Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ tỉnh Bắc Kan (Luận văn thạc sĩ) - Pdf 48

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN HOÀNG TÙNG

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT
CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ RỪNG
TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN KIM HỶ TỈNH BẮC KẠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM HỌC

Thái Nguyên - 2017


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN HOÀNG TÙNG

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT
CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ RỪNG
TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN KIM HỶ TỈNH BẮC KẠN
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60 62 02 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. LÊ SỸ TRUNG

Thái Nguyên - 2017




iii

MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ ................................................................................................... 1
1. Sự cần thiết .................................................................................................... 1
2. Mục tiêu......................................................................................................... 3
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ...................................................... 3
3.1. Ý nghĩa khoa học ....................................................................................... 3
3.2. Ý nghĩa thực tiễn ........................................................................................ 3
Chương 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU .............................. 4
1.1. Trên thế giới ............................................................................................... 4
1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển rừng đặc dụng ..................................... 4
1.1.2. Tổ chức quản lý rừng đặc dụng............................................................... 5
1.1.3. Các nghiên cứu về tài nguyên rừng đặc dụng ......................................... 5
1.1.4. Các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến rừng đặc dụng ................ 7
1.2. Ở Việt Nam ................................................................................................ 9
1.2.1. Lịch sử hình thành và phát triển rừng đặc dụng ..................................... 9
1.2.2. Tổ chức quản lý rừng đặc dụng............................................................. 11
1.2.3. Các nghiên cứu về tài nguyên rừng đặc dụng ....................................... 13
1.2.4. Các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến rừng đặc dụng .............. 14
1.3. Đánh giá chung ........................................................................................ 17
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NỘI DUNG VÀ .................................. 19
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU................................................................... 19
2.1 . Đối tượng, giới hạn và phạm vi nghiên cứu .......................................... 19
2.2. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 19
2.3. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................... 20
2.3.2. Phương pháp nghiên cứu....................................................................... 23



v

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BQL KBTTN: Bản quản lý khu bảo tồn thiên nhiên
BTTN : Bảo tồn thiên nhiên
BVNN: Bảo vệ nghiêm ngặt
BV&PTR: bảo vệ và phát triển rừng
BĐKH: Biến đổi khí hậu
BTĐDSH; Bảo tồn đa dạng sinh học
CĐĐP: Cộng đồng địa phương
CNQSDĐ: Chứng nhận quyền sử dụng đất
DVHC: Dịch vụ hành chính
ĐDSH: Đa dạng sinh học
FAO : Tổ chức nông lâm thế giới
HGĐ: Hộ gia đình
IUCN : Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế
KBT: Khu bảo tồn
KBTTN : Khu bảo tồn thiên nhiên
KT-XH: Kinh tế- xã hội
KHKT: Khoa học kỹ thuật
LSNG : Lâm sản ngoài gỗ
NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn
PCCCR : Phòng cháy chữa cháy rừng
PHST: Phục hồi sinh thái
QLBVR : Quản lý bảo vệ rừng
QLTNR: Quản lý tài nguyên rừng
RĐD : Rừng đặc dụng
REDD+ : Chương trình giảm phát thải khí nhà kính thông qua nỗ lực hạn chế
mất rừng và suy thoái rừng

Bảng 3.16. Thống kê mức độ khai thác gỗ và sử dụng gỗ của các HGĐ .................68
Bảng 3. 17. Thống kê mức độ khai thác gỗ củi của các HGĐ ..................................68
Bảng 3. 18. Mức độ khai thác và nhu cầu sử dụng LSNG khu vực nghiên cứu................68
Bảng số 3.19. Nhu cầu khai thác củi làm chất đốt của các HGĐ .............................68
Bảng 3.20. Nhu cầu và khả năng đáp ứng lương thực của các HGĐ ..............................69


vii

DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1. Sơ đồ hệ thống tổ chức QLBV&PTR và các tổ chức phối hợp thực hiện .........32
Hình 3.2. Sơ đồ VENN các bên liên quan đến quản lý tài nguyên rừng ..................64


