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của họ”
1.4 Người làm chứng, người giám định
Người làm chứng là người tham gia tố tụng để làm rõ các tình tiết, sự kiện
của vụ việc dân sự do biết được các tình tiết, sự kiện đó. Trong chứng minh, họ là
người cung cấp chứng cứ cho đương sự trong giai đoạn chuẩn bị và cho Tòa án tại
phiên tòa. Những chứng cứ của người chứng minh không chỉ có vai trò bổ sung
cho chứng cứ của đương sự mà còn giúp thẩm định lại những chứng cứ mà đương
sự đưa ra. Những người này thường khách quan hơn đương sự do họ không có
quyền và lợi ích liên quan đến vụ việc dân sự, cho nên việc tham gia hoạt động
chứng minh của người làm chứng có ý nghĩa rất lớn. Pháp luật không quy định
hạn chế những người được tham gia tố tụng với tư cách người làm chứng, trừ
những trường hợp người đó không thể làm chứng được do không có khả năng
nhận thức hành vi của mình, là người chưa thành niên còn quá nhỏ tuổi, là người
bị mất năng lực hành vi dân sự, người có nhược điểm về thể chất không thể nhận
thức được sự việc,… Trong chứng minh, quyền và nghĩa vụ của người làm chứng
lời khai của nhau hoặc tiếp xúc với những người có liên quan (Điều 216). Khi việc
xét hỏi diễn ra, người làm chứng có nhiệm vụ trình bày rõ những tình tiết của vụ
án mà họ biết.
1.5 Người giám định:
Đóng vai trò làm rõ các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự không chỉ có
người làm chứng và các đương sự mà còn có người giám định. Đặc điểm của
người giám định là có kiến thức, kinh nghiệm chuyên môn về lĩnh vực cần giám
định theo quy định của pháp luật; và cũng như người làm chứng, người giám định
phải vô tư khi thực hiện trách nhiệm Sự tham gia của người giám định có ý nghĩa
rất lớn với hoạt động chứng minh, bởi trưng cầu giám định là một hoạt động tố
tụng cần thiết để kết luận về phương diện khoa học những vấn đề phát sinh trong
quá trình chứng minh. Những kết luận về phương diện khoa học sẽ là cơ sở để các
17
cơ quan tiến hành tố tụng xem xét, kết luận về phương diện pháp lý các vấn đề của
vụ việc.
Để hỗ trợ cho vai trò của họ trong hoạt động chứng minh, BLTTDS Điều
68 quy định người giám định có các quyền, nghĩa vụ như:
A) Được đọc các tài liệu có trong hồ sơ vụ án liên quan đến đối tượng giám
định; yêu cầu Toà án cung cấp những tài liệu cần thiết cho việc giám định;
B) Đặt câu hỏi đối với người tham gia tố tụng về những vấn đề có liên quan
đến đối tượng giám định;
E) Không được tự mình thu thập tài liệu để tiến hành giám định, tiếp xúc
với những người tham gia tố tụng khác nếu việc tiếp xúc đó làm ảnh hưởng đến
kết quả giám định; không được tiết lộ bí mật thông tin mà mình biết khi tiến hành
giám định hoặc thông báo kết quả giám định cho người khác, trừ trường hợp Thẩm
phán quyết định trưng cầu giám định”
Nếu người giám định từ chối kết luận giám định mà không có lý do chính
đáng hoặc kết luận giám định sai sự thật sẽ phải chịu trách nhiệm theo quy định
tự viết được (khoản 1 Điều 86 của BLTTDS); lấy lời khai của người làm chứng
(khoản 1 Điều 87 của BLTTDS); đối chất (khoản 1 Điều 88 của BLTTDS); xem
xét, thẩm định tại chỗ (khoản 1 Điều 89 của BLTTDS); trưng cầu giám định, giám
định bổ sung, giám định lại (Điều 90 của BLTTDS); trưng cầu giám định chứng
cứ bị tố cáo là giả mạo (khoản 1 Điều 91 của BLTTDS); định giá tài sản (điểm a
khoản 1 Điều 92 của BLTTDS); ủy thác thu thập chứng cứ (Điều 93 của
BLTTDS); thu thập chứng cứ do cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ
trong trường hợp đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập chứng
cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được (khoản 1 Điều 94 của BLTTDS).
