ĐINH HÙNG SƠN
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
LUẬT KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU
HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP- THỰC TIỄN THI HÀNH
TẠI ĐỊA BÀN HUYỆN BẮC YÊN, TỈNH SƠN LA
ĐINH HÙNG SƠN
2014 - 2016
HÀ NỘI – 10/2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU
HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP- THỰC TIỄN THI HÀNH
TẠI ĐỊA BÀN HUYỆN BẮC YÊN, TỈNH SƠN LA
ĐINH HÙNG SƠN
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
Mặc dù đã nỗ lực hết sức trong việc nghiên cứu đề tài, nhưng do thời gian
và kiến thức có hạn, chắc chắn Luận văn không thể tránh khỏi những khiếm
khuyết và thiếu sót. Tác giả kính mong nhận được sự góp ý chân thành của các
thầy, cô và đồng nghiệp để Luận văn được hoàn thiện hơn./.
Tác giả
ĐINH HÙNG SƠN
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƯỜNG KHI NHÀ
NƯỚC THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP
7
1.1. Lý luận về thu hồi đất nông nghiệp
7
1.2. Lý luận về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp
11
1.3. Thực tiễn pháp lý một số nước trên thế giới về bồi thường khi Nhà
nước thu hồi đất nông nghiệp
15
3.1. Yêu cầu và định hướng hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi Nhà
nước thu hồi đất nông nghiệp
78
3.2. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp
luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp
79
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, là nguồn tài nguyên quan trọng để phát triển
đất nước, đồng thời là nơi sinh sống và tổ chức các hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội
của con người. Đối với mỗi quốc gia dân tộc và cộng đồng dân cư, đất đai là yếu tố
linh thiêng phải bảo tồn, gìn giữ.
Việt Nam với khoảng 70% dân số làm nghề nông nghiệp, trong đó nghề trồng
lúa nước truyền thống đã có từ ngàn đời nay. Ngày nay, mặc dù có rất nhiều loại cây
lương thực khác được canh tác, nhưng lúa vẫn là loại cây lương thực không thể thay
thế, nghề trồng lúa nước vẫn được coi trọng. Do đó, đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất
đặc biệt có ý nghĩa quan trọng đối với người nông dân.
Sự nghiệp CNH-HĐH đất nước đặt ra nhu cầu rất lớn về sử dụng đất cho mục
đích xây dựng các khu công nghiệp, khu kinh tế, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng
xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh…Cho nên, Nhà nước buộc phải thu hồi và
chuyển đổi một phần diện tích đất nông nghiệp sang phục vụ các mục đích nói trên.
Bài viết “Một số ý kiến hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu
hồi đất” của Ths Lê Ngọc Thạch – Tạp chí tài nguyên và môi trường, số 6/2009.
Bài viết “Chính sách đền bù khi thu hồi đất của một số nước trong khu vực và
Việt Nam” của Thạc sĩ Nguyễn Thị Dung – Tạp chí cộng sản, số 2010.
Bài viết “Pháp luật về bồi thường, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất của
Singapore và Trung Quốc – những gợi mở cho Việt Nam trong hoàn thiện pháp luật về
bồi thường, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất” của ThS. Nguyễn Quang Tuyến và
ThS. Nguyễn Ngọc Minh. – Tạp chí luật học, số 10/2010.
Bài viết “Mối liên hệ tam giác trong hệ thống đất đai ở Hàn Quốc: Quy hoạch,
phát triển và đền bù sử dụng đất” của TS. Hee Nam Jung tại Hội nghị khoa học “Chia
sẻ kinh nghiệm quốc tế nhằm xây dựng hệ thống quản lý đất đai hiện đại tại Việt
Nam” do Bộ tài nguyên và môi trường tổ chức tại Hà Nội, ngày 10/09/2010.