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Sự cần thiết
Để hạn chế suy thoái tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn loài, bảo vệ môi trường,
quản lý và phát triển bền vững tài nguyên rừng; đặc biệt là nguồn tài nguyên thiên
nhiên của các khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) và Vườn quốc gia (VQG) có vai
trò hết sức quan trọng trong việc bảo tồn nguồn gen, đa dạng sinh học, bảo vệ môi
trường, nghiên cứu khoa học, du lịch sinh thái…đã mang lại lợi ích cho mỗi Quốc
gia, mỗi cộng đồng mà trực tiếp là con người thụ hưởng. Hiện nay các khu bảo tồn
(KBT) đã và đang gặp nhiều khó khăn thách thức trong công tác quản lý bảo vệ
nguồn tài nguyên thiên nhiên tại các KBT và VQG trên phạm vi cả nước.
Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Kim Hỷ được thành lập theo Quyết định
1804/QĐ-UB, ngày 01/9/2003 của UBND tỉnh Bắc Kạn, có tổng diện tích là 15.416
ha. Năm 2007, UBND tỉnh Bắc Kạn có Quyết định số 757/2007/QĐ-UBND, ngày
21/5/2007 về việc phê duyệt kết quả rà soát quy hoạch lại 3 loại rừng tỉnh Bắc Kạn,

hưởng không nhỏ đến công tác quản lý bảo vệ rừng trong KBT. Ngoài ra một số
người dân địa phương cũng có sự tham gia, tiếp tay, vận chuyển cho các đối tượng
buôn bán lâm sản trái phép.
Trước thực trạng tình hình trên, Ban Quản lý KBTTN Kim Hỷ và Hạt Kiểm
lâm thường xuyên tăng cường, tham mưu cho cấp ủy, chính quyền và phối hợp với
các ngành chức năng của tỉnh, huyện tổ chức nhiều đợt tuần tra, kiểm tra truy quét,
trục xuất các đối tượng khai thác vàng, lâm sản trái phép ra khỏi KBT. Hiện nay tình
trạng khai thác vàng sa khoáng, khai thác gỗ trái phép trong khu bảo tồn đã giảm
đáng kể. Tuy nhiên, vẫn còn diễn ra một số điểm khai thác vàng lén lút trong các
lũng vùng lõi của KBT gây ra nhiều khó khăn trong công quản lý tài nguyên rừng.
Xuất phát từ tình hình thực tế hiện tại KBTTN Kim Hỷ tỉnh Bắc Kạn đang bị
xâm hại trong nhiều năm qua rất cần có sự chung tay tham gia quản lý bảo vệ rừng
của mọi cấp ngành, cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, đặc biệt cộng đồng người
dân địa phương sở tại. Chính vì vậy, thực hiên đề tài: “Đánh giá hiện trạng và đề
xuất các giải pháp quản lý rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ - tỉnh Bắc
Kan”, nhằm góp phần nhỏ bé của mình vào việc quản lý tài nguyên rừng ở KBTTN
Kim Hỷ được tốt hơn.


3

2. Mục tiêu
- Phân tích, đánh giá được công tác quản lý bảo vệ rừng tại KBTTN Kim Hỷ.
- Xác định được các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý tài nguyên rừng trong
KBTTN Kim Hỷ.
- Đề xuất được các giải pháp giảm thiểu sự tác động bất lợi đối với tài nguyên
rừng trong KBTTN Kim Hỷ.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
Các kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học cho việc đề xuất các nguyên tắc và

KBT và mục đích bảo tồn tài nguyên đã không đạt được [15]. Hầu hết các KBT đều
được thiết lập vì mục đích quốc gia, mà ít nghĩ đến các nhu cầu và mong muốn của
người dân địa phương. Dựa trên mô hình của Mỹ, phương thức quản lý của nhiều
VQG và KBT chủ yếu bao gồm việc ngăn cấm người dân địa phương xâm nhập vào
KBT và khai thác TNR. Tại các nước Đông Nam Á, phương thức này tỏ ra không
thích hợp vì để duy trì sự ĐDSH thì người dân địa phương bị mất quyền tiếp cận
với nguồn TNR, trong khi sự phụ thuộc của họ vào TNR là rất lớn [12].
Trong vài thập kỷ qua, các KBTTN trên thế giới có xu hướng tăng cả về số
lượng và diện tích. Hiện nay trên thế giới có 100.000 khu BTTN (tạp chí KBTTN
tập 14, số 3, năm 2014) chiếm 11,7% diện tích đất liền toàn thế gới. Vườn Quốc gia
chiếm số lượng và diện tích lớn nhất, tiếp đến là các KBT loài và sinh cảnh. Tuy
nhiên, để đảm bảo thực hiện một hệ thống quản lý phù hợp trên thực tế nhằm hiện


