Các tội cố ý xâm phạm tính mạng con người trong pháp luật hình sự việt nam - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

HOÀNG TIẾN MINH

CÁC TỘI CỐ Ý XÂM PHẠM TÍNH MẠNG CON
NGƯỜI TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - NĂM 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

HOÀNG TIẾN MINH

CÁC TỘI CỐ Ý XÂM PHẠM TÍNH MẠNG CON
NGƯỜI TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số


nghiệm quý báu trong suốt thời gian học tập tại trường.
Cám ơn Khoa Sau đại học, Trường Đại học Luật Hà Nội thực hiện quản
lý đào tạo, cung cấp thông tin cần thiết về quy chế đào tạo cũng như chương
trình đào tạo một cách kịp thời, tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành luận văn này
đúng tiến độ.
Cám ơn Toà án nhân dân tối cao và các Toà án nhân dân địa phương đã
giúp đỡ rất nhiều để tôi hoàn thành luận văn này.
Đặc biệt, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến cô giáo PGS. TS Dương Tuyết
Miên đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện
luận văn.
Cám ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã động viên giúp đỡ tôi trong
suốt thời gian học tập.
Tác giả luận văn


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS

Bộ luật hình sự

CTTP

Cấu thành tội phạm

HĐTP

Hội đồng thẩm phán

NLTNHS


7

con người có dấu hiệu hậu quả chết người là dấu hiệu bắt buộc của CTTP cơ bản
1.1.

Qui định của BLHS năm 1999 về các tội cố ý xâm phạm tính mạng

8

con người có dấu hiệu hậu quả chết người là dấu hiệu bắt buộc của CTTP cơ bản
1.1.1. Tội giết người

8

1.1.2. Tội giết con mới đẻ

23

1.1.3. Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

29

1.1.4. Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng

33

1.1.5. Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ

36



49

2.1.2. Tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát

55

2.1.3. Tội đe doạ giết người

60

2.1.4. Tội lây truyền HIV cho người khác

64

2.1.5. Tội cố ý truyền HIV cho người khác

69

2.1.6. Phương hướng hoàn thiện qui định của BLHS năm 1999 về các tội cố ý xâm phạ

71

tính mạng con người không có dấu hiệu hậu quả chết người là dấu hiệu bắt buộc của
CTTP cơ bản
2.2. Đánh giá qui định của BLHS năm 2015 về các tội cố ý xâm phạm tính mạng con
người không có dấu hiệu hậu quả chết người là dấu hiệu bắt buộc của CTTP cơ bản và

72


nhiều người để cướp tài sản, giết người sau đó chặt xác, đốt xác... Tình hình tội phạm
nói chung và các tội cố ý xâm phạm tính mạng con người nói riêng đang ở mức cao đe
doạ cuộc sống bình yên của nhân dân. Theo thống kê của Toà án nhân dân tối cao, trên
phạm vi toàn quốc: năm 2011, đã xét xử 1.510 vụ phạm các tội cố ý xâm phạm tính
mạng con người với 2.886 bị cáo chiếm 84,3 % tổng số vụ xâm phạm tính mạng con
người; năm 2012 đã xét xử 1.709 vụ phạm các tội cố ý xâm phạm tính mạng con người
với 3.272 bị cáo chiếm 92,9 % tổng số vụ xâm phạm tính mạng con người; năm 2013
đã xét xử 1.565 vụ với 2.872 bị cáo phạm các tội cố ý xâm phạm tính mạng con người
chiếm 93,9 % tổng số vụ các tội xâm phạm tính mạng con người; năm 2014 đã xét xử
1.547 vụ với 3.097 bị cáo phạm các tội cố ý xâm phạm tính mạng con người chiếm
92,0 % tổng số vụ xâm phạm tính mạng con người; năm 2015 đã xét xử 1.237 vụ với
2.374 bị cáo chiếm 91,0 % tổng số vụ xâm phạm tính mạng con người1. Số liệu này
cho ta thấy số vụ cố ý xâm phạm tính mạng con người chiếm tỉ lệ rất cao trong nhóm
các tội xâm phạm tính mạng con người. Để ngăn chặn có hiệu quả các tội cố ý xâm
phạm tính mạng con người, Nhà nước cần thực hiện tổng thể các biện pháp khác nhau
1

