Báo cáo " Các quy định về chứng minh trong tố tụng dân sự" - Pdf 12



§Æc san vÒ bé luËt tè tông d©n sù
4

T¹p chÝ luËt häc
ThS. NguyÔn C«ng B×nh *
hứng minh là một chế định lớn của
BLTTDS. Trong giới hạn của bài tạp
chí, tác giả chỉ xin trao đổi về quy định chủ
thể chứng minh, đối tượng chứng minh,
trình tự và thủ tục chứng minh của chế
định này.
- Về chủ thể chứng minh
Theo quy định tại các điều 6, 58, 64,
74, 79, 117, 118, 165, 230 v.v. của
BLTTDS, các chủ thể chứng minh trong tố
tụng dân sự bao gồm: các đương sự, người
đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của đương sự và toà án. Các chủ thể
chứng minh đều có quyền, nghĩa vụ chứng
minh. Tuy vậy, mỗi chủ thể tham gia tố
tụng dân sự đều xuất phát từ những mục
đích, nhiệm vụ khác nhau nên BLTTDS
quy định quyền, nghĩa vụ chứng minh của
các chủ thể khác nhau. Trong đó, BLTTDS
quy định đề cao vai trò, trách nhiệm chứng
minh của đương sự.

cộng, lợi ích của Nhà nước hoặc quyền và
lợi ích hợp pháp của người khác cũng có
nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu của
mình là có căn cứ và hợp pháp. Trong
trường hợp các cá nhân, cơ quan, tổ chức
này không thực hiện được nghĩa vụ chứng
minh của mình thì sẽ dẫn đến sự bất lợi
cho các đương sự.
Đối với người đại diện của đương sự,
trong BLTTDS không có điều luật nào quy
định trực tiếp quyền và nghĩa vụ chứng
C

* Giảng viên chính Khoa luật dân sự
Trường Đại học Luật Hà Nội §Æc san vÒ bé luËt tè tông d©n sù
T¹p chÝ luËt häc 5
minh của họ. Tuy vậy, theo Điều 74
BLTTDS, người đại diện của đương sự
thay mặt đương sự thực hiện các quyền,
nghĩa vụ tố tụng của đương sự nên nghĩa vụ
chứng minh của họ được hình thành trên cơ
sở quyền và nghĩa vụ chứng minh của
đương sự. Trong tố tụng dân sự, tuỳ theo
việc họ đại diện cho đương sự nào mà có
quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương
sự đó. Người đại diện theo pháp luật, người
đại diện do toà án chỉ định có quyền và

Các chứng cứ, tài liệu của đương sự và
những người tham gia tố tụng cung cấp đã
đủ để giải quyết vụ việc dân sự chưa? Nếu
thiếu thì toà án phải yêu cầu đương sự
cung cấp bổ sung. Đối với trường hợp
đương sự không thể tự mình thu thập được
chứng cứ và có yêu cầu thì toà án có thể
tiến hành thu thập chứng cứ (khoản 2 Điều
85 BLTTDS). Toà án thực hiện việc đánh
giá, công bố công khai chứng cứ trước khi
sử dụng (Điều 96, Điều 97 BLTTDS). Mặt
khác, toà án phải chỉ rõ cơ sở của quyết
định giải quyết vụ việc dân sự. Như vậy,
việc chứng minh của toà án mang tính hỗ
trợ cho việc chứng minh của đương sự và
phục vụ cho việc làm rõ cơ sở quyết định
của mình.
Việc thực hiện đúng và đầy đủ quyền
và nghĩa vụ chứng minh của mỗi một chủ
thể có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả giải
quyết vụ việc dân sự. Do vậy, BLTTDS
quy định các các chủ thể chứng minh phải
chịu trách nhiệm về việc thực hiện nghĩa
vụ chứng minh của họ. Chẳng hạn, theo
quy định tại khoản 3 Điều 79 BLTTDS,
nếu đương sự không thực hiện đầy đủ
hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ
chứng minh của mình thì phải chịu trách
nhiệm về việc đó.
- Về đối tượng chứng minh

tình tiết, sự kiện xuất phát từ tính chất rõ
ràng của chúng toà án có thể sử dụng để
giải quyết vụ việc dân sự mà không phải
xác định trong quá trình tố tụng, do đó
Điều 80 BLTTDS quy định những tình tiết,
sự kiện này không cần phải chứng minh.
Những tình tiết này bao gồm: Những tình
tiết, sự kiện mọi người đều biết; những
tình tiết, sự kiện đã được xác định trong
các bản án, quyết định của toà án hoặc
quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền; những tình tiết, sự kiện đã được ghi
trong văn bản được công chứng, chứng
thực hợp pháp.
Đối với những tình tiết, sự kiện mọi
người đều biết thì không phải chứng minh
vì mục đích của chứng minh là để làm rõ
tình tiết, sự kiện liên quan đến vụ việc dân
sự để giải quyết đúng vụ việc dân sự. Đối
với những tình tiết, sự kiện này không
chứng minh thì mọi người cũng đã biết rõ
về chúng. Tuy vậy, Điều 80 BLTTDS quy
định những tình tiết này phải được “toà án
thừa nhận” vì toà án có trách nhiệm giải
quyết vụ việc dân sự. Trên thực tế mức độ
phổ biến của các tình tiết, sự kiện mọi
người đều biết có thể rất khác nhau, có tình
tiết, sự kiện phổ biến ở phạm vi rất rộng
nhưng cũng có tình tiết, sự kiện chỉ phổ
biến ở phạm vi hẹp. Vấn đề đặt ra là tình