5

thực hóa các lợi ích tiềm năng mà KBTTN có thể đem lại vấn còn là thách thức lớn
tại rất nhiều nới trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
1.1.2. Tổ chức quản lý rừng đặc dụng
Công ước ĐDSH (1992) xác định các khu BTTN là công cụ hữu hiệu và có
vai trò quan trọng trong bảo tồn ĐDSH “tại chỗ” tại điều 8 “Bảo tồn tại chỗ” của
Công ước có các mục (a) (b) và (c) quy định rõ các nước tham gia công ước ĐDSH
có trách nhiệm thành lập hệ thống các KBTTN, xây dựng hướng dẫn lựa chọn,
thành lập quản lý các KBTTN và quản lý các tài nguyên sinh học trong các KBTTN
để đảm bảo bảo tồn và sự dụng bền vững.[9]
Trong quá trình hình thành và phát triển các KBTTN, mối nước đều có cách
tiếp cận riêng, không có các tiêu chuẩn hoặc thuật ngữ chung, điều này gây trở ngại
cho việc chia sẻ các ý tưởng và kinh nghiệm về KBTTN trong phạm vi khu vực và
toàn cầu. Những nỗ lực đầu tiên nhằm làm rõ những thuật ngữ và phân hạng các
KBTTN được ghi nhận vào năm 1993. Hệ thống phân hạng quốc tế KBTTN đầu

rụng, gỗ khô…Việc khai thác gỗ đã bị cấm nhưng đôi khi vẫn xảy ra tình trạng khai
thác gỗ trộm (FAO, 1996). Một nghiên cứu về lâm nghiệp công đồng bên ngoài khu
rừng đặc dụng đã chỉ ra răng các khu rừng không chỉ cung cấp tiềm năng to lớn để
xóa đói giảm nghèo và tăng trưởng kinh tế nông thôn ở Ấn Độ mà vẫn hỗ trợ tốt
mục tiêu quan trọng là bảo tồn.
Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa bảo tồn ĐDSH và phát triển đã trở thành vấn đề
nổi lên trong các cuộc hội thảo, diễn đàn khoa học trong những năm gần đây. Vào
tháng 6 năm 1992, tại Hội nghị Liên hiệp quốc về Môi trường và Phát triển bền
vững ở Rio De Janeiro, vấn đề này đã chính thức được công nhận. [25]
Các mô hình ở Đông Nam Á đã chỉ ra rằng: Nỗ lực của các cơ quan Chính
phủ nhằm đưa dân chúng ra khỏi KBT đã không mang lại kết quả như mong muốn
trên cả phương diện quản ký TNR và kinh tế xã hội (KT-XH). Việc đưa người dân
vốn quen sống trên địa bàn của họ đến một nơi mới chẳng khác nào “Bắt cá khỏi
nước” và khi đó lực lượng khác có thể xâm lấn và khai thác TNR mà không có
người bảo vệ. Người dân địa phương có nhiều kiến thức cổ truyền về việc sử dụng
tài nguyên thiên nhiên và các thể chế cộng đồng đã tỏ ra có hiệu quả trong việc
quản lý các nguồn tài nguyên này [26].


