HÀ VĂN HẢI
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬT KINH TẾ
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG
KHAI THÁC KHOÁNG SẢN TẠI VIỆT NAM
2014 - 2016
HÀ VĂN HẢI
HÀ NỘI - 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC
KHOÁNG SẢN TẠI VIỆT NAM
HÀ VĂN HẢI
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS, TS: VŨ THỊ DUYÊN THỦY
Hà Văn Hải
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài .................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài.................................................................. 2
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài ................................................................ 3
3.1. Mục đích nghiên cứu ............................................................................... 3
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................... 4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .............................................................. 4
5. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................ 4
6. Kết cấu ....................................................................................................... 5
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG
KHOÁNG SẢN VÀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG
HOẠT ĐỘNG KHOÁNG SẢN .................................................................. 6
1.1. Khái quát về bảo vệ môi trườngtrong hoạt động khai thác khoáng sản .... 6
1.1.1. Khái niệm khoáng sản và hoạt động khai thác khoáng sản ................... 6
1.1.2. Khái niệm bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản ... 9
1.2. Khái quát về pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác
khoáng sản ................................................................................................... 11
1.2.1. Khái niệm, nội dung pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động
khai thác khoáng sản ................................................................................... 11
1.2.2. Các yêu cầu đối với pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động khai
thác khoáng sản ........................................................................................... 15
1.2.3. Những yếu tố tác động đến pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt
động khai thác khoáng sản ........................................................................... 16
TIỂU KẾTCHƯƠNG 1 ................................................................................ 21
2.5.1. Nội dung các quy định pháp luật về cải tạo, phục hồi môi trường trong
hoạt động khai thác khoáng sản ................................................................... 47
2.5.2. Đánh giá thực trạng và thực tiễn thi hành các quy định pháp luật về
quản lý chất thải trong hoạt động khai thác khoáng sản............................... 51
2.6. Thực trạng các quy định pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật môi trường
trong hoạt động khai thác khoáng sản........................................................... 52
2.6.1. Các quy định của pháp luật về trách nhiệm hành chính trong hoạt động
khai thác khoáng sản .................................................................................... 52
2.6.2. Các quy định của pháp luật về trách nhiệm hình sự trong hoạt động
khai thác khoáng sản .................................................................................... 54
2.6.3. Các quy định pháp luật về trách nhiệm dân sự trong hoạt động khai
thác khoáng sản ........................................................................................... 55
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 ............................................................................... 57
CHƯƠNG 3
YÊU CẦU VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬTVỀ BẢO
VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC KHOÁNG
SẢN TẠI VIỆT NAM................................................................................. 58
3.1. Phương hướng hoàn thiện pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động
khai thác khoáng sản ở Việt Nam ................................................................. 58
3.1.1. Hoàn thiện pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác
khoáng sản phải bảo đảm phát triển bền vững ............................................. 58
3.1.2. Hoàn thiện pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng
sản phải đảm bảo tính cụ thể và tính khả thi ..................................................... 60
3.1.3. Hoàn thiện pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng
sản phải đảm bảo sự đồng bộ của hệ thống pháp luật môi trường ...................... 61
3.2. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động khai
thác khoáng sản.............................................................................................. 61
3.2.1. Các giải pháp pháp lý......................................................................... 61
kinh tế đất nước. Số liệu điều tra cho thấy, Việt Nam đã thăm dò và phát hiện mới
trên 5.000 điểm khoáng và mỏ, đánh giá được một số loại khoáng sản có trữ lượng
tài nguyên dự báo lớn như dầu khí với trữ lượng 1,2 - 1,7 tỷ m3, 240 tỷ tấn than,
600 triệu tấn khoáng vật nặng titan, và các loại khoáng sản khác như boxit, apatit,
đất hiếm, các khoáng sản làm vật liệu xây dựng [20].