Số liệu từ phòng tổng hợp, Tòa án nhân dân tối cao


2

trong đó, biện pháp hoàn thiện BLHS đóng vai trò cực kì quan trọng. Vì vậy, vấn đề
đặt ra là cần nghiên cứu các quy định của BLHS hiện hành, đặc biệt là quy định về các
tội cố ý xâm phạm tính mạng con người để đánh giá, tìm ra những điểm hạn chế, bất
cập trên cơ sở đó, đề xuất những biện pháp cụ thể nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu
quả công tác phòng và đấu tranh chống loại tội phạm này.
Chính vì những lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Các tội cố ý xâm phạm
tính mạng của con người trong pháp luật Hình sự Việt Nam” là luận văn thạc sỹ
của mình.

+ “Các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người
– so sánh giữa BLHS năm 1999 và BLHS năm 1985”, tác giả Nguyễn Ngọc Hoà, Tạp
chí Luật học số 1, năm 2001;
+“Bàn về dấu hiệu cấu thành Tội giết con mới đẻ theo Điều 94 Bộ luật hình sự
năm 1999 và một số vấn đề cần lưu ý khi định tội danh”, tác giả Trần Minh Hưởng,
tạp chí Kiểm sát nhân dân, số 22, năm 2010;
+ “Một số vấn đề cần chú ý khi áp dụng tội giết con mới đẻ trong Bộ luật hình
sự năm 1999”, tác giả Đặng Thu Hiền, tạp chí dân chủ và pháp luật, số chuyên đề 7,
năm 2010;
+ “Những điểm mới cơ bản về các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân
phẩm, danh dự của con người trong Bộ luật Hình sự năm 1999”, tác giả Trần Văn
Luyện, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 3, năm 2001;
+ “Cần có hướng dẫn cụ thể về trường hợp không cứu giúp người đang ở trong
tình trạng nguy hiểm đến tính mạng được coi là tội phạm” Nguyễn Văn Bốn, Tạp chí
Kiểm sát nhân dân, Số 11, năm 2002;
+“Phân biệt tội giết người với một số tội phạm khác xâm phạm tính mạng con
người”, tác giả Đỗ Đức Hồng Hà, Tạp chí Toà án nhân dân tối cao, Số 2 và 4, năm
2003;
+ “Dấu hiệu thấy người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng
quy định tại điều 102 Bộ luật Hình sự”, tác giả Nguyễn Văn Hương, Tạp chí Toà án
nhân dân tối cao, số 5, năm 2004;
+ “Bàn về trách nhiệm hình sự đối với hành vi chống người thi hành công vụ và
xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm người thi hành công vụ hoặc vì lý
do công vụ của nạn nhân”, tác giả Mai Bộ, Tạp chí Kiểm sát nhân dân, số 17, năm
2014…
Ngoài ra, các giáo trình của các cơ sở đào tạo luật trên cả nước đều đề cập đến
nhóm các tội cố ý xâm phạm tính mạng con người như: Giáo trình Luật Hình sự Việt
Nam, tập 1 của Trường ĐH Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2006; Giáo
trình Luật Hình sự Việt Nam của Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học


tính mạng con người không có dấu hiệu hậu quả chết người là dấu hiệu bắt buộc của
CTTP cơ bản. Trong từng nhóm này, tác giả sẽ phân tích các dấu hiệu pháp lý, đường
lối xử lý của các tội này, tìm ra những bất cập của Bộ luật này khi qui định về nhóm
tội trên và đề xuất kiến nghị hoàn thiện;