7

Trước những bất cập trong công tác bảo tồn ở các VQG, KBT trên thế giời, từ
những năm đầu của thập kỷ 80 nhiều dự án nghiên cứu, hội thảo quốc tế với sự
đóng góp của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu về bảo tồn đã đề xuất những thay
đổi trong chiến lược bảo tồn. Một chiến lược bảo tồn mới dần được hình thành và
khẳng định tính ưu việt, đó là liên kết quản lý KBTTN và VQG với cá hoạt động
sinh kế của người dân địa phương, cần thiết có sự tham gia bình đẳng của các cộng
đồng trên cơ sở tôn trọng nền văn hóa trong quá trình xây dựng các quyết định.
1.1.4. Các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến rừng đặc dụng
Nhiều kết quả nghiên cứu trên thế giới và kinh nghiệm thực tiễn của các KBT

Thái Lan” đã có nghiên cứu điểm tại VQG Dang Yai nằm ở đông bắc và khu phòng
hộ Nam Sa ở phía bắc Thái Lan. Tại Dang Yai người dân đã chứng minh được khả
năng của họ trong việc tổ chức các hoạt động bảo tồn đồng thời phối hợp với cục
lâm nghiệp Hoàng gia xây dựng hệ thống quản lý rừng đảm bảo ổn định về môi
trường sinh thái đồng thời phục vụ lợi ích của người dân trong khu vực. Tại Nam Sa
cộng đồng người dân cũng rất thành công trong công tác quản lý rừng phòng hộ. Họ
khẳng định nếu chính phủ có chính sách khuyến khích và chuyển giao quyền lực
cho họ thì chắc chắn họ sẽ thành công trong việc kiểm soát tài nguyên rừng.
Ở Philippines, chiến lược Quốc gia về bảo tồn ĐDSH nêu rõ rằng: “Điều chủ
chốt dẫn đến thắng lợi cho bảo tồn ĐDSH là phải bảo đảm rằng các cộng đồng địa
phương, những người bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi mọi quyết định về chính sách
liên quan đến môi trường, sẽ tham gia vào quá trình lập kế hoạch và quản lý đối với
bảo tồn ĐDSH” (Denr vaf TCSD, 1994). Indonesia, kế hoạch hành động ĐDSH ghi
nhận rằng “Việc tăng cường sự tham gia của công chúng, đặc biệt là cộng đồng sinh
sống bên trong và phụ thuộc vào các vùng có tính ĐDSH cao, là mục tiêu chính của
kế hoạch hành động và là điều kiện tiên quyết đối với việc thực hiện kế hoạch
(Bappenas, 1993) [26].
Về chính sách lâm nghiệp, Sheppherd G (1986) cho rằng đối với cộng đồng
dân cư sống trong và gần các KBTTN, một giải pháp đề nghị là cho phép người dân
địa phương củng cố quyền lợi của họ theo cách hiểu của các hệ thống quản lý nông
nghiệp hiện đại, bằng cách trồng cây, cho và nhận đất, nhà nước cần xác định rõ các
quyền lợi chính trị của dân trên mảnh đất mà họ nhận với mục đích tạo thêm công
ăn việc làm, tăng thu nhập và giảm tác động đến tài nguyên rừng. Dilmour D.A.


9

(1999) lại cho rằng nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tính kém hiệu quả của các chương
trình, dự án quản lý tài nguyên thiên nhiên là chưa giải quyết tốt mối quan hê lợi ích
giữa các cá nhân trong cộng đồng, giữa lợi ích cộng đồng địa phương với lợi ích