Bài viết “Những tồn tại, vướng mắc phát sinh trong quá trình áp dụng các
phương thức bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất”của TS. Nguyễn Thị Nga và Bùi
Mai Liên – Tạp chí luật học, số 5/2011.
Bài viết “Giải bài toán lợi ích kinh tế giữa ba chủ thể: Nhà nước, người có đất
bị thu hồi và chủ đầu tư khi bị thu hồi đất” của ThS. Đặng Đức Long – Tạp chí Tài
nguyên và Môi trường, số 5/2009.
Bài viết “Công khai minh bạch để bảo vệ quyền lợi của người bị thu hồi đất”
của PGS.TS. Nguyễn Quang Tuyến – Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 2/2012.
Bài viết “Pháp luật về trình tự, thủ tục thu hồi đất, bồi thường và giải phóng
mặt bằng và những vướng mắc nảy sinh trong quá trình áp dụng” của TS. Nguyễn Thị
Nga – Tạp chí luật học, số 11/2010.
Cuốn sách “Vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn- Kinh nghiệm Việt Nam,
kinh nghiệm Trung Quốc” của nhóm biên soạn GS.TS Phùng Hữu Phú, TS. Nguyễn
Viết Thông, TS Bùi Văn Hưng, gồm các bài tham luận Hội thảo lý luận lần thứ tư giữa
Đảng cộng sản Việt Nam và Đảng cộng sản Trung Quốc – Nhà xuất bản Chính trị
Quốc gia năm 2009.
Phân tích khái niệm, đặc điểm của đất nông nghiệp; phân tích khái niệm, đặc
điểm của thu hồi đất nông nghiệp, sự cần thiết khách quan của việc thu hồi đất nông
nghiệp trong sự nghiệp Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa ở nước ta hiện nay, trên cơ sở
đó lý giải cơ sở lý luận và thực tiễn của việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông
nghiệp.
Tiếp tục làm rõ khái niệm, đặc điểm, các yếu tố chi phối tới pháp luật về bồi
thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp, cũng như cơ cấu pháp luật điều chỉnh
nó, nghiên cứu lịch sử hình thành của pháp luật Việt Nam về bồi thường khi Nhà nước
thu hồi đất nông nghiệp.
Tìm hiểu, dẫn chiếu pháp luật và thực tiễn pháp lý của một số nước trên thế giới
về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp để tiếp tục xây dựng và hoàn
thiện pháp luật trong lĩnh vực này phù hợp với thông lệ quốc tế và quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế.
Đánh giá thực trạng pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông
nghiệp trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn xảy ra trên địa bàn huyện Bắc Yên
tỉnh Sơn La, chỉ ra những thành tựu, những hạn chế và xác định nguyên nhân cụ thể.
Trên cơ sở đó mạnh dạn đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu
lực thi hành pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp ở Việt
Nam.
5. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu hệ thống quan điểm, đường lối, chính sách và pháp luật
của Đảng và Nhà nước ta trong lĩnh vực đất đai và về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước
thu hồi đất. Trong đó, Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của Luật Đất đai
năm 2013, đồng thời dẫn chiếu, so sánh với các quy định tương tự trong pháp luật về
đất đai của một số quốc gia trên thế giới.
Nghiên cứu một số công trình khoa học về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
ở Việt Nam nói chung và pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông
nghiệp ở Việt Nam nói riêng đã công bố trong thời gian qua.
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục các công trình nghiên cứu liên
quan đến đề tài đã được công bố và danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung chính
của Luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông
nghiệp;
Chương 2: Thực tiễn Pháp lý về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông
nghiệp tại huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La;
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành
pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp.
Chương 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƯỜNG KHI
NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP
1.1. Lý luận về thu hồi đất nông nghiệp
1.1.1. Yêu cầu khách quan của việc thu hồi đất nông nghiệp
Điều 4 Luật Đất đai năm 2013 quy định “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do
Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng
đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này”. Có thể hiểu Nhà nước không
trực tiếp chiếm hữu, sử dụng đất đai mà giao đất, bao gồm cả đất nông nghiệp cho tổ
chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài.