5

- Cũng theo cách chia nhóm nói trên, đối với BLHS năm 2015, tác giả sẽ đánh
giá điểm mới của của BLHS năm 2015 đối với các tội này, chỉ ra BLHS năm 2015 đã
khắc phục được bất cập nào của BLHS năm 1999, những bất cập nào của BLHS năm
1999 mà BLHS năm 2015 vẫn chưa giải quyết được hoặc giải quyết chưa triệt để, từ
đó đề xuất kiến nghị hoàn thiện BLHS năm 2015.
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các qui định của BLHS năm 1999 về các
tội cố ý xâm phạm tính mạng con người; bên cạnh đó, luận văn cũng nghiên cứu qui
định của BLHS năm 2015 đối với các tội cố ý xâm phạm tính mạng con người.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dưới góc độ Luật hình sự. Tác giả tập trung nghiên
cứu qui định chương XII của BLHS năm 1999 về các tội cố ý xâm phạm tính mạng
con người2, bên cạnh đó, tác giả cũng nghiên cứu, đánh giá qui định tương ứng của
BLHS năm 2015 về nhóm tội này.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận tác giả sử dụng nghiên cứu luận văn là phương pháp luận của
chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh, các
quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về hình sự và cải cách tư pháp.
Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng là phương pháp phân tích, so
sánh, tổng hợp, lịch sử,…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

cơ bản


7

Chương 1
QUI ĐỊNH CỦA LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ CÁC TỘI CỐ Ý XÂM PHẠM
TÍNH MẠNG CON NGƯỜI CÓ DẤU HIỆU HẬU QUẢ CHẾT NGƯỜI LÀ
DẤU HIỆU BẮT BUỘC CỦA CTTP CƠ BẢN
…………………
Các tội cố ý xâm phạm tính mạng con người là những hành vi nguy hiểm cho
xã hội, xâm hại tính mạng người khác, được quy định trong BLHS, do người có năng
lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý, xâm phạm đến quyền sống của con
người. Trong phạm vi của luận văn, tác giả chỉ nghiên cứu các tội cố ý xâm phạm tính
mạng của con người được qui định trong Chương XII (Các tội xâm phạm tính mạng,
sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của con người)3. Để thuận tiện cho việc nghiên cứu, tác
giả sẽ chia các tội này làm 2 nhóm:
Nhóm thứ nhất - Các tội cố ý xâm phạm tính mạng con người có dấu hiệu hậu
quả chết người là dấu hiệu bắt buộc của CTTP cơ bản. Nhóm này gồm các tội sau: a)
Tội giết người (Điều 93); b) Tội giết con mới đẻ (Điều 94); c)Tội giết người trong
trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 95); d) Tội giết người do vượt quá phòng
vệ chính đáng (Điều 96); đ) Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ (Điều 97);
e) Tội không cứu giúp người đang ở tình trạng nguy hiểm đến tính mạng (Điều 102).
Nhóm thứ hai - Các tội cố ý xâm phạm tính mạng con người không có dấu hiệu
hậu quả chết người là dấu hiệu bắt buộc của CTTP cơ bản. Nhóm này bao gồm các tội:
a) Tội bức tử (Điều 100); b) Tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát (Điều 101); c)
Tội đe doạ giết người (Điều 103); d) Tội lây truyền HIV cho người khác (Điều 117);
đ) Tội cố ý truyền HIV cho người khác (Điều 118).
Qui định về các tội cố ý xâm phạm tính mạng con người gồm có dấu hiệu pháp
lí và đường lối xử lý. Do vậy, tại chương 1, tác giả sẽ làm rõ các dấu hiệu pháp lí,

