BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
ĐINH TIẾN HOÀNG
PHÁP LUẬT VỀ PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG TRONG
HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC KHOÁNG SẢN Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. Vũ Thu Hạnh
HÀ NỘI, NĂM 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu do tự bản
thân thực hiện và không sao chép các công trình nghiên cứu của cá nhân, tổ
chức khác. Các số liệu, thông tin được trích dẫn trong Luận văn có nguồn gốc
rõ ràng và tuân thủ đúng nguyên tắc trích dẫn. Kết quả trình bày trong Luận
văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trước đây. Tác giả hoàn toàn
chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của Luận văn.
Hà Nội, ngày 20 tháng 07 năm 2016
chung, các thầy cô Tổ bộ môn luật môi trường (Trường Đại học Luật Hà Nội)
nói riêng đã trang bị cho tác giả những kiến thức nền tảng trong suốt hai năm
đào tạo. Cuối cùng, tác giả xin gửi lời cảm ơn tới những người thân trong gia
đình, bạn bè đã động viên, khích lệ tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu và
hoàn thành Luận văn này.
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
*****
AES
Thang điểm đánh giá tổng thể môi trường
(Aggregate Environmental Score)
CBA
Phương pháp phân tích lợi ích – chi phí
(Cost benefit analysis)
CDI
Trung tâm Phát triển và Hội Nhập
(The Centre for Development and Integration)
EITI
Sáng kiến minh bạch trong ngành công nghiệp khai thác
(Extractive Industries Transparency Initiative)
GDP
Trách nhiệm hữu hạn
Tr.
Trang
VCCI
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
(Vietnam Chamber of Commercial and Industry)
VFEJ
Diễn đàn các Nhà báo môi trường Việt Nam
(Vietnam Forum of Environmental Journalists)
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số
Tên bảng
Trang
01
Kết quả thu phí bảo vệ môi trường từ khai thác khoáng sản
tại một số địa phương năm 2012 – 2013
54
Nguồn thu từ khai thác khoáng sản tại tỉnh Lào Cai
53
04
Một số khoản thu từ khai thác khoáng sản tại Nghệ An năm 2015
54
05
Mô hình quản lý, sử dụng nguồn phí đề xuất
83
DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC
Số
Tên Phụ lục
01
Tổng hợp nghĩa vụ tài chính và bảo vệ môi trường của doanh nghiệp
khai khoáng khi thực hiện dự án khai thác khoáng sản tại Việt Nam
02
Hệ số bóc đất, đá của một số loại khoáng sản
khoáng sản .................................................................................... 12
1.1.3. Khái quát pháp luật phí bảo vệ môi trường trong hoạt động
khai thác khoáng sản .................................................................... 16
1.2. Vai trò, mục đích, ý nghĩa của phí bảo vệ môi trường trong hoạt
động khai thác khoáng sản ...................................................................... 19
1.2.1. Vai trò............................................................................................ 19
1.2.2. Mục đích ........................................................................................ 20
1.2.3. Ý nghĩa .......................................................................................... 21
1.3. Cơ sở xây dựng quy định của pháp luật về phí bảo vệ môi trường
trong hoạt động khai thác khoáng sản..................................................... 22
1.3.1. Cơ sở lý luận ................................................................................. 22
1.3.2. Cơ sở chính trị, pháp lý................................................................. 24
1.3.3. Cơ sở thực tiễn .............................................................................. 26
1.4. Kinh nghiệm xây dựng và áp dụng pháp luật phí bảo vệ môi trường
đối với khai thác khoáng sản ở một số quốc gia trên thế giới ................ 28
Kết luận chƣơng 1 ......................................................................................... 34
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN ÁP
DỤNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ PHÍ BẢO VỆ MÔI
TRƢỜNG TRONG KHAI THÁC KHOÁNG SẢN Ở VIỆT NAM ......... 35
2.1. Thực trạng pháp luật Việt Nam về phí bảo vệ môi trường trong
hoạt động khai thác khoáng sản .............................................................. 35
2.1.1. Đối tượng chịu phí ........................................................................ 36
2.1.2. Chủ thể nộp phí ............................................................................. 38
2.1.3. Phương thức tính phí .................................................................... 39
2.1.4. Mức thu phí ................................................................................... 44
2.1.5. Chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng nguồn phí ........................... 46
2.1.6. Kiểm tra, thanh tra việc thu nộp phí và xử lý vi phạm pháp
luật về phí ...................................................................................... 50
nguồn lực, là vốn tự nhiên để phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia.