Sự nghiệp CHH-HĐH đất nước đòi hỏi phải xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật
đồng bộ, hiện đại. Do đó, yêu cầu phải chuyển một phần đất nông nghiệp sang mục
đích phi nông nghiệp là điều không tránh khỏi. Bên cạnh đó, có những diện tích đất
nông nghiệp đã có chủ nhưng đang bị bỏ hoang hóa hoặc sử dụng kém hiệu quả. Chưa
kể một phần đáng kể diện tích đất nông nghiệp đã bị bạc màu, thoái hóa không còn đủ
điều kiện canh tác.
Trong khi đó, nếu chuyển mục đích sử dụng từ đất nông nghiệp sang đất đô thị
hoặc sang mục đích kinh doanh thương mại thì sẽ làm cho giá trị trên cùng một đơn vị
nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản và ngược lại. Nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường,
các trang trại kinh tế hộ gia đình hầu hết đều có nhu cầu sử dụng đất cho nhiều mục
đích khác nhau (trồng cây công nghiệp, cây lâu năm, cây lượng thực, chăn nuôi gia
súc, gia cầm và thủy hải sản).
Luật Đất đai năm 2003 chia đất đai thành ba nhóm: Nhóm đất nông nghiệp,
nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đất chưa sử dụng. Theo đó, Luật không định nghĩa
“Đất nông nghiệp” mà sử dụng khái niệm “Nhóm đất nông nghiệp”, bao gồm các loại
đất sau: Đất trồng cây hàng năm, gồm: đất trồng lúa, đất đồng cỏ dùng vào việc chăn
nuôi, đất trồng cây hàng năm khác; Đất trồng cây lâu năm; Đất rừng sản xuất; Đất
rừng phòng hộ; Đất rừng đặc dụng; Đất nuôi trồng thủy sản; Đất làm muối; Đất nông
nghiệp khác theo quy định của Chính phủ.
Kế thừa Luật Đất đai 2003 trong việc phân chia phân nhóm đất, Luật Đất đai
2013 bỏ loại đất đồng cỏ dùng vào chăn nuôi và gộp loại đất này chung vào loại đất
trồng cây hàng năm khác. Theo đó, nhóm đất nông nghiệp gồm các loại đất sau: Đất
trồng cây hàng năm (gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác); Đất trồng
cây lâu năm; Đất rừng sản xuất; Đất rừng phòng hộ; Đất rừng đặc dụng; Đất nuôi
trồng thủy sản; Đất làm muối; Đất nông nghiệp khác gồm đất sử dụng để xây dựng
nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng
trọt không trực tiếp trên đất, xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các
loại động vật khác được pháp luật cho phép, đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy
sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm, đất ươm tạo cây giống, con giống và
đất trồng hoa, cây cảnh.
Sự phân loại đất theo Luật Đất đai hiện hành đảm bảo sự quản lý tập trung,
thống nhất trong quản lý đất đai của Nhà nước, giúp cho các cơ quan quản lý đất đai ở
địa phương dễ dàng, thuận lợi hơn trong việc theo dõi, kiểm tra, giám sát quá trình
khai thác, sử dụng đất của các hộ gia đình, cá nhân. Mặt khác phù hợp với thực tế sử
dụng đất của các hộ nông dân, vừa khuyến khích để phát triển nông nghiệp theo xu
hướng của nền sản xuất hàng hóa, khai thác có hiệu quả đất đai, có điều kiện để mở
cao, nhất là đất trồng lúa nước được Nhà nước quy định hết sức chặt chẽ và theo
hướng hạn chế việc thu hồi để đảm bảo đời sống cho nhân dân cũng như an ninh lương
thực của quốc gia.
