Pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp và thực tiễn thi hành tại thị xã từ sơn, tỉnh bắc ninh - Pdf 53

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

DƢƠNG ĐỨC SINH

PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƢỜNG KHI NHÀ NƢỚC
THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÀ THỰC TIỄN
THI HÀNH TẠI THỊ XÃ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH

Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số
: 60380107

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Nga

HÀ NỘI - 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết
quả số liệu nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, chính
xác của các cơ quan chức năng đã công bố. Kết luận khoa học của luận văn
là mới và chưa có tác giả đã công bố trong bất cứ công trình khoa học nào.

XÁC NHẬN CỦA

TÁC GIẢ LUẬN VĂN


t u
tn n n
p ………………………………… 13
n
n
v t u
t
v
s n
n
n n
n ………..13
Ý ghĩa ủa việc bồi thườ g khi Nhà ước thu hồi đất nông nghiệp …………. 16
1.2. Lý luận pháp luật về bồi thƣờng khi Nhà nƣớc thu hồi đất nông nghiệp …… 17
Cơ sở xây dựng pháp luật về bồi thườ g khi Nhà ước thu hồi đất nông
nghiệp……………………………………………………………………………………………………………………. 17
Cơ s lý luận …………………………………………………………………………………………….. 17
Cơ s thực tiễn…………………………………………………………………………………………… 18
1.2.2. Khái niệm pháp luật về bồi thườ g khi Nhà ước thu hồi đất nông nghiệp ..19
3 Cơ ấu pháp luật điều chỉnh về bồi thườ g khi Nhà ước thu hồi đất nông
nghiệp …………………………………………………………………………………………………………………… 20
1.2.4. Các yếu tố tá động, chi phối tới pháp luật về bồi thườ g khi Nhà ước thu
hồi đất nông nghiệp ………………………………………………………………………………………………. 23
1.3. Lƣợc sử hình thành và phát triển của pháp luật về bồi thƣờng khi Nhà nƣớc
thu hồi đất nông nghiệp ………………………………………………………………………………………. 25
3 Giai đo trước khi ban hành Luật ất đai ă
993 ………………………………. 25
3 Giai đo n từ khi có Luật ất đai ă
993 đế trước khi có Luật ất đai ă
2003 ………………………………………………………………………………………………………………………. 27

ch c thi hành pháp luật về bồi thườ g khi Nhà ước thu hồi đất nông nghiệp … 47
3 á h giá thực tiễn thi hành pháp luật về bồi thườ g khi Nhà ước thu hồi
đất nông nghiệp tr địa bàn thị xã Từ Sơ , tỉnh Bắc Ninh ………………………………… 53
2.2.3.1. Những ản
ng tích cực trong vi c b t
ng thu h
t nông nghi p … 53
2.2.3.2. Những ản
ng tiêu cực trong vi c b t
ng thu h
t nông nghi p … 54
2.2.3.3. Những k t quả ạt ợc trong hoạt ộng b t
ng thu h
t nông nghi p
……………………………………………………………………………………………………………………..………… 55
2.2.3.4. Nhữn
ó ăn, v ng mắc trong hoạt ộng b t
ng thu h
t nông
nghi p ……………………………………………………………………………………………………………………. 57
2.2.3.4. Nguyên nhân c a nhữn
ó ăn, v ng mắc trong hoạt ộng b t
ng thu
h
t nông nghi p tại thị xã Từ Sơn …………………………………………………………………….. 61
Kết luận Chƣơng 2 ………………………………………………………………………………………………. 62
CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU
QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƢỜNG KHI NHÀ NƢỚC THU HỒI
ĐẤT NÔNG NGHIỆP QUA THỰC TIỄN THI HÀNH TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ
TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH ……………………………………………………………………………….. 64

qu ịnh về trình tự, th tục thu h
t, b t
ng………………..………… 76
5N n
o năn lực, trách nhi m và ạo ức c a những cán bộ làm công tác
b t
ng ……………………………………………………………………………………………………………… 77
3.2.2.6. Giải quy t nhanh, dứt ểm các khi u nại về b t
ng, hỗ trợ, t
ịn
78
Kết luận Chƣơng 3 ………………………………………………………………………………………………. 80
KẾT LUẬN ………………………………………………………………………………………………………….. 81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO …………………………………………………………….. 82