Ngành khai khoáng đóng góp một phần quan trọng vào tăng trưởng GDP của
Việt Nam, trung bình mỗi năm tăng khoảng 10% - 11% trong GDP cả nước.
Về cơ bản, ngành này đã đáp ứng kịp thời nguyên liệu cho các ngành công
nghiệp trong nước cần sử dụng nguyên liệu khoáng, góp phần đảm bảo an
ninh năng lượng, đồng thời phục vụ nhu cầu xuất khẩu quặng sang một số thị
trường lớn trên thế giới.
Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp và tiềm năng phát triển, khai thác
khoáng sản cũng gây ra những tác động tiêu cực đối với môi trường và xã hội.
Khác với các loại hình công nghiệp khác, khai thác khoáng sản thường chiếm
dụng diện tích đất lớn và làm thay đổi cấu trúc địa chất trong khu vực. Các tác
động môi trường vẫn có thể tiếp diễn sau khi dự án khai thác khoáng sản kết
thúc. Các mỏ khoảng sản thường nằm trên địa bàn vùng sâu vùng xa, nơi
cộng đồng địa phương chủ yếu phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên như đất,
rừng và nước để tạo nguồn sinh kế. Do đó, việc phá hủy các tài nguyên khác
như đất, rừng và nước sẽ tác động tiêu cực đến nguồn sinh kế và chất lượng
cuộc sống của cộng đồng.
Việt Nam đã bắt đầu thực hiện thu phí bảo vệ môi trường đối với khai
thác khoáng sản từ năm 2006. Theo quy định trước đây, toàn bộ nguồn thu
này do chính quyền địa phương quản lý và sử dụng để khắc phục các hậu quả
môi trường do hoạt động khai thác khoáng sản mang lại. Trên thực tế, chính
sách phí bảo vệ môi trường cũng đã tạo ra một nguồn lực tài chính đáng kể
cho một số địa phương. Tuy nhiên, cộng đồng địa phương trực tiếp bị ảnh
hưởng tiêu cực từ hoạt động khai thác khoáng sản lại chưa được đầu tư đúng
mức để khắc phục các sự cố, các hậu quả về môi trường. Như vậy, nguồn thu
2
phí từ bảo vệ môi trường trong thời gian qua chưa được quản lý và sử dụng
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Dưới góc độ nghiên cứu thực tiễn, các cơ quan, tổ chức của Việt Nam
đã tổ chức nhiều dự án nghiên cứu pháp luật, các buổi hội thảo, khảo sát về
tình hình xây dựng và áp dụng pháp luật phí bảo vệ môi trường đối với khai
thác khoáng sản phục vụ cho quá trình hoàn thiện pháp luật và nâng cao công
tác thực thi. Một số dự án, chương trình tiêu biểu có thể kể đến là:
“Tọa đàm lấy ý kiến sửa đổi Nghị định 74/2011/NĐ-CP về phí bảo vệ
môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản” do Phòng Thương mại và
Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp với Bộ Tài chính tổ chức ngày
10/02/2015 tại Hà Nội;
“Dự án vận động sửa đổi Nghị định 74/2011/NĐ-CP nhằm quản lý và
sử dụng hiệu quả nguồn thu từ phí bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng
sản” do Trung tâm Phát triển và Hội nhập (CDI) phối hợp với Bộ Tài nguyên
và Môi trường (MONRE), Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature),
Diễn đàn Nhà báo vì môi trường (VFEJ) và VCCI thực hiện năm 2015 tại Hà
Nội, Yên Bái và Thái Nguyên;
“Dự án thúc đẩy minh bạch và và thực thi EITI cho ngành công nghiệp
khai thác khoáng sản thông qua tăng cường tiếng nói của Doanh nghiệp” do