Tuy nhiên, HĐKTKS đã và đang gây nhiều tác động xấu đến môi trường
xung quanh. Biểu hiện rõ nét nhất là việc sử dụng thiếu hiệu quả các nguồn khoáng
2
sản tự nhiên; tác động đến cảnh quan và hình thái môi trường; tích tụ hoặc phát tán
chất thải; làm ảnh hưởng đến sử dụng nước, ô nhiễm nước, tiềm ẩn nguy cơ về dòng
thải axit mỏ... HĐKTKS có thể làm mất đi vĩnh viễn nguồn tài nguyên không tái
tạo,làm ô nhiễm nguồn nước, không khí, làm suy thoái, cạn kiệt nhanh chóng các
nguồn tài nguyên sinh học đi kèm như: rừng, nguồn nước, đất đai và đa dạng sinh
học… Những hoạt động này đang phá vỡ cân bằng điều kiện sinh thái được hình
thành từ hàng chục triệu năm, gây ô nhiễm nặng nề đối với môi trường, trở thành
vấn đề cấp bách mang tính chính trị và xã hội của cộng đồng một cách sâu sắc.
Nhận thức rõ điều đó, trong những năm qua, pháp luật về BVMT trong
HĐKTKS tại Việt Nam đã được quan tâm xây dựng, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho
công tác BVMT trong lĩnh vực này. Tuy vậy, vẫn còn một số quy phạm pháp luật chưa
thống nhất, rõ ràng, hợp lý; vẫn còn nhiều bất cập trong công tác đảm bảo thực thi pháp
luật nên chưa đáp ứng được những yêu cầu từ thực tiễn BVMT trong hoạt động khoáng
sản ở nước ta. Do đó, hoàn thiện pháp luật là một trong những yêu cầu bức thiết, để
nâng cao hiệu quả công tác BVMT trong HĐKTKS ở nước ta trong thời gian tới.
Vì lý do đó, tác giả chọn “Pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động
khai thác khoáng sản tại Việt Nam“làm đề tài luận văn thạc sĩ nhằm đáp ứng những
đòi hỏi cấp bách mới trên phương diện lý luận và thực tiễn về pháp luật BVMT trong
HĐKTKS Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về BVMT.
lâu. Vì vậy, đề tài “Pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng
sản tại Việt Nam” là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống các quy
phạm pháp luật cũng như thực tiễn thực thi pháp luật trong lĩnh vực này tại Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận và các quy định của pháp luật về
BVMT trong HĐKTKS, thực tiễn thi hành các quy định pháp luật này tại Việt Nam
để từ đó phân tích, đánh giá, tổng hợp nhằm tìm ra các giải pháp hoàn thiện các quy
định pháp luật về BVMT trong HĐKTKS.
4
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm sáng tỏ khái niệm, nội dung, yêu cầu của pháp luật về BVMT trong
HĐKTKS;
- Phân tích các yếu tố tác động đến quá trình xây dựng và thực thi pháp luật về
BVMT trong HĐKTKS;
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về BVMT trong hoạt động khoáng
sản ở Việt Nam để chỉ ra những kết quả đạt được cũng như những tồn tại, hạn chế
và luận giải nguyên nhân của chúng;
- Đề xuất phương hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật về BVMT
trong hoạt động khoáng sản tại Việt Nam trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm:
- Lý luận về BVMT, về HĐKTKS và pháp luật BVMT trong HĐKTKS.
- Thực tiễn thực thi pháp luật về BVMT trong hoạt động khoáng sản qua
kết quả nghiên cứu khảo sát thực tiễn, các báo cáo tổng kết, sơ kết của các bộ,
ngành có liên quan.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận và
thác khoáng sản tại Việt Nam.
Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trườngtrong
hoạt động khai thác khoáng sản tại Việt Nam.