Đề tài: Pháp luật về bồi thƣờng khi Nhà nƣớc thu hồi đất nông nghiệp và thực
tiễn thi hành tại thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài:
Với một đất nước mà ngành nông nghiệp vẫn chiếm gần 70% dân số có lịch
sử và văn hóa gắn liền với hoạt động canh tác, trồng trọt, đất đai đặc biệt là đất
nông nghiệp có một vị trí quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế. Tuy nhiên,
cùng với dòng chảy của thời gian, sự phát triển của khoa học kỹ thuật, xu thế hội
nhập quốc tế và chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Việt Nam đang
trong quá trình đi lên trở thành một nước công nghiệp. Điều này đã dẫn tới nhu cầu
sử dụng đất cho phát triển công nghiệp ngày càng lớn theo thời gian, trong khi quỹ
đất là hữu hạn và phần lớn đang sử dụng cho mục đích nông nghiệp. Chính vì vậy,
xuất phát từ mục đích phát triển đất nước, vì lợi ích quốc gia, lợi ích cộng đồng...,
Nhà nước phải đứng ra tổ chức thu hồi, phân bổ lại việc sử dụng đất nông nghiệp

Với mong muốn góp phần phản ánh thực trạng nêu trên của công tác bồi
thường đất nông nghiệp một cách khách quan, trung thực trên địa bàn thị xã Từ
Sơn, tỉnh Bắc Ninh trong thời gian qua, tìm hiểu nguyên nhân của những tồn tại,
vướng mắc để có những định hướng và giải pháp khắc phục tốt hơn trong thời gian
tới, học viên đã lựa chọn đề tài: “Pháp luật về bồi thƣờng khi Nhà nƣớc thu hồi
đất nông nghiệp và thực tiễn thi hành tại thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh” làm đề
tài luận văn.
2. Tình hình nghiên cứu:
Hiện nay, bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp là một trong
những lĩnh vực còn ít công trình nghiên cứu chuyên sâu và gắn với thực tiễn. Đa
phần các công trình khoa học thường chủ yếu đề cập tới vấn đề tổng quát về hoạt
động bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất, do đây là một chế
định quan trọng của pháp luật đất đai. Trong thời gian vừa qua đã có một số công
trình, sách báo pháp lý nghiên cứu về lĩnh vực này dưới góc độ lý luận và thực tiễn;
tiêu biểu là các công trình nghiên cứu của các tác giả: Nguyễn Vĩnh Diện, “Pháp
luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất (qua thực tiễn thi hành tại Thành
phố Hà Nội), Luận văn Thạc sĩ (2012); Hoàng Thị Thu Trang, “Pháp luật về bồi
thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân và thực tiễn
áp dụng tại Nghệ An”, Luận văn Thạc sĩ (2012); Nguyễn Thị Tâm, “Pháp luật về
thu hồi đất trong việc giải quyết mối quan hệ giữa nhà nước – nhà đầu tư và người
có đất bị thu hồi”, Luận văn Thạc sĩ Luật học (2013); Phạm Thu Thủy, “Pháp luật
về Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp ở Việt Nam”; GS.TSKH.
Đặng Hùng Võ, “Giải phóng mặt bằng, còn nhiều khiếu kiện”, Báo Kinh tế và đô
thị, số ra ngày 09/10/2006; Ts. Trần Quang Huy, “Chính sách hỗ trợ khi Nhà nước
thu hồi đất”, Tạp chí Luật học, số 10/2010; Ts. Nguyễn Quang Tuyến, “Công khai
minh bạch để bảo vệ quyền lợi của người bị thu hồi đất”, Tạp chí Luật học, số
3/2012; Ts. Doãn Hồng Nhung (Chủ biên), “Pháp luật về định giá đất trong bồi
thường, giải phóng mặt bằng ở Việt Nam”, sách chuyên khảo, NXB Tư pháp năm
2013; Đỗ Phương Linh, Pháp luật về hỗ trợ, tái định cư người có đất bị thu hồi
trong giải phóng mặt bằng - thực trạng và giải pháp hoàn thiện, Luận văn thạc sỹ,