thủ tục tố tụng dân sự, giảm uy tín của toà
án và cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Để giải quyết nhanh được các vụ việc dân
sự, tránh những phức tạp không đáng có,
Điều 80 BLTTDS quy định khi giải quyết
vụ việc dân sự, toà án không cho chứng
minh lại những tình tiết, sự kiện đã được
xác định trong các bản án, quyết định của
toà án đã có hiệu lực pháp luật hoặc quyết
định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Đối với những tình tiết, sự kiện đã
được ghi trong văn bản và được công
chứng, chứng thực hợp pháp, Điều 80
BLTTDS quy định không phải chứng
minh. Bởi, những tình tiết, sự kiện này đã
được ghi lại dưới hình thức nhất định và
được cơ quan nhà nước có thẩm quyền
công chứng, chứng thực hợp pháp. Mặt
khác, phải bảo đảm giá trị các giấy tờ, tài
liệu đã được các cơ quan nhà nước công
chứng, chứng thực hợp pháp.
Ngoài ra, đối với những tình tiết, sự
kiện mà đương sự hoặc người đại diện của
đương sự bên này thừa nhận hoặc không
phản đối Điều 80 BLTTDS cũng quy định
đương sự bên kia không phải chứng minh.
Như vậy, sự thừa nhận của một bên đương
sự hay người đại diện của họ có giá trị miễn
nghĩa vụ chứng minh cho đương sự phía
bên kia. Vì một trong vấn đề thuộc bản chất

chứng cứ, tài liệu kèm theo. Trong quá
trình toà án giải quyết vụ việc dân sự,
đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp
chứng cứ cho toà án (Điều 84 BLTTDS).
Tại phiên toà, các bên đương sự được tham
gia tranh luận để chứng minh bảo vệ quyền
lợi của mình, thời gian tranh luận của họ
không hạn chế (Điều 233 BLTTDS). Kèm
theo đơn kháng cáo, người kháng cáo phải
gửi cho toà án các tài liệu, chứng cứ bổ
sung nếu có để chứng minh cho kháng cáo
của mình là có căn cứ và hợp pháp (Điều §Æc san vÒ bé luËt tè tông d©n sù
8

T¹p chÝ luËt häc

244 BLTTDS) v.v
Ngoài ra, BLTTDS cũng quy định được
các biện pháp, trình tự, thủ tục thu thập,
đánh giá và sử dụng chứng cứ của toà án.
Theo quy định tại Điều 85 BLTTDS, trong
trường hợp đương sự không tự mình thu
thập được và có yêu cầu thì thẩm phán có
thể tiến hành một hoặc một số biện pháp
thu thập chứng cứ. Khi áp dụng các biện
pháp thu thập chứng cứ, thẩm phán phải ra
quyết định bằng văn bản, trừ việc lấy lời

thực hiện nghĩa vụ chứng minh của họ,
tránh được sự ỷ lại vào toà án. Đối với đối
các sự kiện, tình tiết không phải chứng
minh lần đầu tiên cũng được quy định
trong BLTTDS, điều này có tác dụng
hướng các chủ thể chứng minh vào việc
chứng minh làm rõ những tình tiết, sự kiện
của vụ việc dân sự cần chứng minh, không
chứng minh những tình tiết, sự kiện của vụ
việc dân sự một cách không cần thiết, do
đó tiết kiệm được thời gian, sức lực trong
việc tham gia tố tụng của các chủ thể.
Ngoài ra, việc BLTTDS quy định tương
đối rõ ràng trình tự, thủ tục chứng minh
như trình tự, thủ tục cung cấp, thu thập
chứng cứ; trình tự, thủ tục trình bày, tranh
luận tại phiên toà v.v. đã tạo ra một cơ chế
tố tụng mới cần thiết cho các chủ thể
chứng minh thực hiện được các quyền và
nghĩa vụ chứng minh của họ. Mặt khác,
thực hiện việc công khai, dân chủ và minh
bạch các hoạt động tố tụng, bảo đảm được
việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
đương sự và việc giải quyết đúng vụ việc
dân sự của toà án. Để thực hiện đúng các
quy định của BLTTDS, thời gian qua Hội
đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao
đã ra Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 31
tháng 3 năm 2005 hướng dẫn thi hành
một số quy định trong Phần thứ nhất