6
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG
HOẠT ĐỘNG KHOÁNG SẢN VÀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ
MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG KHOÁNG SẢN
1.1. Khái quát về bảo vệ môi trườngtrong hoạt động khai thác khoáng sản
1.1.1. Khái niệm khoáng sản và hoạt động khai thác khoáng sản
* Khái niệm khoáng sản
Theo nghĩa chung nhất, khoáng sản là tài nguyên tích tụ vật chất dưới dạng hợp
chất hoặc đơn chất trong vỏ trái đất, mà ở điều kiện hiện tại con người có đủ khả năng lấy
ra các nguyên tố có ích hoặc sử dụng trực tiếp chúng trong đời sống hàng ngày.Tài nguyên
khoáng sản thường tập trung trong một khu vực gọi là mỏ khoáng sản. Tài nguyên khoáng
sản có ý nghĩa rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế của loài người và khai thác sử
dụng tài nguyên khoáng sản có tác động mạnh mẽ đến môi trường sống. Một mặt, tài
nguyên khoáng sản là nguồn vật chất để tạo nên các dạng vật chất có ích và của cải của
con người. Bên cạnh đó, việc khai thác tài nguyên khoáng sản thường tạo ra các loại ô
nhiễm như bụi, kim loại nặng, các hoá chất độc và hơi khí độc (SO2, CO, CH4 v.v...).
Theo Từ điển Bách Khoa toàn thư Việt Nam thì: “Khoáng sản là những thành
tạo khoáng vật của lớp vỏ trái đất, mà thành phần hóa học và các tính chất vật lý
của chúng cho phép sử dụng chúng có hiệu quả và lợi ích trong lĩnh vực sản xuất ra
của cải vật chất của nền kinh tế quốc dân. Dựa trên trạng thái vật lý phân ra:
khoáng sản rắn, lỏng (dầu mỏ, nước khoáng) và khí (khí đốt, khí trơ). Dựa vào
thành phần hóa học và công dụng phân ra: khoáng sản kim loại, phi kim (không
kim loại) và nhiên liệu”[34, tr.516].
diatomit... Nhóm nguyên liệu kỷ thuật: kim cương, grafit, thạch anh, mica, tan,
atbet, zeolit. Vật liệu xây dựng: đá macma và biến chất, đá vôi, đá hoa, cát sỏi;
- Khoáng sản cháy: than (than đá, than nâu, than bùn); dầu khí (dầu mỏ, khí
đốt, đá dầu)[34].
8
Khoáng sản rất cần cho cuộc sống của con người. Từ thời cổ đại, con người đã
biết sử dụng đá - một loại khoáng sản để làm công cụ lao động và xây dựng những
kim tự tháp. Thế kỷ thứ IV, thứ III trước Công nguyên, con người phát hiện và sử
dụng kim loại nguyên chất trong thiên nhiên: đồng, vàng. Dần dần, con người đã
phát hiện và sử dụng quặng sắt cùng với những kim loại khác để phục vụ cho cuộc
sống của mình. Ngày nay, khoáng sản được sử dụng rất nhiều trong cuộc sống con
người: từ nguyên liệu, nhiên liệu sử dụng trong ngành công nghiệp cho đến trồng
trọt, xây dựng, chế tạo các sản phẩm phục vụ cuộc sống…Vì thế, các HĐKTKS
được thực hiện ngày một nhiều trong xã hội hiện đại.
* Khái niệm HĐKTKS.
Khai thác khoáng sản là hoạt động nhằm thu hồi khoáng sản, bao gồm xây
dựng cơ bản mỏ, khai đào, phân loại, làm giàu và các hoạt động khác có liên quan.
Đây là việc lấy khoáng sản ra khỏi mỏ đáp ứng các nhu cầu của con người.
Hoạt động khoáng sản có ảnh hưởng lớn tới môi trường và sức khỏe con
người. Quá trình khai thác khoáng sản phát sinh những tác động bất lợi tới môi
trường đất, nước và không khí như: làm biến đổi địa hình khu vực, gây trượt lỡ đất;
gây xói mòn, bồi lấp dòng chảy; thu hẹp diện tích và làm suy thoái chất lượng đất
canh tác, đất rừng hoặc thậm chí cả đất ở; làm suy giảm nguồn nước mặt, nước
ngầm và thay đổi chế độ thủy văn, thay đổi chất lượng nước; gia tăng các sự cố môi
trường như: sạt lở, sập hầm lò... Trên thực tế, ngay cả khi đã ngừng khai thác
khoáng sản, đóng cửa mỏ thì các tác động bất lợi tới môi trường vẫn tiếp diễn trong
thời gian dài. Tác động dễ thấy nhất là tình trạng đất hoang hóa, bạc màu không
Khoản 3, Điều 3 Luật BVMT 2014 giải thích: Hoạt động BVMT là hoạt động
giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi
trường; khắc phục ô nhiễm; suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử
dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành.
