LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng em. Các thông tin
và số liệu sử dụng trong khóa luận là trung thực. Các luận điểm, dữ liệu được trích
dẫn đầy đủ nguồn tác giả, nếu không là ý tưởng hoặc kết quả tổng hợp của chính
bản thân em.
Hà Nội, ngày 22 tháng 4 năm 2017
Tác giả khóa luận
Vi Thị Luyến
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, em xin được gửi lời cảm ơn tới Ban Giám hiệu
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội, Quý Thầy cô giáo trong Khoa Hành chính học nói
riêng, Thầy cô các Khoa chuyên môn nói chung đã nhiệt tình giảng dạy, tâm huyết
trong quá trình truyền đạt kiến thức và chia sẻ kinh nghiệm thực tế quý báu. Kiến
thức tiếp thu được cùng những trải nghiệm thực tế từ Quý Thầy cô chia sẻ không
chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang quý báu để
em bước vào đời tự tin và chắc chắn.
Xin cảm ơn và bày tỏ sự kính trọng tới Cô giáo TS. Lê Thị Vân Anh - Giảng
viên Khoa Khoa học Chính trị đã tận tình, chu đáo hướng dẫn em thực hiện khóa
luận này.
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn Ban Tôn giáo tỉnh Thanh Hóa, Ban Trị
sự Phật giáo tỉnh Thanh Hóa đã giúp đỡ em trong quá trình tìm kiếm tài liệu thành
công phục vụ cho đề tài. Xin được biết ơn gia đình và bạn bè đã động viên, khích lệ,
ủng hộ tinh thần và vật chất cho em trong suốt bốn năm vừa qua để e, có thể hoàn
thành tốt sự nghiệp học tập và rèn luyện của mình.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất.
Song do buổi đầu mới làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, tiếp cận với thực
tế cũng như hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi những
thiếu sót nhất định mà bản thân chưa thấy được. Rất mong nhận được sự góp ý của
Ban Trị sự Phật giáo
Cộng hòa Dân chủ nhân dân
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Câu lạc bộ Thanh thiếu niên Phật tử
Giáo hội Phật giáo
Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Hội đồng Nhân dân
Mặt trận tổ quốc Việt Nam
Nhà xuất bản
Phật giáo Việt Nam
Quản lý nhà nước
Ủy ban nhân dân
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nước ta là một quốc gia đa tôn giáo, các tôn giáo cùng tồn tại và chung
sống bên nhau một cách hoà bình, hữu hảo, cùng với tín ngưỡng dân gian đã tạo
nên những nét văn hoá rất riêng của người Việt. Hoạt động tôn giáo ở nước ta
hiện nay, có lúc, có nơi còn bị lợi dụng để hoạt động chính trị. Bởi vậy, không
một quốc gia nào không đặt ra vấn đề phải nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước
về hoạt động tôn giáo. Đảng và Nhà nước ta luôn xác định công tác tôn giáo là
vấn đề chiến lược có ý nghĩa quan trọng. Đặc biệt, trong công cuộc đổi mới đất
nước hiện nay tôn giáo đang là vấn đề lớn liên quan đến chính sách đối nội, đối
ngoại của Đảng và Nhà nước thu hút sự quan tâm của các cấp, các ngành, của
cả hệ thống chính trị.