Đối tượng tác động của tội giết người chỉ có thể là con người đang sống, vậy
hiểu thế nào là người đang sống? “Thời điểm bắt đầu của con người đang sống được
tính từ thời điểm được sinh ra và kết thúc khi sự sống thực sự chấm dứt”4.
Tuy nhiên, về thời điểm bắt đầu sự sống của con người, ở Việt Nam hiện nay
có quan điểm khác cho rằng “cuộc sống của một con người được bắt đầu từ khi người
mẹ đang đẻ, vào một thời điểm một phần cơ thể của thai nhi được nhìn thấy từ bên
ngoài qua cửa mình của người mẹ.”5 Bởi vì, sinh ra một con người là một quá trình, từ
thời điểm bắt đầu sinh cho đến khi kết thúc. Theo quan điểm này, “kể từ thời điểm bắt
đầu được sinh ra đứa trẻ đã tách khỏi bào thai của cơ thể mẹ. Lúc này đứa trẻ chỉ còn
dính với cơ thể mẹ qua rau thai. Tất cả mạch máu, dây chằng, đường dẫn khí và dinh
dưỡng từ mẹ vào con đều đã bị cắt đứt. Do đó, có thể coi thời điểm này là thời điểm
đứa trẻ đã tách khỏi cơ thể người mẹ chuẩn bị chui ra ngoài để trở thành thực thể tự
nhiên độc lập” 6. Tác giả không đồng ý với quan điểm trên, với lý do, sự sống của con
người chỉ được xác định khi đứa trẻ được sinh ra, đã tách rời khỏi cơ thể người mẹ và
cất tiếng khóc chào đời; đứa trẻ phải còn sống và trở thành một cơ thể độc lập hay một
thực thể tự nhiên độc lập và không còn là một phần thuộc cơ thể người mẹ. “Trên
4

Trường Đại học luật Hà Nội (2014), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Tập 1, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội,
tr.377.
5
Xem Trần Hữu Ứng (1993), “Thời điểm bắt đầu và kết thúc sự sống của con người nhìn từ góc độ luật học”,
Tạp chí Toà án nhân dân, (10), tr.11
6
Đỗ Đức Hồng Hà (2008), “Tội giết người và đấu tranh phòng chống tội phạm giết người ở Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay”, Nxb Tư Pháp, Hà Nội, tr. 24


9


http://khoahoc.tv/chet-nao-va-cai-chet-cua-con-nguoi-5990 truy cập ngày 23/7/2016
8
Nguyễn Hoài Nam (2006), “Chết não và cái chết của con người” Báo Khoahoc.tv, tại địa chỉ
http://khoahoc.tv/chet-nao-va-cai-chet-cua-con-nguoi-5990 truy cập ngày 23/7/2016
9
Trường Đại học luật Hà Nội (2014), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Tập 1, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội,
tr. 368
10
Trường Đại học luật Hà Nội (2014), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Tập 1, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội,
tr.91.


10

thế cấp thiết,…) hoặc tước đoạt tính mạng không phải của người khác – hành vi tước
đoạt tính mạng của chính mình (hành vi tự sát) thì không phải là hành vi khách quan
của tội giết người.
“Hành vi tước đoạt tính mạng của người khác được hiểu là hành vi có khả
năng gây ra cái chết cho con người, chấm dứt sự sống của họ”11. Hành vi khách quan
của tội giết người được thể hiện dưới hai hình thức: hành động như đâm, bắn, chém,
đầu độc… hoặc không hành động như mẹ cố tình không cho con bú, y tá cố tình không
cho bệnh nhân uống thuốc,…
Thứ hai, hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội giết người đó chính là hậu quả
chết người. Tội giết người là tội có cấu thành vật chất, tội phạm hoàn thành khi hậu
quả chết người đã xảy ra, nói cách khác hậu quả chết người là dấu hiệu bắt buộc trong
CTTP tội giết người.
Xin nêu ví dụ điển hình: “Vì nguyên nhân mâu thuẫn trong tình cảm vợ chồng,
chị Trần Thị Dụ đã xin ly hôn với chồng là Nguyễn Hữu Khính nhưng anh Khính
không đồng ý. Chị Dụ đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ, đến ngày 2/9/2015 thì Khính đến gặp
chị Dụ để thuyết phục vợ không nên ly hôn, chị Dụ không đồng ý. Khính đã dùng tay