Rút ra những ưu điểm và tồn tại, vướng mắc trong việc thực hiện chính sách
bồi thường về đất nông nghiệp trên địa bàn thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh trên cơ sở
đó xác định nguyên nhân khách quan và chủ quan để đề xuất những hướng khắc
phục.
Đưa ra những giải pháp, góp phần hoàn thiện pháp luật và đẩy mạnh công tác
bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phục vụ cho mục đích quốc phòng an ninh,
phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở địa phương.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:
4.1. ối tư g nghiên c u
Những quy định của pháp luật đất đai hiện hành, bao gồm các bộ luật liên
quan đến đất đai, các Nghị định, các Thông tư hướng dẫn và đặc biệt là các văn bản
của địa phương – thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh quy định trực tiếp về vấn đề bồi
thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp để phục vụ cho mục đích quốc phòng,
an ninh, phát triển kinh tế, xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng và việc vận dụng
các quy định này trong thực tiễn tại địa phương.
4.2. h
vi ghi
u
Trong khuôn khổ có hạn của một bản luận văn thạc sỹ luật học, đề tài tập
trung nghiên cứu pháp luật thực định về vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân để phục vụ cho mục đích quốc phòng, an
ninh, phát triển kinh tế, xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng mà không nghiên cứu
vấn đề bồi thường về thu hồi đất nông nghiệp trong các trường hợp khác, cũng như
không nghiên cứu trường hợp thu hồi đất nông nghiệp của tổ chức hay việc thu hồi
đối với đất phi nông nghiệp. Luận văn cũng không nghiên cứu vấn đề hỗ trợ khi
Nhà nước thu hồi đất.
Với phạm vi nghiên cứu nêu trên, tác giả luận văn sẽ tập trung nghiên cứu
các quy định của Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành như:
Nghị định số 43/NĐ-CP ngày 15/05/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của
Luật Đất đai; Nghị định số 47/NĐ-CP ngày 15/05/2014 về bồi thường, hỗ trợ, khi

trên những khía cạnh chủ yếu sau:
Thứ nhất, hệ thống hóa những quy định mới nhất liên quan đến bồi thường
khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp. Qua việc tổng hợp những quy định mới, so
sánh với quy định cũ, Luận văn đưa ra những định hướng để tiếp tục hoàn thiện cơ
sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về bồi
thường đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất;
Thứ hai, đánh giá thực trạng pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi
đất, và thực trạng áp dụng pháp luật đất đai trên địa thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh;
đồng thời, luận văn cũng chỉ ra được những đặc điểm riêng có của thị xã Từ Sơn so
với các địa phương khác, nhằm tìm ra được những đòi hỏi cần có trong vấn đề bồi
thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp. Trên cơ sở đó chỉ ra những tồn tại,
bất cập và nguyên nhân của những hạn chế này trong các quy định hiện hành về bồi
thường đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất.
Thứ ba, đề xuất những định hướng và các giải pháp cụ thể góp phần tiếp tục
hoàn thiện hệ thống pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp
nói chung và trên địa bàn thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh nói riêng.
5


7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn được bố cục gồm 3 chương;
Chương 1: Những vấn đề lý luận về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất
nông nghiệp và pháp luật về bồi thường đất khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp.
Chương 2: Thực tiễn thi hành pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi
đất nông nghiệp tại thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp
luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp qua thực tiễn thi hành trên
địa bàn thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.


và chế biến, đất phục vụ cho các mục tiêu bảo vệ môi trường sinh thái. Như vậy
theo cách hiểu truyền thống, khái niệm về đất nông nghiệp sẽ có phạm vi hạn hẹp,
được xác định chủ yếu là đất nhằm mục đích trồng trọt và chăn nuôi, nghiên cứu về
trồng trọt và chăn nuôi kể cả nuôi trồng thủy sản. Tư duy này hướng việc phân loại
đất vừa theo tiêu chí không gian và theo mục đích sử dụng chủ yếu mà chưa gắn với
1