Từ khái niệm đó, có thể hiểu BVMT trong HĐKTKS như sau: BVMTtrong
HĐKTKS là hoạt động giữ gìn phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi
trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải
10
thiện môi trường do HĐKTKS gây ra. Các yêu cầu đặt ra đối với BVMT trong
HĐKTKS là:
- BVMT trong HĐKTKS phải được thực hiện trên cơ sở kết hợp thực hiện
nhiều biện pháp khác nhau: HĐKTKS diễn ra trên diện rộng, địa hình nhiều nơi đồi
núi, triền dốc hiểm trở, công nghệ phức tạp gây ra rất nhiều khó khăn cho công tác
quản lý việc tuân thủ pháp luật môi trường. Vì vậy, trong HĐKTKS để đạt được
hiệu quả BVMT, đòi hỏi phải thực hiện nhiều biện pháp khác nhau trong đó không
thể thiếu biện pháp pháp lý. Điều này đặt ra cho nhà nước phải xây dựng được hệ
thống pháp luật BVMT phù hợp làm cơ sở cho việc thực hiện các biện pháp khác.
- BVMT trong HĐKTKS cần phải được tiến hành triệt để ở các địa phương
nơi có khoáng sản bởi HĐKTKS diễn ra rộng khắp không bó hẹp ở một địa bàn nào
và do vậy vấn đề BVMT cũng được đặt ra cho tất cả các cấp chính quyền nơi có
khoáng sản. Để công tác BVMT trong HĐKTKS được thực hiện triệt để và thực sự
đem lại hiệu quả thì các cơ quan, đơn vị, cá nhân phải phối hợp đồng bộ với nhau
trong quản lý.
- BVMT trong HĐKTKS cần có sự phối hợp của nhiều chủ thể. Để BVMT
trong HĐKTKS được thực hiện tốt đòi hỏi trang thiết bị phải hiện đại, trình độ chuyên
môn của cán bộ quản lý cao, chi phí lớn cho việc ứng phó, khắc phục sự cố, phục hồi
môi trường… với những yêu cầu đòi hỏi cao như vậy, để BVMT trong HĐKTKS có
ghen phân tích, chỉ phát sinh, tồn tại và phát triển trong xã hội có giai cấp, có Nhà
nước; bản chất của pháp luật thể hiện ở tính giai cấp của Nhà nước. Tuy nhiên, pháp
luật cũng mang tính xã hội, bởi vì ở mức độ nhất định, nó phải thể hiện và bảo đảm
những yêu cầu chung của xã hội về văn hóa, phúc lợi, môi trường sống… Về mặt
này, pháp luật xã hội chủ nghĩa có sự thống nhất giữa tính giai cấp và tính xã hội.
Pháp luật còn là một bộ phận quan trọng của cấu trúc thượng tầng xã hội.
Nó do cơ sở hạ tầng quyết định, nhưng có tác động trở lại đối với cơ sở hạ tầng.
Nếu pháp luật phản ánh đúng đắn các quy luật vận động và phát triển của xã hội,
nhất là các quy luật kinh tế thì pháp luật sẽ có tác động tích cực đối với phát triển
kinh tế - xã hội. Ngược lại, pháp luật sẽ kìm hãm sự phát triển đó[39].
12
Để BVMT trong quá trình con người tiến hành các HĐKTKS, Nhà nước
ban hành và áp dụng hệ thống các quy phạm pháp luật riêng. Đó là pháp luật
BVMT trong HĐKTKS. Đây là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các
mối quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình con người tiến hành các HĐKTKS,
nhằm giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố
môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường do
HĐKTKS gây ra; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên khoáng sản.