khác phát hiện đưa đi cấp cứu nên còn sống. Trường hợp này, người phạm tội đã phạm
tội giết người thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt đã hoàn thành.
+ Trường hợp người phạm tội đang thực hiện hành vi khách quan của tội giết
người (đã thực hiện hành vi khách quan, nhưng chưa thực hiện hết) thì bị dừng lại do
nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của người phạm tội và hậu quả chết người
chưa xảy ra. Trường hợp này, người phạm tội đã phạm tội giết người thuộc trường hợp
phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành.
+ Trường hợp sai lầm về đối tượng tác động. Ví dụ người phạm tội buổi đêm
lén lút vào phòng của chủ tài sản và lao tới bóp cổ nạn nhân, tin rằng nạn nhân đã chết,
người phạm tội mới buông tay và bỏ đi. Nhưng khám nghiệm pháp y lại xác định rằng
nạn nhân đã chết do bị suy tim trước khi người phạm tội thực hiện hành vi nói trên và
người phạm tội cũng không hề biết nạn nhân đã chết trước đó. Trường hợp này, người
phạm tội đã phạm tội giết người thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt vô hiệu.
- Đối với lỗi cố ý gián tiếp: nếu hậu quả chết người chưa xảy ra thì người phạm
tội phải chịu TNHS về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác (và trong trường hợp này thương tích xảy ra phải thoả mãn đòi hỏi của
CTTP của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác);
nếu không có hậu quả gì xảy ra thì người thực hiện hành vi không phải chịu TNHS về
bất cứ tội danh nào, tức là không có tội.
Thứ ba, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan của tội giết người và
hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội giết người là một dấu hiệu bắt buộc của mặt
khách quan của tội giết người đã hoàn thành. Vì lý do hậu quả chết người là dấu hiệu
bắt buộc trong CTTP tội giết người. Trong đó, mối quan hệ này phải thoả mãn các đặc
điểm sau:
+ Về mặt thời gian, hành vi khách quan của tội giết người phải xảy ra trước hậu
quả chết người;


12



13

Bản án HSST số 30/2001 ngày 27 tháng 03 năm 2001 của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long


13

người phạm tội đó.”14 Cụ thể, trường hợp phạm tội giết người với lỗi cố ý trực tiếp,
hình phạt phải nghiêm khắc hơn giết người với lỗi cố ý gián tiếp (trong điều kiện các
tình tiết khác tương đương). “Muốn xác định đúng lỗi của người phạm tội đối với cái
chết của nạn nhân là cố ý hay vô ý cần phải làm sáng tỏ hai vấn đề: Một là, người
phạm tội có thấy trước hậu quả chết người không? Hai là, nếu thấy trước thì họ mong
muốn, chấp nhận hay loại trừ khả năng hậu quả này xảy ra? Nếu vấn đề thứ nhất đã
được xác định là không thì có thể loại trừ ngay khả năng lỗi cố ý giết người”.15
Chú ý rằng: “Trong trường hợp hậu quả chết người đã xảy ra, việc xác định lỗi
là cố ý trực tiếp hay cố ý gián tiếp không có ý nghĩa trong việc định tội nhưng việc xác
định này sẽ có ý nghĩa hết sức quan trọng nếu người phạm tội đã thực hiện hành vi
khách quan nhưng hậu quả chết người chưa xảy ra.”16 Cụ thể, tác giả đã trình bày ở
phần trên của luận văn khi phân tích về dấu hiệu hậu quả của tội giết người.
Trong mặt chủ quan của cấu thành tội giết người, ngoài dấu hiệu lỗi còn các
dấu hiệu khác không bắt buộc là động cơ, mục đích. Trong một số trường hợp, việc
xác định dấu hiệu động cơ, mục đích sẽ có ý nghĩa trong việc góp phần định đúng tội
và xác định đúng khung hình phạt, phân biệt giữa tội giết người với tội phạm khác
cũng có hành vi tước đoạt tính mạng của nạn nhân.
Chủ thể của tội giết người: Chủ thể của tội giết người là những người có đủ
năng lực trách nhiệm hình sự (NLTNHS) và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (TNHS).
Căn cứ theo qui định tại khoản 2, Điều 12; khoản 3, Điều 8 và Điều 93 BLHS năm
1999 thì chủ thể của tội giết người là những người từ đủ 14 tuổi trở lên. Qui định này
dựa trên cơ sở nghiên cứu tâm sinh lí con người Việt Nam, thực tiễn của quá trình đấu