Definition of agricultural land in FAOSTAT Glossary
Definition of agricultural land in OECD Glossary of Statistical Terms.
WDI –World Development Indicators online database, retrieved on ngày 18 tháng 7 năm 2008
7


việc quản lý nhà nước ở tầm vĩ mô. Nếu hiểu đất nông nghiệp theo cách hiểu này sẽ
dẫn đến tình trạng khi xen canh các loại đất khác nhau (như đất trồng lúa, đất trồng
rừng, đất nuôi trồng thủy sản…), công tác quản lý sẽ rất khó khăn, phức tạp do mỗi
một loại đất khác nhau lại có chế độ pháp lý khác nhau, đặc biệt trong chuyển mục
đích sử dụng đất từ loại đất này sang loại đất khác.
Vì vậy, quan niệm đất nông nghiệp trong pháp luật đất đai hiện hành đã phân
nhóm đất nông nghiệp nhằm hướng tới việc quản lý đất đai thuận tiện hơn, theo đó
hướng tới việc mở rộng phạm vi khái niệm các loại đất nông nghiệp và dùng cụm từ
“nhóm đất nông nghiệp” thay cho cụm từ “đất nông nghiệp”. Việc sử dụng cụm từ
này nhằm mục đích tổng hợp nhiều loại đất, có cùng tính chất và chế độ sử dụng
khá tương đồng trong phạm vi cơ cấu của một nhóm đất lớn có đặc trưng giống
nhau nhất định về chế độ sử dụng. Điều này giúp tập trung quản lý cho từng nhóm
chủ thể được giao đất, cho thuê đất và thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với Nhà
nước. Hiện nay, theo quy định của Luật đất đai năm 2013, đất nông nghiệp bao gồm
các loại đất sau: đất trồng cây hàng năm; đất trồng cây lâu năm; đất rừng sản xuất;
đất rừng phòng hộ; đất rừng đặc dụng; đất nuôi trồng thủy sản; đất làm muối và đất
nông nghiệp khác gồm đất sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục

là kết tinh của quá trình lao động và là sản phẩm của lao động, thông qua lao động
con người có thể làm thay đổi giá trị, độ phì nhiêu của đất đai. Xuất phát từ đặc
điểm này nên giá trị của đất nông nghiệp ngoài căn cứ trên chất đất hay độ phì của
đất còn được đong đếm trên giá trị sức lao động và cải tạo của người sử dụng đất.
Thứ hai, đất nông nghiệp là tƣ liệu sản xuất quan trọng không thể thay
thế trong hoạt động nông lâm ngƣ nghiệp. Đặc điểm này của đất nông nghiệp
xuất phát từ bản chất của đất đai là tư liệu sản xuất không bị hao mòn và đào thải
khỏi quá trình sản xuất, nếu sử dụng hợp lý thì đất nông nghiệp sẽ có chất lượng
ngày càng tốt hơn, đó là điểm khác với các tư liệu sản xuất khác là sau một thời
gian sử dụng đều bị hao mòn hữu hình hoặc hao mòn vô hình và cuối cùng sẽ bị đào
thải khỏi quá trình sản xuất và thay thế bằng tư liệu sản xuất mới, chất lượng cao
hơn hoặc giá rẻ hơn. Việc sử dụng đất đai có đúng đắn hay không là tuỳ thuộc vào
chính sách đất nông nghiệp của Nhà nước và các chính sách kinh tế vĩ mô khác, tuỳ
thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và tiến bộ khoa học – công
nghệ ở từng giai đoạn phát triển nhất định.
Thứ ba, đất nông nghiệp bị giới hạn về mặt không gian, nhƣng sức sản
xuất, giá trị khai thác của đất là không có giới hạn. Số lượng diện tích đất đai
đưa vào khai thác nông nghiệp bị giới hạn bởi không gian nhất định, bao gồm: giới
hạn tuyệt đối và giới hạn tương đối. Diện tích đất đai của toàn bộ hành tinh, của
từng quốc gia, của từng địa phương là con số hữu hạn, đó là giới hạn tuyệt đối của
đất đai. Không phải tất cả diện tích đất tự nhiên đều đưa vào canh tác được, tuỳ
thuộc điều kiện đất đai, địa hình và trình độ phát triển kinh tế của từng nước mà
diện tích đất nông nghiệp đưa vào canh tác chỉ chiếm tỷ lệ phần trăm thích hợp. Đó
là giới hạn tương đối, giới hạn này nhỏ hơn nhiều so với tổng quỹ đất tự nhiên. Xuất
phát từ đặc điểm này nên trong hoạt động khai thác, sử dụng cần phải biết quý trọng
và sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hạn chế việc chuyển dịch ruộng đất sang sử dụng mục
đích khác. Mặc dù bị giới hạn về mặt không gian nhưng sức sản xuất của ruộng đất
là không giới hạn. Nghĩa là mỗi đơn vị diện tích đất đai, nhờ tăng cường đầu tư vốn,
sức lao động, đưa khoa học và công nghệ mới vào sản xuất mà sản phẩm đem lại
trên một đơn vị diện tích ngày càng nhiều hơn. Đây là con đường phát triển chủ yếu

bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Theo đó, trách nhiệm bồi thường được đặt ra
khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích
quốc gia, lợi ích công cộng hay vì mục đích phát triển kinh tế. Khi thu hồi đất,
người sử dụng đất phải gánh chịu những thiệt thòi khi mất tư liệu sản xuất và quyền
sử dụng, bị ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp, do đó Nhà nước phải thực
hiện trách nhiệm bồi thường. Như vậy, đối với những trường hợp người sử dụng đất
có lợi ích hợp pháp cần được bảo vệ, thì Nhà nước với tư cách là người đại diện cho
quyền lợi của nhân dân, phải có nghĩa vụ khôi phục các quyền và lợi ích đó bằng
cách quy định chế định pháp lý về bồi thường như nguyên tắc; điều kiện của việc
bồi thường; cách thức, trình tự, thủ tục bồi thường… để làm sao quyền lợi của
người bị thu hồi đất được đảm bảo, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi, nhanh chóng
cho quá trình thu hồi đất, giúp chủ đầu tư nhanh chóng có mặt bằng cho việc thực
hiện dự án.
Thuật ngữ “bồi thường” trong pháp luật đất đai ở Việt Nam đã được ghi nhận
trong các văn bản pháp luật về đất đai, kể từ trước khi có Luật Đất đai năm 1987.
10


Sau khi Luật Đất đai năm 1987 ra đời, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã
ban hành Quyết định số 186/HĐBT ngày 31/5/1990 quy định “Về đền bù thiệt hại
đất nông nghiệp, đất có rừng khi chuyển sang sử dụng vào mục đích khác”, thuật
ngữ “bồi thường” được thay thế bằng thuật ngữ “đền bù thiệt hại”. Mặc dù pháp
luật không đưa ra sự giải thích về vấn đề này, song có thể hiểu “đền bù thiệt hại”
khi Nhà nước thu hồi đất là việc bù đắp lại những thiệt hại do việc thu hồi đất gây
ra, trả lại tương xứng với giá trị quyền sử dụng đất và công lao mà người sử dụng
đất đã đầu tư vào đất trong quá trình sử dụng.
Thuật ngữ này tiếp tục được sử dụng trong Luật đất đai năm 1993, Luật sửa
đổi bổ sung một số điều Luật đất đai năm 1998 và các Nghị định hướng dẫn thi
hành. Tuy nhiên, việc “đền bù thiệt hại” khi Nhà nước thu hồi đất được thực hiện
chỉ đơn giản là việc Nhà nước đền bù thiệt hại do hành vi thu hồi đất gây ra cho

an ninh, lợi ích qu c gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh t phả bù ắp những
tổn hại về t và tài sản trên t do hành vi thu h
t nông nghi p gây ra, cho
n
i sử dụn
t tuân theo nhữn qu ịnh c a pháp luật t
* Đặ ểm b t
n
iv
t nông nghi p
n à n c thu h i:
Việc bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp có những đặc điểm
như sau:
Thứ nhất, cơ sở làm phát sinh việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, đó
là việc Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích
quốc gia, lợi ích công cộng hay vì mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội. Đó là hậu
quả pháp lý trực tiếp do việc thu hồi đất gây ra, bên cạnh đó, việc bồi thường đối
với đất chỉ được thực hiện khi thu hồi đất để sử dụng vào mục đích chung của xã
hội.
Thứ hai, về đối tượng được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất: Chỉ những
người có quyền sử dụng đất hợp pháp, tức là phải có giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, có giấy tờ mang tính hợp lệ về quyền sử dụng đất hoặc có đủ điều kiện để
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì mới được bồi thường.
Thứ ba, về phạm vi bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất: Hộ gia đình, cá
nhân bị thu hồi đất không những được bồi thường các thiệt hại vật chất về đất và tài
sản mà còn được Nhà nước xem xét, giải quyết các vấn đề mang tính xã hội như
được hỗ trợ ổn định đời sống, ổn định sản xuất, chuyển đổi việc làm thông qua đào
tạo nghề mới... Đối với người dân, thì đất không chỉ đơn thuần là vấn đề giá trị
vật chất mà nó còn là nguồn lực để họ duy trì sự sống và tài sản này có giá trị
trường tồn theo thời gian. Chính vì vậy, khi thu hồi đất, Nhà nước không chỉ chú