1.1.3. Khái niệm thu hồi đất nông nghiệp
Từ điển Luật học (1999) do Nxb Từ điển Bách Khoa, Hà Nội xuất bản giải
thích thu hồi đất là “Việc Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi quyền sử dụng đất
của người vi phạm quy định về sử dụng đất để Nhà nước giao cho người khác sử dụng
hoặc trả lại đúng chủ sở hữu sử dụng đất hợp pháp bị lấn chiếm; Trường hợp thật cần
thiết, Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng của người sử dụng đất để sử dụng vào mục
đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng”. Quan điểm này mặc dù
có đề cập các trường hợp thu hồi đất nhưng chưa nêu ra một định nghĩa rõ ràng về thu
hồi đất bởi nội hàm của nó chưa bao quát hết các trường hợp thu hồi đất của Nhà
nước.
Luật Đất đai năm 2003 giải thích thu hồi đất tại Khoản 5, Điều 4: “Thu hồi đất
là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại
đất đã giao cho tổ chức, UBND xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật
này”. Luật này đã có sự điều chỉnh và mở rộng nội hàm của vấn đề thu hồi đất, song
còn thiếu chính xác, bởi vì dễ gây hiểu lầm người sử dụng đất bị thu hồi chỉ là tổ chức
hay UBND xã, phường, thị trấn khi mà chủ thể phổ biến bị thu hồi đất lại là hộ gia
đình, cá nhân sử dụng đất.
Kế thừa Luật Đất đai 2003, trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc các ý kiến, các quan
điểm của các nhà khoa học. Luật Đất đai 2013 quy định “Nhà nước thu hồi đất là việc
Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền
sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai”.
Hiểu một cách chung nhất “Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành
chính để thu lại đất và quyền sử dụng đất đã giao cho các chủ thể sử dụng đất theo
quy định của pháp Luật Đất đai”. Trên cơ sở khái niệm về thu hồi đất ta có thể xác
định khái niệm về thu hồi đất nông nghiệp là “Việc Nhà nước ra quyết định hành
Bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do nhân dân lao động thiết lập
nên, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân. Việc bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của nhân dân là trách nhiệm và nghĩa vụ của Nhà nước. Khi quyền và lợi
ích hợp pháp của người sử dụng đất bị thiệt hại do việc thu hồi đất của Nhà nước gây
ra thì Nhà nước phải có nghĩa vụ bồi thường để đảm bảo lợi ích cho người dân và cũng
chính là xuất phát từ nhu cầu tồn tại, sự phát triển kinh tế - xã hội của bản thân Nhà
nước. Mặt khác chủ thể được hưởng lợi từ việc Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào
mục đích quốc phòng - an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế
là toàn thể mọi thành viên trong xã hội. Do đó các thành viên này phải có nghĩa vụ bù
đắp thiệt hại cho người bị thu hồi đất thông qua tổ chức đại diện cho xã hội của mình
là Nhà nước.
Trong một Nhà nước pháp quyền, mọi chủ thể trong xã hội bao gồm Nhà nước,
công dân, các tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, xã hội,... đều bình đẳng trước pháp
luật. Khi Nhà nước thu hồi đất mặc nhiên sẽ làm thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của
người sử dụng đất, do đó Nhà nước phải có trách nhiệm bồi thường cho họ. Trong khi
đó, việc thu hồi đất nông nghiệp gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống và việc làm
của người nông dân, hậu quả để lại cho người nông dân là rất nặng nề, bởi mất đi đất
nông nghiệp là mất đi tư liệu sản xuất chính trong lao động sản xuất, mất đi nguồn
sống, nguồn việc làm; Việc bồi thường trong trường hợp này thường không đơn giản
bởi lẽ nếu bồi thường bằng đất thì lấy đâu ra đất nông nghiệp để bồi thường, nếu bồi
thường bằng tiền thì sự chênh lệch quá lớn giữa đất nông nghiệp và đất phi nông
nghiệp sẽ khó làm nhân dân đồng thuận bởi vì nhu cầu sống còn của họ là cần có đất
nông nghiệp để sản xuất, để duy trì cuộc sống. Vì vậy Nhà nước cần phải quan tâm
đến việc xây dựng chính sách pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất nói chung
đặc biệt là khi thu hồi đất nông nghiệp nói riêng.