hành vi do mình thực hiện. Những năm gần đây, số tuổi trẻ em dưới 14 tuổi thực hiện
các hành vi được quy định trong Bộ luật hình sự ngày càng nhiều, không ít vụ việc hết
sức nghiêm trọng và đang có chiều hướng gia tăng. Do pháp luật không buộc người
dưới 14 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự nên không ít người lợi dụng trẻ em dưới 14
tuổi vào việc thực hiện các hành vi trái pháp luật như buôn lậu, buôn bán ma túy…
Trong khi đó, pháp luật nhiều nước trên thế giới đều quy định độ tuổi phải chịu trách
nhiệm hình sự rất sớm, trong đó nhóm nước quy định độ tuổi bắt đầu phải chịu trách
nhiệm hình sự là 12 tuổi chiếm khá đông..”18.
Quan điểm thứ hai cho rằng: “nên tăng độ tuổi chịu TNHS của người phạm tội
nói chung và người phạm tội giết người lên 15 hoặc 16 tuổi; bởi vì, xã hội càng phát
triển thì độ tuổi chịu TNHS càng cao, điều này thể hiện truyền thống lập pháp và chính
sách hình sự của một quốc gia trong việc xử lý người chưa thành niên phạm tội.”19
Quan điểm này cho rằng, xã hội càng văn minh thì độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự
càng cao.
Có thể thấy, tình hình tội phạm ở nước ta hiện nay, số lượng người chưa thành
niên phạm tội ngày càng gia tăng về cả số lượng lẫn tính chất nguy hiểm của hành vi
phạm tội. Tuy nhiên, người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ về mặt thể
17

Xem Vũ Việt Hà, Hà Minh Thảo (2015), “Nên quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự sớm hơn”, Luật sư Việt
Nam, Liên đoàn Luật sư Việt Nam, (11), tr 10- 14. Hoặc xem Chung Hoàng (2016), “Giảm tuổi chịu TNHS của
người chưa thành niên”, Báo điện tử Vietnamnet.vn, tại địa chỉ: http://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/230948/giamtuoi-chiu-trach-nhiem-hinh-su-cua-nguoi-tre.html truy cập ngày 23/7/2016
18
Xem Minh Tuấn (2013), “Cần qui định tuổi chịu trách nhiệm hình sự sớm hơn”, báo điện tử Vnmedia, tại địa
chỉ:http://www.vnmedia.vn/phap-luat/an-ninh-xh/201307/can-quy-dinh-tuoi-chiu-trach-nhiem-hinh-su-som-hon-412833/, truy cập ngày 23/7/2016
19
Xem Đỗ Đức Hồng Hà (2006), Tội giết người trong Luật Hình sự Việt Nam và đấu tranh phòng, chống loại
tội phạm này, Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr.32



mức độ tàn ác rất cao của can phạm mà tác hại gây ra cũng lớn hơn nhiều so với

20

Xem Dương Tuyết Miên (2015), “Một số ý kiến về tuổi chịu TNHS và biện pháp thay thế hình sự trong Dự
thảo BLHS sửa đổi ”, Tạp chí tòa án nhân dân, (18), Tr.1


16

trường hợp giết một người. Cho nên, thực tiễn xét xử cũng coi đây là một tình tiết
nghiêm trọng vào bậc nhất”.21
Ví dụ: Trần Văn Giang đã có hành vi giết người rất dã man bằng cách tưới xăng
vào người vợ là chị Đàm khi chị đang bế con 6 tháng tuổi trên tay rồi bật lửa đốt làm
nạn nhân Nguyễn Thị Oanh Đàm và cháu Trần Văn Đoàn đều tử vong. Trường hợp
này, tên Giang đã giết 2 người là vợ và con thỏa mãn tình tiết “giết nhiều người”. Bên
cạnh đó, tên Giang còn thỏa mãn tình tiết định khung tăng nặng khác là giết trẻ em.22
b. Giết phụ nữ mà biết là có thai: “Giết phụ nữ biết là có thai” là trường hợp
người phạm tội biết rõ người mình giết là phụ nữ đang có thai (không kể tháng thứ
mấy). Trường hợp giết người này bị coi là trường hợp tăng nặng vì hành vi phạm tội
xâm phạm đối tượng cần được xã hội quan tâm và bảo vệ đặc biệt, thể hiện rõ người
phạm tội thực hiện hành vi rất vô nhân tính. “Hành vi giết phụ nữ mà biết là có thai
thể hiện tính vô nhân đạo cao độ, rất khác so với trường hợp phạm tội giết người
thông thường. Hành vi phạm tội không chỉ xâm phạm đến tính mạng của người mẹ mà
con xâm phạm đến sự sống trong tương lai của đứa con.”23 Trường hợp người phạm
tội có hành vi giết người, nhưng thực sự không biết nạn nhân đang mang thai (như
không quen biết nạn nhân, nạn nhân mới có thai 6 tuần tuổi, ngoại hình bên ngoài của
người phụ nữ không thể hiện là có thai) thì không thỏa mãn tình tiết tăng nặng này mà
xác định là phạm tội thuộc trường hợp thông thường (K2 Điều 93)
c. Giết trẻ em: Theo điều 1, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em thì “trẻ