VCCI phối hợp với PanNature và VFEJ thực hiện năm 2015 và 2016 tại ba
tỉnh thành Hà Nội, Quảng Ninh và Bình Định;
“Dự án vận động xây dựng chính sách phí bảo vệ môi trường theo
hướng tăng cường minh bạch và giảm nhẹ các tác động tiêu cực đối với cộng
đồng” do CDI phối hợp với PanNature đang thực hiện năm 2016 tại Quảng
Nam, Hòa Bình và Thái Nguyên…
Dưới góc độ nghiên cứu khoa học pháp lý và chính sách, hiện chưa có
nhiều công trình nghiên cứu về pháp luật phí bảo vệ môi trường đối với khai
thác khoáng sản. Các tác giả thường tiếp cận pháp luật phí môi trường với tư
trong khai thác khoáng sản; các quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật
nước ngoài về phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản và thực
tiễn áp dụng quy định của pháp luật về loại phí này tại Việt Nam hiện nay.
5
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Dưới góc độ văn bản pháp luật, Luận văn được nghiên cứu dựa trên
các quy định của Luật Khoáng sản 2010, Luật Bảo vệ môi trường 2014, Nghị
định số 74/2011/NĐ-CP ngày 25 tháng 08 năm 2011 và Nghị định số
12/2016/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2016 của Chính phủ về phí bảo vệ
môi trường đối với khai thác khoáng sản, Thông tư số 66/2016/TT-BTC ngày
29 tháng 4 năm 2016 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số
12/2016/NĐ-CP. Ngoài ra, do chính sách pháp luật về phí bảo vệ môi trường
đã được thực hiện từ năm 2006 nên Luận văn cũng nghiên cứu trên phạm vi
các văn bản pháp luật về phí bảo vệ môi trường trước thời điểm năm 2011.
Dưới góc độ các vấn đề nghiên cứu, Luận văn chỉ nghiên cứu các vấn
đề về lý luận chung, thực trạng quy định của pháp luật, thực tiễn áp dụng và
đề xuất kiến nghị trong việc hoàn thiện pháp luật về phí bảo vệ môi trường
đối với khai thác khoáng sản. Luận văn không chú trọng tới các vấn đề kỹ
thuật, nghiệp vụ trong việc đảm bảo thực thi công cụ phí trên thực tế.
Trên phạm vi lãnh thổ, nội dung của Luận văn được nghiên cứu không
chỉ tổng quan trên cả nước mà còn trong phạm vi từng tỉnh, huyện, xã nhằm
tăng tính thiết thực và tính thuyết phục cho các luận điểm được nêu ra.
4.
Mục tiêu nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục tiêu nghiên cứu
Các câu hỏi nghiên cứu của Luận văn
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đặt ra một số câu hỏi khi nghiên
cứu Luận văn, bao gồm:
Một là, khai thác khoáng sản là gì? Tại sao cần phải có sự điều chỉnh
của pháp luật, trong đó có pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối với ngành
công nghiệp này?
Hai là, pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản
được xây dựng dựa trên những cơ sở nào? Thực trạng quy định của pháp luật
Việt Nam có phù hợp với những cơ sở đó hay không? Nguyên nhân?
7
Ba là, việc áp dụng các quy định về phí bảo vệ môi trường đối với khai
thác khoáng sản có điều gì vướng mắc, bất cập? Nguyên nhân?
Bốn là, pháp luật thế giới quy định như thế nào về vấn đề này? Kết hợp
kinh nghiệm của các quốc gia cùng những đánh giá về hạn chế của pháp luật
thực định để đề ra giải pháp hoàn thiện pháp luật.
6.
Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Để làm sáng tỏ các nội dung nghiên cứu, việc nghiên cứu được tiến
hành dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh về Nhà nước và pháp luật, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về
quản lý nhà nước, quản lý xã hội cũng như chủ trương, quan điểm về việc bảo
vệ môi trường phát triển bền vững.
Các phương pháp nghiên cứu được tác giả thực hiện bao gồm:
nghiệm trong lĩnh vực tài nguyên, môi trường và pháp luật về tài nguyên, môi
trường. Trên cơ sở đó, tác giả nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện Luận văn trước
khi công bố.
7.
Bố cục của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ
lục, nội dung chính của Luận văn bao gồm 3 chương, bao gồm:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật phí bảo vệ môi trường
trong hoạt động khai thác khoáng sản;
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng quy định của
pháp luật về phí bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản ở
Việt Nam;
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về phí bảo
vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản ở Việt Nam.
9
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ
PHÁP LUẬT PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG
TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC KHOÁNG SẢN
1.1. Khái quát về hoạt động khai thác khoáng sản, phí bảo vệ môi trƣờng
trong hoạt động khai thác khoáng sản và pháp luật phí bảo vệ môi
trƣờng trong hoạt động khai thác khoáng sản
1.1.1. Khái quát hoạt động khai thác khoáng sản
Khai thác khoáng sản là một trong những ngành công nghiệp quan
trọng trong nền kinh tế quốc gia. Dưới góc độ mỏ - địa chất, khai thác khoáng
mòn gây thoái hoá lớp đất mặt. Bên cạnh đó, việc thi công các công trình
thăm dò, khai thác khoáng sản đòi hỏi phải gạt bỏ diện tích lớn lớp đất mặt
thảm thực vật. Bởi vậy, sự đa dạng sinh học tại các khu vực khai thác mỏ
ngày càng bị suy thoái. Ngoài ra, do không thể lựa chọn được vị trí khai thác,
nhiều dự án khoáng sản đã được thực hiện ở những khu vực nhạy cảm về môi
trường như đầu nguồn lưu vực sông, gần các khu bảo tồn thiên nhiên hay tại
các vị trí thiếu ổn định về mặt địa chất2.
Thứ hai, hoạt động khai thác khoáng sản gây ô nhiễm môi trường nước.
Hoạt động này làm cho nguồn nước mặt, nước ngầm bị nhiễm axit, kim loại
nặng và các nguyên tố độc hại khác. Những mỏ áp dụng phương pháp khai
thác bằng sức nước gây ra thay đổi dòng chảy và biến đổi cơ cấu. Khoáng
sản, quặng đuôi trôi chảy gây lắng đọng bùn cát ở các cửa sông, cảng biển.
Hoạt động khai thác dầu khí ở thềm lục địa và khai thác khoáng sản ở vùng
duyên hải cũng gây ô nhiễm nguồn nước biển3. Ngoài ra, các khu vực có hoạt
động khai thác khoáng sản thường xuyên thải ra các nguồn nước bẩn khiến
môi trường dưới nước bị biến đổi, ảnh hưởng xấu đến quá trình sinh trưởng
và phát triển của các loài sinh vật thủy sinh.
Thứ ba, quá trình khai thác và vận chuyển các mỏ khoáng sản còn gây
ô nhiễm môi trường không khí. Âm thanh từ các vụ nổ mìn, khoan, tiếng ồn
2
Trần Thị Thanh Thủy, Trần Thị Thanh Hải, Kim Thu Hà, Dương Văn Thọ, Nguyễn Đức Anh
(đồng tác giả, 2015), tlđd chú thích 1, tr.7.
3
Trường Đại học Luật Hà Nội (2014), Giáo trình Luật Môi trường, Nxb. Công an nhân dân, tr. 349.