Nội dung điều chỉnh của pháp luật bảo vệ môi trường trong HĐKTKS bao
gồm:
Thứ nhất, Các quy định pháp luật về đánh giá tác động môi trường trong
HĐKTKS:
Đây là hoạt động nhằm đưa ra các dự báo, đánh giá mức độ tác động đến môi
trường nếu như dự án khai thác khoáng sản được triển khai, đánh giá sức chịu tải
của môi trường do KĐKTKS gây ra để có hướng giải quyết. Đưa ra các giải pháp để
xử lý các chất thải phát sinh trong KĐKTKS, phương án để phòng ngừa sự cố môi
trường, cải tạo, phục hồi môi trường. Đánh giá tác động môi trường được xem là
nhân muốn khai thác chúng thì cần đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp
phép. Giấy phép khai thác khoáng sản như là một chứng thư xác lập quyền và nghĩa
vụ của chủ thể trong một thời gian nhất định được nêu trong giấy phép.
Hoạt động cấp, gia hạn, thu hồi giấy phép khai thác khoáng sản là những biện
pháp mang tính pháp lý để nhà nước có thể theo dõi, quản lý, kiểm soát chặt chẽ toàn
bộ quá trình khai thác và sử dụng tài nguyên khoáng sản. Hoạt động này một mặt sẽ
góp phần hạn chế việc khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên khoáng sản một cách
bừa bãi, lãng phí đồng thời kiểm soát được những tác động xấu đến môi trường từ các
hoạt động khoáng sản. Mặt khác, hoạt động này nhằm bảo vệ các quyền lợi hợp pháp
cho những người tiến hành khai thác khoáng sản. Giấy phép khai thác khoáng sản là
những chứng thư pháp lý xác định những quyền và nghĩa vụ của người hoạt động
khoáng sản. Những quyền và nghĩa vụ này không chỉ nhằm bảo vệ tài nguyên khoáng
sản với tư cách là tư liệu sản xuất mà còn với tư cách là một thành phần của môi
14
trường quan trọng, góp phần duy trì sự tồn tại và phát triển của con người và đất
nước.
Thứ tư, Các quy định pháp luật về quản lý chất thải, cải tạo, phục hồi môi
trường khi khai thác khoáng sản:
Trong quá trình HĐKTKS các tổ chức, cá nhân làm phát sinh nhiều yếu tố
gây tác động tiêu cực đến môi trường như: nước thải, chất thải rắn, khí thải độc, bụi,
tiếng ồn, dầu mỡ, các phụ tùng, vật tư hư hỏng của các phương tiện cơ giới trong
quá trình khai thác khoáng sản. Chính vì vậy, việc quản lý các loại chất này được
đặt ra là một yêu cầu bức thiết nhằm giảm thiểu những tác động tiêu cực gây ra cho
con người và môi trường trong quá trình tiến hành các HĐKTKS.
Điều chỉnh vấn đề này, pháp luật môi trường Việt Nam và pháp luật môi
trường của hầu hết các nước trên thế giới đều quy định trách nhiệm cụ thể của các
tổ chức, cá nhân trong việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật để giảm thiểu chất thải;
Bên cạnh đó, các quy định khuyến khích thực hiện những hoạt động trên cũng
cần được ban hành. Quy định về hỗ trợ tài chính của Nhà nước đối với các cơ sở
xử lý chất thải; quy định về chính sách ưu đãi thuế cho các doanh nghiệp sử
dụng công nghệ thân thiện với môi trường, giảm thiểu ô nhiễm môi trường… là
cần thiết để tạo động lực kích thích kinh tế với các tổ chức, cá nhân, thúc đẩy họ
tích cực thực hiện các hoạt động có lợi cho môi trường, qua đó giảm bớt nguy cơ
gây ô nhiễm môi trường do HĐKTKS gây ra.