giai đoạn:
a) Giai đoạn từ 1960 đến 1974: Trong giai đoạn này ngành Lâm nghiệp đã
phát hiện và đề xuất 49 khu rừng cấm ở các tỉnh phía Bắc. Tuy nhiên mới chỉ có
một số ít khu được thành lập. Do đất nước đang trong thời kỳ chiến tranh và những
hạn chế về điều kiện kinh tế kỹ thuật nên việc xây dựng, quản lý và bảo vệ các khu
nói trên không được tốt.
b) Giai đoạn từ 1975-1986: Sau khi đất nước thống nhất, ngành Lâm nghiệp
đã triển khai việc điều tra phát hiện các khu bảo vệ trên cả nước, đặc biệt ở các khu
vực Tây nguyên, Đông Nam Bộ và Tây nam Bộ. Các đề án về hệ thống các khu
rừng cấm đã lần lượt đề trình lên Bộ và chính phủ. Ngày 24/01/1977, Thủ tướng
Chính phủ ban hành Quyết định số 41/TTg thành lập 10 Khu rừng cấm, tổng diện
tích 44.310ha, gồm: Ba Bể, Đảo Ba Mùn, Ba Vì, Bắc Sơn (Mỏ Rẹ), Bán đảo Sơn
Trà, Đền Hùng, Pác Bó, Rừng thông Đà Lạt, Núi Tam Đảo và Tân Trào (Núi
Hồng). trong đó khu Ba Vì, Đảo ba Mùn và Núi Tam đảo thuộc loại bảo tồn thiên
nhiên, các khu còn lại thuộc di tích văn hóa - lịch sử. Tiếp đó nhiều khu rừng có giá
trị BTTN, bảo tồn ĐDSH được phát triển, tiếp tục trình Hội đồng Bộ trưởng ra
quyết định thành lập: Khu rừng cấm Nam Bãi Cát Tiên (1978) KBTTN Mom RayNgọc Vin (1982), vườn Quốc gia Côn Đảo (1984) và Vườn Quốc gia cát Bà (1986).
Ngày 09/8/1986 Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định 194/CT
xác lập danh mục 73 khu rừng cấm trên toàn quốc với tổng diện tích là 769.512 ha,
gồm 02 Vườn Quốc gia (65.000ha), 46 KBTTN (629.661ha) và 25 khu di tích văn
hóa- lịch sử và môi trường (74.852ha).
Ngày 30/12/1986, Quy chế quản lý ba loại rừng, trong đó có RĐD được chính
thức ban hành theo Quyết định 1171/QĐ của Bộ trưởng Bộ Lâm Nghiệp. Theo Quy
chế này Rừng cấm được đổi tên là RĐD và được chia làm 3 phân hạng: VQG,
KBTTN và Khu văn hóa- lịch sử và môi trường. Hệ thống RĐD ở Việt Nam ở giai
đoạn này đã gồm nhiều khu đại diện cho các đai, đới khí hậu và các đơn vị địa lý
sinh học khác nhau phân bố tương đối đồng đều trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam.


11



12

điều của Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ban hành ngày 14/08/2006) về Quy chế
quản lý rừng, thay thế Quyết định số 08/2001/QĐ-TTg; Quyết định số 24/2012/QĐTTg ngày 01/6/2012 của Thủ tướng chính phủ về chính sách đầu tư phát triển RĐD
giai đoạn 2011-2020. Trong đó, quản lý RĐD được quy định rất cụ thể theo các văn
bản trên.
Bảng 1.1. Tổng hợp hệ thống rừng đặc dụng
Năm 2013
Loại RĐD

Quy hoạch đến 2020

Số lượng

Diện tích
(ha)

Số lượng

Diện tích
(ha)

I. Vườn Quốc gia

30

1.077.236,13


14

104.792,97

III. Khu bảo vệ cảnh quan

45

78.129,39

61

92.713,13

IV. Rừng NC khoa học

20

10.652,25

09

10.838,15

Tổng cộng

164

2.265.753,88


sút nghiêm trọng do việc khai thác gỗ, củi và các lâm sản khác như: tre, nứa, nấm,
cây dược liệu, động vật hoang dã và được xem như là nguồn sinh kế chủ yếu của
người dân miền núi [12].
Đánh giá hiệu quả của công tác bảo vệ các KBT ở Việt Nam, Nguyễn Bá Thụ
(1997) đã nhận định: Công tác này phụ thuộc rất nhiều vào việc giải quyết những
vấn đề tồn tại trên vùng đệm gồm nâng cao đời sống của nhân dân vùng đệm,
chuyển đổi hoặc thay thế tập quán dùng củi đun, sử dụng gỗ bừa bãi, lãng phí của
người dân sống trên vùng đệm; nâng cao trình độ kỹ thuật canh tác nông lâm
nghiệp, đẩy mạnh thâm canh, nâng cao năng suất cây trồng, nhanh chóng từ bỏ lối
canh tác du canh, quảng canh, nâng cao trình độ hiểu biết về bảo tồn, sử dụng hợp
lý và bền vững tài nguyên cho người dân địa phương [21].
D.A Gilmour và Nguyễn Văn Sản (1999), đã thực hiện một nghiên cứu về
quản lý vùng đệm tại 3VQG: Ba Vì, Bạch Mã và Cát Tiên. Kết quả nghiên cứu đã
phản ánh khá rõ nét thực trạng vùng đệm ở Việt Nam như: Tình hình KT-XH, tình
trạng bảo tồn tại các VQG và vùng đệm; hoạt động phát triển trong các vùng đệm;
tổ chức, thể chế cho quản lý vùng đệm [11].
Về quan hệ đồng tác trên cơ sở cộng đồng trong vùng đệm các KBTTN, Lê
Quý An (2001) đã khẳng định quản lý và phát triển vùng đệm trên cơ sở cộng đồng
là phát huy lợi thế của cộng đồng, hạn chế tác động tiêu cực trong các hoạt động