vì vậy cũng không xác định được các
chứng cứ, tài liệu phải cung cấp cho toà án
để chứng minh bảo vệ quyền lợi của họ.
- Tại điểm c khoản 1 Điều 80 BLTTDS
có quy định những tình tiết, sự kiện đã
được ghi trong văn bản và được công
chứng và chứng thực hợp pháp thì không
phải chứng minh. Tuy vậy, trong trường
hợp toà án có nghi ngờ về tính đúng đắn
của việc công chứng, chứng thực thì những
tình tiết, sự kiện đã được công chứng,
chứng thực vẫn phải được xác định lại, tức
là vẫn phải chứng minh nhưng trong
BLLTTDS không quy định rõ có phải
chứng minh không và nếu phải chứng
minh thì ai có nghĩa vụ chứng minh. Thực
chất đây là chỉ những tình tiết, sự kiện
không phải chứng minh xuất phát từ một
sự suy đoán pháp lý. Đối với những tình
tiết, sự kiện này trong trường hợp cần thiết
vẫn có thể phải xác định lại.
- Quy định tại các điều 6, 85 BLTTDS
tuy đã đề cao vai trò chứng minh của
đương sự nhưng lại hạn chế sự chủ động
của toà án trong việc giải quyết vụ việc
dân sự, không bảo đảm cho toà án giải
quyết nhanh và đúng đắn các vụ việc dân
sự. Ví dụ, trong trường hợp phát hiện thấy
chứng cứ đang bị tiêu huỷ hoặc có nguy cơ
bị tiêu huỷ, toà án muốn chủ động thu thập

nhưng trong BLTTDS lại không có quy
định về các biện pháp họ được thực hiện để
xác minh, thu thập chứng cứ. Vậy, người
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự có thể áp dụng các biện pháp toà
án được áp dụng để thu thập chứng cứ
không? Trong trường hợp người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
bên này đưa ra chứng cứ mà người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
phía bên kia lại cho rằng việc thu thập
chứng cứ đó không hợp pháp thì toà án căn
cứ vào đâu để chấp nhận hay bác bỏ?
- Để thực hiện việc chứng minh dù
trong tố tụng dân sự hay trong tố tụng hình
sự thì các chủ thể đều phải sử dụng những
phương tiện chứng minh nhất định do pháp
luật quy định chứ không phải sử dụng bất
kỳ một phương tiện nào. Các phương tiện
chứng minh trong tố tụng hình sự hiện nay
đã được quy định tại khoản 2 Điều 64 Bộ
luật tố tụng hình sự nhưng các phương tiện
chứng minh trong tố tụng dân sự lại không
được BLTTDS quy định. Vậy khi chứng
minh, các chủ thể chứng minh được sử
dụng những phương tiện nào để chứng
minh? Việc sử dụng phương tiện nào được
coi là hợp pháp, việc sử dụng phương tiện
nào được coi là không hợp pháp?
- Đối với trách nhiệm không thực hiện

thực hiện được quyền, nghĩa vụ chứng
minh thì Điều 7, Điều 385 BLTTDS có quy
định trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá
nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cho
đương sự và biện pháp xử lý đối với những
trường hợp vi phạm. Tuy vậy, những quy
định này chưa cụ thể nên trên thực tế
đương sự vẫn gặp rất nhiều khó khăn trong
việc yêu cầu các cá nhân, cơ quan, tổ chức
cung cấp chứng cứ.
Để giải quyết được những vướng mắc
nêu trên về lâu dài thì phải sửa đổi, bổ §Æc san vÒ bé luËt tè tông d©n sù
T¹p chÝ luËt häc 11

sung các quy định về chứng minh của
BLTTDS. Trước mắt, cần phải có các
hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền theo
hướng sau đây:
- Những sự kiện, tình tiết phải chứng
minh bao gồm các sự kiện, tình tiết mà
quan hệ giữa các bên phụ thuộc vào nó và
các tình tiết, sự kiện khác có ý nghĩa cho
việc giải quyết vụ việc dân sự. Trong đó,
có cả các tình tiết mà các bên đương sự
đưa ra làm cơ sở cho yêu cầu của mình hay
hay phản đối yêu cầu của đương sự khác.
- Những tình tiết, sự kiện đã được ghi

mà pháp luật có quy định.
- Toà án có thể định cho đương sự một
thời hạn để giao nộp chứng cứ. Trong thời
hạn này đương sự phải có nghĩa vụ giao
nộp chứng cứ cho toà án, nếu không giao
nộp được thì phải nêu rõ lý do. Đối với
những trường hợp đương sự cố tình không
giao nộp chứng cứ đúng hạn thì toà án có thể
phạt tiền theo mức quy định của pháp luật.
Sau đó, đương sự vẫn không giao nộp, khi
toà án đã quyết định giải quyết vụ việc dân
sự mới giao nộp để căn cứ vào đó kháng cáo,
khiếu nại thì không được chấp nhận.
- Quy định cụ thể việc áp dụng các chế
tài đối với các trường hợp bị xử lý theo
quy định tại Điều 385 BLTTDS để nâng
cao trách nhiệm các chủ thể đối với việc
giải quyết vụ việc dân sự của toà án. Trong
đó, cần quy định hình thức xử lý cụ thể
người đứng đầu các cơ quan, tổ chức đối
với những trường hợp cơ quan, tổ chức
không chịu cung cấp chứng cứ, tài liệu khi
được toà án, đương sự, người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của đương sự yêu cầu
hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật gây trở
ngại cho việc giải quyết vụ án của toà án./.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status