Ngoài ra, Toà án cũng có thể tự mình tiến hành một hoặc một số biện pháp
thu thập chứng cứ sau đây: lấy lời khai của người làm chứng khi xét thấy cần thiết
(khoản 1 Điều 87 của BLTTDS); đối chất khi xét thấy có sự mâu thuẫn trong lời
khai của các đương sự, người làm chứng (khoản 1 Điều 88 của BLTTDS); định
giá tài sản trong trường hợp các bên thoả thuận mức giá thấp nhằm mục đích trốn
thuế hoặc giảm mức đóng án phí (điểm b khoản 1 Điều 92 của BLTTDS).
19
Tòa án cũng còn 1 nghĩa vụ quan trọng khác là bảo quản, bảo vệ chứng cứ.
Bảo quản chứng cứ là trách nhiệm của Tòa án (Điều 95), còn việc bảo vệ chứng cứ
được Tòa án tiến hành khi có yêu cầu của đương sự, nếu xảy ra trường hợp chứng
cứ đang bị tiêu huỷ, có nguy cơ bị tiêu huỷ hoặc sau này khó có thể thu thập được
nữa (Điều 98). Đối với việc bảo vệ nhân chứng, Tòa án có quyền chủ động hơn:
trong trường hợp người làm chứng bị đe doạ, khống chế hoặc mua chuộc để không
cung cấp chứng cứ hoặc cung cấp chứng cứ sai sự thật thì Toà án có quyền quyết
định buộc người có hành vi đe doạ, khống chế hoặc mua chuộc phải chấm dứt
hành vi đó.
Sau khi đã thu nhận chứng cứ, khi việc chứng minh được tiến hành trong
phiên xét xử, trách nhiệm tiếp theo của Tòa án là đánh giá chứng cứ (Điều 96).
như:
Trong giai đoạn thu thập chứng cứ, VKSND có quyền yêu cầu cá nhân, cơ
quan, tổ chức cung cấp chứng cứ (Điều 94) và có nghĩa vụ xem xét trách nhiệm
hình sự của người có hành vi đe dọa, không chống hoặc mua chuộc người làm
chứng khi Tòa án có yêu cầu (Điều 98).
Trong giai đoạn chứng minh tại phiên tòa, ở thủ tục hỏi, đại diện của
VKSND là Kiểm sát viên có thể yêu cầu công bố tài liệu của vụ án (Điều 227),
cho nghe băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình (Điều 228) nếu thấy
cần thiết. Ở thủ tục tranh luận, Kiểm sát viên có quyền phát biểu sau cùng về việc
tuân theo pháp luật trong toàn bộ quy trình chứng minh.
2. Đối tượng chứng minh
2.1 Đối tượng chứng minh:
Theo Giáo trình Luật Tố tụng Dân sự của ĐH Luật 6 đối tượng chứng minh
là “tổng hợp những tình tiết, sự kiện liên quan đến vụ việc dân sự cần được xác
định trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự”. Xác định đối tượng chứng minh là
xác đinh phạm vi những sự kiện, tình tiết của vụ việc dân sự cần được làm rõ, để
thông qua đó các đương sự chứng minh và làm rõ yêu cầu của mình, để Tòa án
giải quyết vụ việc dân sự được đúng đắn. Xác định được đối tượng chứng minh
6
Nxb Tư pháp, 2006, t.146.