1.2.2. Khái niệm bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp
Theo quy định của Luật Đất đai hiện hành, trách nhiệm bồi thường được đặt ra
khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc
giá trị thiệt hại về tài sản có trên đất, ngoài ra phải tính đến những thiệt hại vô hình
khác.[23]
Luật Đất đai năm 2013 tiếp tục quy định rõ “Bồi thường về đất là việc Nhà
nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng
đất” đồng thời sử dụng thêm cơ chế hỗ trợ để bù đắp được một cách trọn vẹn những
thiệt hại do thu hồi đất gây ra. Như vậy, khi Nhà nước thu hồi đất, Nhà nước có nghĩa
vụ bồi thường cho người sử dụng đất hợp pháp bị thu hồi đất những giá trị, thiệt hại
hợp lý về đất đai và tài sản trên đất, việc bồi thường được thực hiện theo những quy
định của Luật Đất đai.
Có thể hiểu một cách đầy đủ về bồi thường đất khi Nhà nước thu hồi đất như
sau: “Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân
được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh,
lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế phải bù đắp những tổn hại về đất
và tài sản trên đất do hành vi thu hồi đất gây ra cho người sử dụng đất tuân theo
những quy định của pháp Luật Đất đai”. Đồng nghĩa với nó bồi thường khi Nhà nước
thu hồi đất nông nghiệp có thể hiểu là “Việc Nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân được
Nhà nước giao đất, cho thuê đất nông nghiệp để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an
ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế phải bù đắp những tổn hại
về đất và tài sản trên đất do hành vi thu hồi đất nông nghiệp gây ra, cho người sử
dụng đất tuân theo những quy định của pháp Luật Đất đai”.[23]
1.2.3. Khái niệm hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp
Thuật ngữ hỗ trợ không chỉ được sử dụng trong đời sống xã hội mà còn được sử
dụng rất nhiều trong lĩnh vực pháp luật nói chung và pháp Luật Đất đai nói riêng. Đất
đai vừa là tư liệu sản xuất đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, vừa là tư
liệu tiêu dùng đối với con người vì thế khi Nhà nước thu hồi đất, người sử dụng đất bị
mất tư liệu sản xuất hoặc tư liệu tiêu dùng, lâm vào hoàn cảnh khó khăn như mất công
ăn, việc làm, mất nơi ở ổn định và để giúp họ vượt qua khó khăn, ổn định sản xuất và
đời sống thì bên cạnh việc bồi thường, Nhà nước phải thực hiện việc hỗ trợ. Do đó
1.3.1. Thực tiễn pháp lý ở Trung Quốc[23]
Ở Trung Quốc, đất đai thuộc chế độ công hữu nên lợi ích công là điều kiện tiền
đề để áp dụng quyền thu hồi đất một cách hợp pháp. Việc thu hồi đất được thực hiện
chặt chẽ để tránh sự lạm quyền của chính quyền địa phương. Phạm vi đất bị thu hồi
phục vụ cho lợi ích công gồm ( Đất phục vụ cho Quân sự - Quốc phòng; Các cơ quan
Nhà nước và các cơ quan nghiên cứu sự nghiệp; Công trình giao thông, năng lượng;
Kết cấu hạ tầng công cộng; Công trình công ích và phúc lợi xã hội, công trình trọng
điểm quốc gia, bảo vệ môi trường sinh thái và phục vụ cho các lợi ích công cộng khác
theo quy định của pháp luật). Theo quy định của Luật quản lý Nhà nước về đất đai
Trung Quốc năm 1998 thì Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho các tổ chức, cá nhân
theo các hình thức: Cấp đất (giao không thu tiền sử dụng đất); Xuất nhượng đất (Giao
đất có thu tiền sử dụng đất); Cho thuê đất. Người được Nhà nước giao đất có quyền sử
dụng trong thời hạn sử dụng được xác định cụ thể sau: 1 năm đối với đất xây dựng
công trình tạm thời; 40 năm đối với đất sử dụng vào mục đích thương nghiệp, du lịch,
vui chơi, giải trí; 50 năm đối với đất sử dụng xây dựng các công trình công nghiệp,
trường học, bệnh viện, khu thể thao; 70 năm đối với đất làm nhà ở.