do yếu tố lịch sử phát triển, Việt Nam là nước đi lên từ một nước nông nghiệp nên
diện tích đất đai đa phần được sử dụng cho các mục đích nông nghiệp là chủ yếu. Vì
vậy, việc thu hồi đất nông nghiệp để phục vụ phát triển kinh tế trong giai đoạn hiện
nay là một yêu cầu khách quan, tuân theo quy luật phát triển.
- Do sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, đặc biệt trong ngành nông nghiệp đã
cho phép ngưởi sử dụng đất nông nghiệp nâng cao sản lượng trên một đơn vị diện
tích đất đai. Chính thực tế này đã dẫn đến sự dư thừa các sản phẩm nông nghiệp và
hiệu quả sử dụng đất không được tận dụng triệt để. Vì thế, việc thu hẹp diện tích đất
nông nghiệp, chuyển một phần diện tích đất nông nghiệp sang sử dụng cho các hoạt
động phi nông nghiệp khác, ngoài việc vẫn bảo đảm yếu tố an toàn lương thực và
đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng của người dân, còn nâng cao hiệu quả kinh tế của việc
sử dụng đất đai, đáp ứng các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của nhà nước.
1.1.3.2
a) n

n

n
v t u
t
v
s n
ng t i thu nhập, vi c làm c n
i nông dân
13

n

n n


được giao đất xây dựng khu đô thị, người có đất hai bên đường mới làm,…) đi đôi
với thua thiệt trông thấy của người dân mất đất dẫn đến các xung đột lợi ích gay gắt.
Người mất đất cảm thấy mình bị đối xử bất công hơn khi người dân xung quanh
mình giàu lên không nhờ công sức của họ mà nhờ đất của mình bỏ ra làm đường
hoặc sẽ phẫn nộ khi giá bồi thường cho họ thấp hơn nhiều so với giá đất doanh
nghiệp bán cho họ,… Bên cạnh đó, công tác tái định cư khó khăn cũng làm cho
người bị mất đất thua thiệt. Do nhiều địa phương thiếu quỹ đất nông nghiệp để bồi
5

Tạp chí Khoa học và Phát triển 2013, tập 11, số 1: Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Nguyễn Thanh Trà, Hồ Thị Lam
Trà “Ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp đến đời sống, việc làm của nông dân Huyện Văn Lâm, tỉnh
Hưng Yên – trang 63

14


thường thích đáng cho nông dân, nên nhiều nông dân, sau khi nhận tiền bồi thường,
đã không có công ăn việc làm, không có kinh nghiệm kinh doanh nên tiền bồi
thường nhanh chóng tiêu hao. Nơi ở mới nhiều khi không được xây dựng cơ sở hạ
tầng hoàn thiện làm cho cuộc sống của họ ở nơi tái định cư càng khó khăn hơn.
Chính vì thế, nhiều người dân bị thu hồi đất hoặc rơi vào nghèo khó, hoặc rơi vào tệ
nạn xã hội và trở thành gánh nặng cho chính họ và cho xã hội.
Ngoài ra, việc thu hồi đất không chỉ gây tác động bất lợi cho người bị thu hồi
đất mà còn tạo thêm sức ép cho Nhà nước về phương diện tài chính, về công tác
quản lý và điều hành. Chính vì thu hồi đất có nhiều tác động không mong muốn nên
Nhà nước phải có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất khoa học, dài hạn, ổn định,
nhằm hạn chế xáo trộn; mặt khác, phải xây dựng chính sách bồi thường, hỗ trợ và
tái định cư đối với người dân thu hồi đất một cách hợp lý.
c) n
ng t i sinh hoạt, cuộc s ng hàng ngày c