11
12
1.1.2. Khái quát phí bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản
Khái niệm
Phí là một trong các công cụ quan trọng trong quản lý nhà nước. Theo
nghĩa thông thường, phí được hiểu là “khoản tiền phải trả cho một công việc
phục vụ, dịch vụ công cộng nào đó”4. Dưới góc độ pháp lý, khái niệm phí
được quy định tại Điều 3 Luật Phí và lệ phí 2015, có hiệu lực từ ngày 01
tháng 01 năm 20175. Theo đó, phí là “khoản tiền tổ chức, cá nhân phải chi
trả nhằm cơ bản bù đắp chi phí và mang tính phục vụ khi các đối tượng này
được cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và tổ chức được cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền giao cung cấp dịch vụ công”. Như vậy, việc đóng
phí của tổ chức, cá nhân được thực hiện khi họ nhận được sự cung ứng dịch
vụ cụ thể từ chủ thể khác. Phạm vi lĩnh vực dịch vụ được quy định cụ thể bởi
pháp luật, trong đó bao gồm dịch vụ quản lý và bảo vệ môi trường6.
Từ việc phân tích khái niệm phí nêu trên, có thể hiểu phí bảo vệ môi
trường là khoản tiền áp dụng đối với tổ chức, cá nhân xả thải ra môi trường để
phục vụ cho việc thu gom, quản lý, xử lý các chất thải đó nhằm khôi phục
hiện trạng cho môi trường. Thông thường, các quốc gia thường tiếp cận khái
niệm phí môi trường dưới góc độ là phí đánh vào nguồn gây ô nhiễm, sản
phẩm gây ô nhiễm hoặc đánh vào người sử dụng sản phẩm gây ô nhiễm7. Tại
Việt Nam, phí bảo vệ môi trường được đánh vào nguồn gây ô nhiễm tính theo
lượng phát thải ra môi trường và thiệt hại gây ra cho môi trường (phí bảo vệ
môi trường đối với nước thải, phí bảo vệ môi trường đối với khí thải) và tính
theo sản lượng quy ra chất thải gây ô nhiễm (phí bảo vệ môi trường đối với
4
Viện Ngôn ngữ học (2010), Từ điển tiếng Việt phổ thông, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 651.
để quản lý và tái đầu tư vào hoạt động bảo vệ môi trường.
Theo quy định tại Tiểu mục 1, Phần IX, Mục A về Danh mục phí, lệ
phí Ban hành kèm theo Luật Phí và lệ phí 2015 thì phí bảo vệ môi trường đối
với hoạt động khai thác khoáng sản là một trong năm loại phí bảo vệ môi
trường8. Trong các văn bản pháp luật hiện hành của Việt Nam đều không định
nghĩa khái niệm phí bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản.
Từ khái niệm phí bảo vệ môi trường đã đề cập ở trên, có thể hiểu một cách
khái quát:
Phí bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản là khoản
tiền mà tổ chức, cá nhân hoạt động khai thác khoáng sản phải nộp vào ngân
sách Nhà nước nhằm tạo nguồn thu ngân sách để hỗ trợ cho công tác bảo vệ,
đầu tư cho môi trường tại địa phương nơi có hoạt động khai thác khoáng sản.
8
Các loại phí bảo vệ môi trường khác bao gồm: Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, khí thải;
Phí thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, đề án bảo vệ môi trường chi tiết; Phí thẩm
định phương án cải tạo, phục hồi môi trường và phương án cải tạo, phục hồi môi trường bổ sung.
14
Đặc điểm
Tìm hiểu về phí bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng
sản, ta thấy có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, phí bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản
là một trong những công cụ kinh tế trong quản lý và bảo vệ môi trường đối
với hoạt động khai khoáng.
Công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường là những phương tiện chính
sách có tác dụng làm thay đổi chi phí và lợi ích của những hoạt động kinh tế
thường xuyên tác động tới môi trường, nhằm mục đích tăng cường ý thức
địa phương sâu sắc.
Xuất phát từ đặc thù của hoạt động khai khoáng là phụ thuộc vào điều
kiện tự nhiên tại nơi có mỏ, do đó, sự tác động vào môi trường khi các chủ thể
tiến hành khai thác sẽ khác nhau tại các địa bàn khai thác khác nhau. Đồng
thời, sự phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật giữa các địa phương cũng không
đồng đều dẫn đến nhu cầu về chi phí bảo vệ môi trường khác nhau tại các địa
phương. Bởi vậy, mức thu phí bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản
và việc sử dụng khoản phí này đều do chính quyền địa phương quyết định và
thực hiện dựa trên quy định khung của cơ quan Nhà nước cấp trung ương có
thẩm quyền.