Về thẩm quyền thu hồi đất: Chỉ có Quốc vụ viện và chính quyền cấp tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương mới có thẩm quyền thu hồi đất theo đó Quốc vụ viện có
quyền thu hồi từ 35 ha trở lên đối với đất nông nghiệp và 70 ha trở lên đối với các loại
đất khác. Dưới hạn mức đất này chính quyền cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương ra quyết định thu hồi đất. Đất nông nghiệp sau khi thu hồi sẽ chuyển từ đất thuộc
sở hữu tập thể thành đất thuộc sở hữu Nhà nước.
Về trách nhiệm bồi thường: Pháp Luật Đất đai quốc gia này quy định người nào
sử dụng đất thì người đó có trách nhiệm bồi thường. Phần lớn tiền bồi thường do
người sử dụng đất trả. Tiền bồi thường này bao gồm: Lệ phí sử dụng đất phải nộp cho
Nhà nước (Lệ phí khai khẩn đất đai, lệ phí chống lũ lụt, lệ phí chuyển mục đích sử
dụng đất). Ngoài ra pháp luật Trung Quốc còn quy định mức nộp lệ phí trợ cấp đời
sống cho người bị thu hồi đất nông nghiệp là nông dân cao tuổi không thể chuyển sang
đích công cộng như phát triển cơ sở hạ tầng, xây dựng công trình phúc lợi xã hội và
chỉnh trang đô thị; Hạn chế việc thu hồi đất thuộc sở hữu tư nhân và chỉ thu hồi trong
những trường hợp cần thiết; Việc thu hồi đất phải được sự đồng ý của Chính phủ và
các thành viên nội các Chính Phủ, sau khi đã thảo luận và tham gia ý kiến của cộng
đồng;Việc thu hồi đất được thực hiện chặt chẽ theo quy định của pháp luật; Nhà nước
được thông báo cho người sử dụng đất biết trước từ 2 đến 3 năm trước khi ra quyết
định thu hồi). Trường hợp người bị thu hồi đất không thực hiện quyết định thu hồi đất
sẽ bị Nhà nước áp dụng các biện pháp cưỡng chế hoặc bị phạt theo Luật xâm chiếm
đất công.
Mức bồi thường thiệt hại được xác định căn cứ vào giá trị thực tế bất động sản
của chủ sở hữu, căn cứ vào giá trị bất động sản do người bị thu hồi đất đầu tư chứ
không căn cứ vào giá trị thực tế của bất động sản. Phần giá trị tăng thêm do sự đầu tư
cơ sở hạ tầng của Nhà nước được bóc tách khỏi giá trị bồi thường của bất động sản.
Điều này có nghĩa là Nhà nước không bồi thường theo giá bất động sản hiện tại mà bồi
thường theo giá thấp hơn do trừ đi phần giá trị bất động sản tăng thêm từ sự đầu tư cơ
sở hạ tầng của Nhà nước. Trường hợp người bị thu hồi đất không tán thành với
phương án bồi thường thiệt hại do Nhà nước xác định, họ có quyền thuê một tổ chức
định giá tư nhân để tiến hành định giá lại các chi phí thiệt hại và Nhà nước là người trả
tiền cho việc làm này.