1.1.4 Ý ghĩa ủa việc bồi thườ g khi Nhà ước thu hồi đất nông nghiệp
Thu hồi đất nông nghiệp không chỉ làm chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai
(làm chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng
đất) mà còn “đụng chạm” đến lợi ích hợp pháp của các bên có liên quan: Lợi ích
của người bị thu hồi đất; lợi ích của Nhà nước, của xã hội; lợi ích của người hưởng
lợi từ việc thu hồi đất (các nhà đầu tư, doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân …).
Do vậy, trên thực tế việc lợi ích bồi thường khi nhà nước thu hồi đất (thực chất là
xử lý hài hòa lợi ích kinh tế giữa các bên) gặp rất khó khăn, phức tạp. Việc giải
quyết tốt vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất mang ý nghĩa to lớn trên
nhiều phương diện:
a) Về p ơn

n chính trị

Là một nước nông nghiệp với khoảng 70% dân số là nông dân, vấn đề đất đai
ở Việt Nam có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và nhạy cảm. Các chính sách, pháp luật
về đất đai có ảnh hưởng rất lớn đến sự ổn định về chính trị. Điều này có nghĩa là
nếu chủ trương, chính sách pháp luật đất đai đúng đắn, phù hợp với thực tiễn và
được thực thi nghiêm túc sẽ góp phần vào việc duy trì và củng cố sự ổn định chính
trị. Ngược lại, sẽ làm phát sinh những điểm nóng tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định
về chính trị. Một trong các chính sách, pháp luật về đất đai được xã hội đặc biệt
quan tâm đó là chính sách, pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước
thu hồi đất; bởi lẽ chính sách, pháp luật này ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi
ích hợp pháp của người bị thu hồi đất. Trong trường hợp bị thu hồi đất nói chung và
thu hồi đất nông nghiệp nói riêng, sẽ tác động trực tiếp tới quyền và lợi ích hợp
pháp của người sử dụng đất. Do vậy, họ phản ứng rất gay gắt, quyết liệt thông qua
việc khiếu kiện đông người, khiếu kiện vượt cấp, kéo dài nếu không được bồi
thường, thỏa đáng. Những điều đó tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định chính trị và dễ
phát sinh thành các “điểm nóng”; cho nên việc giải quyết tốt vấn đề bồi thường là
thực hiện tốt chính sách an dân để phát triển kinh tế xã hội góp phần vào việc duy

Cơ sở xây dựng pháp luật về bồi thườ g khi Nhà ước thu hồi đất
nông nghiệp
1.2.1.1. Cơ s lý luận
- Vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp được đặt ra trên
cơ sở quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo hộ. Hiến pháp năm
2013 ghi nhận và bảo hộ quyền sở hữu tư nhân về tài sản: “1. Mọ n
i có quyền
s hữu về thu nhập hợp pháp, c a cả ể dành, nhà , t l u sinh hoạt, t li u sản
xu t, phần v n góp trong doanh nghi p hoặc trong các tổ chức kinh t khác.
2. Quyền s hữu t n n và qu ền thừa k
ợc pháp luật bảo hộ.
r ng hợp thật cần thi t vì lý do qu c phòng, an ninh hoặc vì lợi ích
qu c gia, tình trạng khẩn c p, phòng, ch n t ên t , N à n
tr n mu oặc
tr n ụng có b t
ng tài sản c a tổ chức, cá nhân theo giá thị tr ng.” (Điều
32)
Như vậy, quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của mọi cá nhân và tổ chức được
Hiến pháp ghi nhận và bảo hộ. Khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích
quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì toàn bộ tài sản hợp pháp
gắn liền với đất bị thu hồi của người sử dụng đất đều phải được bồi thường theo quy
định của pháp luật.
17