qui định người phạm tội phải “biết”, do vậy, trên thực tế, nếu hành vi của người phạm
tội thỏa mãn tình tiết này thì áp dụng như bình thường. Vì vậy, để áp dụng tình tiết
tăng nặng định khung “giết trẻ em” đối với tội giết người chỉ cần xác định nạn nhân là
người dưới 16 tuổi.
Ví dụ: Do mâu thuẫn cá nhân, Nguyễn Hữu Cường đã dùng dao đâm vào vùng
lưng bên phải của cháu Trần Văn Minh (15 tuổi), vết thương thấu lưng thủng thuỳ gan
phải làm cháu Minh chết.26Trường hợp này, do nạn nhân mới có 15 tuổi (dưới 16 tuổi),
do vậy tên Cường đã phạm tội giết người với tình tiết tăng nặng giết trẻ em).
d. Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân
+ Giết người đang thi hành công vụ
Đây là trường hợp giết người mà tại thời điểm xảy ra hành vi giết người, nạn
nhân đang thực hiện một nhiệm vụ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao phó và
động cơ giết người không liên quan đến công vụ của nạn nhân. “Nhiệm vụ được giao
có thể là đương nhiên do nghề nghiệp quy định: cán bộ chiến sĩ công an nhân dân đang
làm nhiệm vụ bảo vệ, thầy thuốc đang điều trị tại bệnh viện; thầy giáo đang giảng bài
hoặc hướng dẫn học sinh tham quan, nghỉ mát; thẩm phán đang xét xử tại phiên toà;
cán bộ thuế đang thu thuế; thanh niên cờ đỏ, dân quân tự vệ đang làm nhiệm vụ bảo vệ
trật tự ở nơi công cộng,… Hoặc nạn nhân là những người tuy không được giao nhiệm
vụ nhưng họ tự nguyện tham gia vào việc giữ gìn an ninh chính trị và trật tự an toàn xã
hội trong một số trường hợp nhất định như: đuổi bắt người phạm tội bỏ trốn; can ngăn,
hoà giải những vụ đánh nhau ở nơi công cộng,…”27
+ Giết người vì lý do công vụ của nạn nhân
25

Xem Đỗ Đức Hồng Hà (2001), Tội giết người trong luật hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ, Đại học Luật
Hà Nội, Hà Nội, tr.63
26
Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2015/HSST ngày 13 tháng 01 năm 2015 của Toà án Nhân dân Tỉnh Nghệ An.
27
Đinh Văn Quế (1994), Trách nhiệm hình sự đối với hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ của con người,

giết người”, nếu như tội phạm được thực hiện trước tội giết người hoặc tội phạm thực
hiện sau tội giết người hầu như không có khoảng cách về thời gian với tội giết người
hoặc có khoảng cách về thời gian nhưng là không đáng kể. Ví dụ, vừa hiếp dâm xong
nạn nhân, người phạm tội đã bóp cổ nạn nhân chết rồi mới bỏ đi; hoặc sau khi giết chết
nạn nhân trong phòng ngủ, người phạm tội liền phóng hỏa đốt nhà rồi mới bỏ trốn.

28

Trường Đại học luật Hà Nội (2014), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Tập 1, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội,
tr.382



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status