14

bảo tồn. Cộng đồng còn có thể phát huy những mặt hay của phong tục, tập quán
trong mối quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng, trong mối quan hệ giữa con
người và thiên nhiên để xây dựng nề nếp của cuộc sống lành mạnh về mặt môi
trường, góp sức cho việc bảo tồn [2].
1.2.4. Các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến rừng đặc dụng
Năm 2001, Đỗ Anh Tuân thực hiện một nghiên cứu điểm tại KBTTN Pù Mát
cho đề tài ảnh hưởng của bảo tồn tới sinh kế của các cộng đồng địa phương (CĐĐP)

Tuy nhiên, đề tài chưa đánh giá được mức độ tác động tới tài nguyên rừng của các
dân tộc, các nhóm hộ khác nhau [18].
Hoàng Quốc Xạ (2005) đã có sự kết hợp tốt giữa phân tích định tính và định
lượng trong việc xác định các hình thức tác động khi nghiên cứu tác động của cộng
đồng địa phương đến TNR tại vùng đệm VQG Xuân Sơn tỉnh Phú Thọ. Các giải
pháp được tác giả đưa ra tuy bao hàm nhiều lĩnh vực song chưa dựa trên các yếu tố
đã được phân tích cụ thể tại khu vực nghiên cứu và chưa thể hiện được tính khả thi
của các giải pháp đưa ra [28].
Ngô Ngọc Tuyên (2007) đã lượng hóa tốt và thể hiện sinh động ảnh hưởng của
các yếu tố sản xuất đến tổng thu nhập của hộ gia đình cũng như mối quan hệ giữa
tổng thu nhập với các nhân tố trong khai thác TNR thông qua việc thực hiện nghiên
cứu tác động của người địa phương đến TNR tại KBTTN Na Hang, Tuyên Quang.
Tác giả đã lựa chọn 4 dân tộc chính trong khu vực, mỗi dân tộc 30 HGĐ để phỏng
vấn, nhưng chưa chỉ ra cho người đọc cách thức và nguyên tắc chọn mẫu. Kết quả
nghiên cứu chỉ ra rằng, để giải quyết nhu cầu cuộc sống hàng ngày người dân đã tác
động TNR dưới nhiều hình thức song “sử dụng tài nguyên rừng” là hình thức có tác
động bất lợi nhất, các dân tộc khác nhau thì mức độ tác động cũng khác nhau.
Nghiên cứu đã sử dụng hàm Cobb-Douglas để phân tích ảnh hưởng của các yếu tố
đến thu nhập của HGĐ, tuy nhiên phân tích mới dừng lại ở 3 yếu tố nguồn lực mà
chưa phân tích đến các yếu tố hiệu quả [25].
Khuất Thị Lan Anh (2009) khi: “Nghiên cứu tác động của cộng đồng địa
phương vùng đệm đến tài nguyên rừng tại KBTTN Kim Hỷ – tỉnh Bắc Kạn” đã
nghiên cứu các yếu tố kinh tế và xã hội chi phối các hình thức và mức độ tác động
bất lợi của người dân địa phương tới tài nguyên rừng. Đề tài đã phần nào lượng hóa
được mức độ tác động của người dân tới KBT như: Sử dụng tài nguyên rừng, sử


16

dụng đất rừng để chăn thả gia súc, tác động đến TNR do các nguyên nhân rủi ro,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status