- Nhà nước ta là Nhà nước do nhân dân lao động thiết lập nên, đại diện cho ý
chí, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân nên khi Nhà nước thu hồi đất của người
dân để sử dụng vào bất cứ mục đích gì (cho dù là sử dụng vào mục đích quốc
phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế) mà làm
phương hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ thì Nhà nước phải có bổn phận và

dụng đất cho người lao động trên cơ sở chế độ sở hữu toàn dân về đất đai nhằm duy
18


trì sự ổn định về chính trị-xã hội tạo tiền đề cho phát triển kinh tế, Việt Nam và
Trung Quốc “gặp nhau” ở điểm chung này và hai nước đã thực hiện thành công
công cuộc cải cách kinh tế mà không gặp phải thất bại như Liên Xô và các nước
XHCN Đông Âu trước đây; sáng tạo ra khái niệm “quyền sử dụng đất” cả người
Việt Nam và Trung Quốc dường như đã tạo ra một khái niệm sở hữu kép, một khái
niệm sở hữu đa tầng; đất đai thuộc sở hữu toàn dân, song quyền sử dụng đất lại
thuộc về cá nhân hoặc tổ chức.
Bằng việc pháp luật ghi nhận và bảo hộ quyền sử dụng đất của người sử
dụng đất thì dường như người sử dụng đất ở nước ta là người sở hữu một loại quyền
về tài sản đó là quyền sử dụng đất; bởi lẽ người sử dụng đất được pháp luật trao cho
các quyền năng liên quan đến quyền sử dụng đất theo đúng quy định pháp luật ở
từng giai đoạn. Như vậy, khi pháp luật đã thừa nhận quyền sử dụng đất là một loại
quyền về tài sản của người sử dụng đất thì khi nhà nước thu hồi đất (có nghĩa là
người sử dụng đất bị mất quyền sử dụng đất do hành vi thu hồi đất của Nhà nước),
Nhà nước phải bồi thường về thiệt hại về đất và thiệt hại về tài sản gắn liền với đất
cho người sử dụng đất.
1.2.2. Khái niệm pháp luật về bồi thườ g khi Nhà ước thu hồi đất nông
nghiệp
Bất cứ một lĩnh vực nào, một quan hệ xã hội nào phát sinh trong đời sống xã
hội cũng rất cần đến sự điều chỉnh của pháp luật, nhằm định hướng các quan hệ này
đi theo một trật tự chung thống nhất, phù hợp của các bên tham gia quan hệ lợi ích
chung của toàn xã hội. Pháp luật được xem là một trong những phương thức hiệu
quả để thực hiện chức năng quản lý nhà nước. Hệ thống pháp luật được chia thành
những bộ phận cấu thành khác nhau để điều chỉnh các nhóm quan hệ xã hội riêng
biệt, nhưng có sự tác động qua lại với nhau, đảm bảo cho các quan hệ này tồn tại,
phát triển hợp quy luật. Trong lĩnh vực đất đai, cùng với quá trình thu hồi đất nói

thực tiễn khách quan, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước thì sẽ giúp điều
chỉnh, hướng dẫn hành vi xử sự của các chủ thể theo chuẩn mực chung, hạn chế các
tranh chấp, khiếu nại; bên cạnh đó góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế;
Phương diện tiêu cực: Nếu nội dung các quy định này của pháp luật lạc hậu,
không phù hợp với thực tiễn khách quan và chậm sửa đổi, bổ sung sẽ trở thành rào
cản hành vi xử sự của các chủ thể trong quan hệ bồi thường, làm tăng tình trạng
khiếu nại, tố cáo, gây bất ổn đến trật tự xã hội, cũng như kìm hãm sự phát triển của
nền kinh tế.
3 Cơ ấu pháp luật điều chỉnh về bồi thườ g khi Nhà ước thu hồi đất
nông nghiệp
Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia
đình, cá nhân bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh những vấn đề
liên quan đến bồi thường đối với hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất
nông nghiệp. Lĩnh vực pháp luật này được hình thành và phát triển qua các giai
đoạn khác nhau của đất nước, tương ứng với mỗi giai đoạn thì mục đích để hướng
tới sự điều chỉnh cũng có sự khác nhau; sự khác nhau này phụ thuộc vào nhiệm vụ
kinh tế, chính trị, xã hội và điều kiện phát triển kinh tế của đất nước trong từng thời
kỳ. Cho dù sự biểu hiện của pháp luật ở mỗi giai đoạn có khác nhau, nhưng tựu
chung lại, pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia
20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status