Nhà nước có chính sách hỗ trợ tối đa về thiệt hại và tạo điều kiện về công ăn
việc làm cho người nông dân khi bị thu hồi đất. Mọi việc chuyển nhượng làm thay đổi
mục đích sử dụng đất phải thông qua cơ quan Nhà nước. Nhà nước đóng vai trò trung
gian giữa người sử dụng đất và chủ đầu tư, tránh những tiêu cực trong việc đền bù giải
tỏa và không gây ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện dự án theo quy hoạch nói riêng và
phát triển kinh tế nói chung.
Trường hợp người bị thu hồi đất không nhất trí với mức giá bồi thường, họ có
quyền khiếu nại về giá trị bồi thường. Hội đồng bồi thường là người có thẩm quyền
quyết định về giá trị bồi thường và đưa ra câu trả lời đối với người khiếu kiện. Nếu
hồi tài sản của họ. Luật pháp thừa nhận rằng giá trị ước tính bán đất không thể đủ để
bảo đảm cho chủ đất không chịu các thiệt hại khác.
Nguyên tắc đền bù dựa trên giá trị thị trường mảnh đất của hộ nông dân, giá trị
đặc biệt dành cho chủ sở hữu cao hơn hoặc trên giá trị thị trường của mảnh đất, những
thiệt hại gây ra khi thu hồi đất, thiệt hại về việc gây phiền hà, các khoản chi phí về luật
pháp và thẩm định giá.
Mức đền bù được xem xét trên các yếu tố giá trị thị trường của mảnh đất, sự
chia cắt đất đai, những phiền nhiễu, các khoản chi phí về chuyên môn hoặc pháp lý
hợp lý, nếu chủ sử dụng đất là người thuê đất họ được khiếu nại mức đền bù cho giá trị
của bất cứ tài sản nào bị ảnh hưởng họ đang quản lý, tiền bồi thường về mặt tinh thần.
Thanh toán khoản đền bù gồm thanh toán ứng trước và thanh toán cuối cùng.
Đối với thanh toán ứng trước, Chính phủ sẽ thanh toán cho chủ nhân toàn bộ khoản
đền bù một khi đơn khiếu nại đã được xem xét. Nếu Chính phủ không chấp nhận toàn
bộ các khoản mục trong đơn khiếu nại thì Chính phủ sẽ thanh toán trước ít nhất là 90%
số tiền mà đã được định ra. Đây là một trong những lợi thế của chủ sở hữu thu hồi bắt
buộc chứ không phải bị thu hồi theo thoả thuận. Trong thoả thuận này, Chính phủ
không phải trả bất cứ khoản tiền nào cho tới khi toàn bộ những vấn đề đàm phán được
hoàn tất. Khi đã chấp nhận khoản thanh toán trước thì chủ sở hữu không nhất thiết
phải chấp nhận sự định giá của Chính phủ như là mức cuối cùng. Chủ sở hữu vẫn có
quyền tiếp tục đàm phán hoặc kháng cáo.
Đối với thanh toán cuối cùng, Chính phủ sẽ thanh toán đầy đủ số tiền đền bù
ngay sau khi tổng số tiền cuối cùng đã được chấp thuận. Khoản thanh toán cuối cùng
này sẽ tính toán cả những khoản thanh toán ứng trước mà chủ sở hữu đã nhận hoặc bất
cứ khoản thuế hoặc khoản phải trả khác mà Chính phủ đã thanh toán. Tiền lợi tức sẽ
được tính gộp vào khoản thanh toán này và sẽ được tính từ ngày thu hồi đất đến ngày
trả tiền đền bù. Lãi suất là mức lãi suất áp dụng cho trái phiếu ngân khố thời hạn 5
năm, tính lãi gộp theo kỳ hạn 3 tháng. Bất kể khoản thanh toán cao hơn nào cũng phải
trả lại cho Chính phủ.