Phân biệt với thuế bảo vệ môi trường
Bên cạnh việc chỉ ra các đặc điểm của phí bảo vệ môi trường trong khai
thác khoáng sản, cũng cần phân biệt loại phí này với thuế bảo vệ môi trường.
Mặc dù cả hai đều là khoản thu thuộc ngân sách Nhà nước nhằm hình thành
nguồn tài chính để bảo vệ môi trường, nhưng giữa chúng có một số điểm khác
biệt cơ bản.
Thứ nhất, nếu đối tượng của thuế bảo vệ môi trường là lượng sản phẩm
của cơ sở sản xuất hoặc doanh thu do bán sản phẩm thì đối tượng của phí bảo
vệ môi trường là lượng chất gây ô nhiễm có trong dòng thải hoặc khối lượng,
số lượng các yếu tố vật chất là đối tượng tác động của hoạt động làm phát
sinh nguồn tác động xấu đối với môi trường. Như vậy, trong khi phí bảo vệ
môi trường là khoản thu đánh vào chủ thể gây ô nhiễm môi trường theo
nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền, thì thuế bảo vệ môi trường lại là
16
khoản thu đánh vào người sử dụng sản phẩm gây ô nhiễm dựa trên nguyên tắc
người được hưởng lợi phải trả tiền (Benefits pay principle - BPP)10.
Thứ hai, thuế bảo vệ môi trường không mang tính hoàn trả trực tiếp,
Pháp luật về phí bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng
sản là hệ thống các quy phạm pháp luật mang tính pháp lý và kỹ thuật, điều
chỉnh việc bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản, bao gồm các quy
định liên quan tới: Chủ thể nộp phí; đối tượng chịu phí; mức thu và chế độ
thu, nộp phí; trình tự, thủ tục thu, nộp phí; trách nhiệm của các bên và việc
xử lý vi phạm pháp luật trong việc thu, nộp và sử dụng nguồn thu từ phí.
Nội dung pháp luật phí bảo vệ môi trường trong hoạt động khai
thác khoáng sản
- Thứ nhất, đối tượng chịu phí:
Đối tượng chịu phí bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác
khoáng sản là hành vi khai thác các loại khoáng sản theo quy định của pháp
luật. Khoáng sản là các thành tạo hóa lý tự nhiên được sử dụng trực tiếp trong
công nghiệp hoặc có thể lấy ra từ kim loại và khoáng vật dùng cho các ngành
công nghiệp. Khoáng sản có thể tồn tại ở trạng thái rắn (quặng, đá), lỏng
(dầu) hoặc khí (khí đốt)11. Đây là các yếu tố vật chất mục tiêu của hoạt động
khai khoáng của con người – hoạt động trực tiếp làm phát sinh nguồn tác
động đối với môi trường.
Ngoài ra, do đặc điểm của khoáng sản là đa phần nằm sâu dưới lòng đất
và phân bố xen lẫn, không đồng đều giữa các lớp đất đá, do đó, khi tiến hành
khai thác khoáng sản tất yếu sẽ làm phát sinh đất đá thải. Nguồn đất đá này
khi được bóc tách cũng gây ra tác động không nhỏ đối với môi trường. Bởi
vậy, về nguyên tắc, hành vi làm phát sinh lượng đất đá bốc xúc thải sinh ra từ
quá trình khai thác quặng cũng sẽ là đối tượng chịu phí bảo vệ môi trường.
- Thứ hai, chủ thể nộp phí:
Chủ thể nộp phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản là tổ
chức, cá nhân tiến hành hoạt động khai thác khoáng sản. Phạm vi chủ thể này
11
Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam (2002), Từ điển Bách khoa Việt