Hai là, pháp luật BVMT trong HĐKTKS phải dựa trên các yêu cầu nghiêm
ngặt và thoả mãn những đòi hỏi khắt khe của công tác BVMT. Yêu cầu này đòi hỏi
các quy phạm pháp luật BVMT phải điều chỉnh các mối quan hệ xã hội nảy sinh
trong quá trình làm phát sinh, thu gom, vận chuyển hay xử lý chất thải trong
HĐKTKS trên cơ sở phù hợp với các đặc tính kỹ thuật riêng của từng giai đoạn
quản lý. Nói cách khác, yêu cầu này đòi hỏi sự gắn kết chặt chẽ giữa các quy phạm
pháp luật BVMT với các quy phạm kỹ thuật trong BVMT. Ngoài ra, để đảm bảo
việc thực hiện tốt các yêu cầu nghiêm ngặt và đòi hỏi khắt khe của BVMT trong
HĐKTKS, những chế tài nghiêm khắc, đủ sức răn đe, trừng phạt người vi phạm
cũng là yêu cầu quan trọng đặt ra cho pháp luật BVMT. Cùng là hành vi xả nước
16
thải trái phép vào nguồn nước, song hành vi xả nước thải có chứa thành phần nguy
hại như: thủy ngân, chất phóng xạ rõ ràng cần phải được xử lý “mạnh tay” hơn so
với hành vi xả nước thải không chứa thành phần nguy hại vì mức độ hậu quả của
hai hành vi này hoàn toàn khác nhau.
Ba là, pháp luật BVMT trong HĐKTKS phải là công cụ định hướng chuyên
môn cho các hoạt động BVMT. Thoả mãn yêu cầu này, những quy tắc xử sự được
đưa ra trong các quy phạm pháp luật BVMT phải thật sự hợp lý, khoa học và dễ
hiểu. Chúng không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể trong quan hệ pháp
luật BVMT thực hiện tốt yêu cầu BVMT mà còn đảm bảo hiệu quả điều chỉnh của
trong HĐKTKS, đường lối, chính sách của Đảng có vai trò hết sức quan trọng.
Để đưa nền kinh tế của đất nước phát triển và giữ vững ổn định trật tự xã hội,
Đảng đưa ra đường lối, chính sách để chỉ đạo điều hành phát triển kinh tế trong từng giai
đoạn cụ thể. Trong những nội dung chỉ đạo, điều hành của Đảng có định hướng xây
dựng pháp luật, định hướng phát triển ngành công nghiệp khai khoáng, định hướng
BVMT. Trên cơ sở nội dung của các đường lối, chính sách đó, nhà nước ban hành các
văn bản quy phạm pháp luật để cụ thể hóa chủ trương, đường lối, chính sách thành các
quy định mang tính chất bắt buộc, điều chỉnh những quan hệ liên quan đến BVMT phát
sinh trong quá trình HĐKTKS. Vì vậy, có thể khẳng định rằng đường lối, chính sách về
BVMT trong HĐKTKS là một trong những cơ sở để xây dựng và quyết định nội dung
cơ bản của pháp luật về BVMT trong HĐKTKS.
Không chỉ có vai trò đối với hoạt động xây dựng pháp luật; đường lối, chính
sách của Đảng còn có vai trò quan trọng trong việc thực thi pháp luật về BVMT
trong HĐKTKS. Các chính sách tuyên truyền, giáo dục pháp luật; các quan điểm
chỉ đạo, quyết liệt trong xử lý vi phạm pháp luật về BVMT trong HĐKTKS đem lại
những đóng góp tích cực cho công tác thực thi pháp luật về BVMT trong HĐKTKS.
- Hai là, tình hình phát triển kinh tế- xã hội
Nhu cầu sử dụng khoáng sản để phục vụ sản xuất, cuộc sống hàng ngày của con
người thúc đẩy các chủ thể tiến hành HĐKTKS. Trong quá trình HĐKTKS phát sinh
nhiều quan hệ xã hội, trong đó có các quan hệ xã hội liên quan đến môi trường như:
chuyển mục đích sử dụng đất, xây dựng mỏ, khai đào, sử dụng nguồn nước, xả thải,