21
không phải là việc đơn giản: các tình tiết, sự kiện trong vụ việc dân sự rất đa dạng
và phong phú, mà không phải đương sự nào cũng có kinh nghiệm và hiểu biết
trong tham gia tố tụng để xác định được đúng và đủ những tình tiết, sự kiện mà
mình cần chứng minh. Nhưng nếu xác định được đúng đối tượng chứng minh,
đương sự có thể xác định được chứng cứ, dữ liệu cần có để cung cấp cho Tòa án,
phải chứng minh chứng minh là đúng, là có liên quan tới vụ việc dân sự, v.v. Điều
80 BLTTDS quy định cụ thể những tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh
đó là:
a) Những tình tiết, sự kiện rõ ràng mà mọi người đều biết và được Toà án
thừa nhận;
b) Những tình tiết, sự kiện đã được xác định trong các bản án, quyết định
của Toà án đã có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật;
c) Những tình tiết, sự kiện đã được ghi trong văn bản và được công chứng,
chứng thực hợp pháp.
Trong số đó, những tình tiết, sự kiện đã được xác định trong các bản án,
quyết định của Toà án đã có hiệu lực hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền đã có hiệu lực được xem là “đã được chứng minh trước đó”, nên để
bảo đảm tính thống nhất trong xét xử, tránh phức tạp trong giải quyết vụ việc dân
sự và làm trì trệ thủ tục giải quyết, mới được xem là “tình tiết không cần chứng
minh”. Còn những tình tiết, sự kiện đã được ghi trong văn bản và được công
chứng, chứng thực hợp pháp được xem là được ghi lại dưới hình thức nhất định,
do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác nhận (trừ trường hợp công chứng, chứng
thực không hợp pháp); vì tính chất cố định, rõ ràng này, loại chứng cứ này mới
được xem là không cần chứng minh. Ngoài ra, bên cạnh tất cả các loại chứng cứ
trên còn có loại tình tiết, sự kiện do 1 bên đưa ra mà được đương sự/người đại diện
của đương sự bên kia thừa nhận hoặc không phản đối: Luật TTDS cho rằng đây là
sự thể hiện quyền tự định đoạt của đương sự bên kia, và chừng nào còn chưa phát
hiện thấy dấu hiệu vi phạm pháp luật của hành vi này thì Luật phải tôn trọng
quyền đó của đương sự.
23
Ta có thể thấy rằng đối với những tình tiết, sự kiện thuộc không bắt buộc
nguồn này cũng là hình thức vật chất của chứng cứ, phù hợp với định nghĩa “công
cụ được sử dụng để làm rõ các tình tiết, sự kiện” ở trên.
“Điều 82. Chứng cứ được thu thập từ các nguồn sau đây:
1. Các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được;
2. Các vật chứng;
3. Lời khai của đương sự;
4. Lời khai của người làm chứng;
5. Kết luận giám định;
6. Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ;
7. Tập quán;
8. Kết quả định giá tài sản;
9. Các nguồn khác mà pháp luật có quy định.”
Sử dụng phương tiện chứng minh nào trong mỗi vụ việc dân sự là tùy thuộc
vào tình tiết, sự kiện thuộc đối tượng chứng minh của vụ việc dân sự cần giải
quyết. Vì thường thì mỗi phương tiện chỉ có thể chứng minh 1 số tình tiết, sự kiện
nhất định, đương sự có thể phải sử dụng một hoặc nhiều phương tiện trong 1 vụ
việc dân sự cụ thể. Đồng thời, những phương tiện chứng minh này cũng phải đáp
ứng được những điều kiện do pháp luật quy định. Như trên đã trình bày, Luật
TTDS không quy định cụ thể về phương tiện chứng minh, nhưng nếu ta xét
phương tiện chứng minh từ góc độ là nguồn, hình thức thể hiện của chứng cứ thì
Luật TTDS có quy định khá đầy đủ về những yêu cầu để một nguồn chứng cứ
được chấp nhận tại phiên tòa. Thứ nhất, những nguồn này phải được xác định
đúng là chứng cứ theo Điều 83 Luật TTDS 2004.
Điều 83. Xác định chứng cứ
1. Các tài liệu đọc được nội dung được coi là chứng cứ nếu là bản chính
hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có
thẩm quyền cung cấp, xác nhận.
25