Nếu Nho giáo vào Việt Nam đi liền với sự thống trị, cưỡng bức của Phong
kiến phương Bắc, thì Phật giáo vào Việt Nam bằng con đường hòa bình ( đường
thủy), do nhà sư người Ấn Độ là Mahajivaka (Ma Ha Kỳ Vực) truyền bá đạo
Phật vào Việt Nam năm 188 trước Công Nguyên. Có nhiều bằng chứng cho thấy
nghiên cứu về Phật giáo tiêu biểu như:
Ban Nghiên cứu lịch sử Thanh Hóa (1984),“Lịch sử Thanh Hóa” tập 2, Nxb
VHTT;
Ban nghiên cứu lịch sử Thanh Hóa (2000),“Địa chí Thanh Hóa” tập 1, Nxb
VHTT;
Ban Tôn giáo tỉnh Thanh Hóa (2012),“ Đề án kiện toàn, củng cố bộ máy tổ chức,
cán bộ làm công tác tôn giáo cấp huyện, xã ở Thanh Hóa”;
Bùi Hữu Dược (2009),“Quan hệ nhà nước CHXHCNVN với Phật giáo trong
tương quan chung quan hệ nhà nước với tôn giáo hiện nay”;
Nguyễn Thị Duyên (2012),“Phật giáo ở Thanh Hóa và ảnh hưởng của nó
đến đời sống tinh thần nhân dân tỉnh hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ;
Nguyễn Khắc Đức,“Vai trò của Phật giáo ở Việt Nam hiện nay;
Nguyễn Thị Hường (2013), “Vai trò của Phật giáo đối với đời sống văn hóa của
người dân Thanh Hóa từ năm 1984 đến nay”, Luận văn Thạc sĩ;
Trần Hồng Liên “Chức năng của Phật giáo đối với vấn đề văn hóa”;
Lê Văn Nhuần (2004),“Công tác quản lý nhà nước về tôn giáo ở huyện
Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa – Thực trạng và giải pháp”;
Tỉnh hội Phật giáo Thanh Hóa (2009),“Chùa xứ Thanh” tập 1, Nxb Thanh Hóa;
6
Tỉnh hội Phật giáo Thanh Hóa (2010),“Chùa xứ Thanh” tập 2, Nxb Thanh Hóa;
Vương Quốc Tuấn (2006),“Vấn đề thực hiện chính sách tôn giáo ở tỉnh
Thanh Hóa”.
Ngoài ra còn có rất nhiều công trình, các bài viết khác gián tiếp nội dung bàn
về Phật giáo trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa nói riêng, Việt Nam nói chung trên các tạp
chí Phật học, nghiên cứu tôn giáo và một số tạp chí khác. Điểm qua tình hình
nghiên cứu như trên, chúng ta có thể rút ra một số nhận xét như sau:
Thứ nhất, Phật giáo và vai trò của Phật giáo trong đời sống xã hội là lĩnh vực
Một là, khái quát thực trạng quá trình QLNN đối với hoạt động của Phật
giáo; Những kết quả đạt được và hạn chế cần khắc phục.
Hai là, khái quát tình hình kinh tế xã hội của tỉnh; Đặc điểm hoạt động của
Phật giáo trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
Ba là, đề xuất một số giải pháp và phương hướng nhằm nâng cao chất lượng
trong công tác QLNN đối với hoạt động của Phật giáo trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Khóa luận tập trung nghiên cứu về Công tác Quản lý nhà nước đối với các
hoạt động của Phật giáo tại tỉnh Thanh Hóa.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
Về thời gian: Giai đoạn 2012 – 2017.
Về không gian: Khóa luận tập trung giới hạn nghiên cứu về hoạt động của Phật
giáo trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận: Khóa luận được tiến hành trên cơ sở vận dụng
những nguyên tắc phương pháp luận chung nhất của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, dựa trên cơ sở vận dụng tổng hợp về lý luận
của chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như quan điểm của
Đảng và Nhà nước ta về vấn đề QLNN tôn giáo nói chung, Phật giáo nói riêng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu: Khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu
cụ thể : Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, gắn lý luận với thực tiễn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của khóa luận
Đánh giá thực trạng công tác QLNN về hoạt động của Phật giáo tại tỉnh Thanh
Hóa. Khóa luận có thể làm tài liệu tham khảo để xây dựng chủ trương, biện pháp, đề
xuất một số phương hướng nhằm nâng cao chất lượng QLNN về hoạt động của Phật
8
Đạo Phật mang tên ngời sáng lập là Đà ( hay Buddha ). Đạo
phật chính là giáo lý mà Phật Đà đã thuyết giảng. Sau khi ra đời
ở ấn Độ vào thế kỷ thứ 9 đến thế kỷ thứ 6 trớc Công nguyên,
đạo Phật đợc lu hành rộng rãi ở các quốc gia trong khu vực á Phi, gần đây đợc truyền tới các nớc Âu - Mỹ. Trong quá trình
truyền bá của minh, đạo Phật đã kết hợp với tín ng ỡng, tập tục,
dân gian, văn hoá bản địa để hình thành rất nhiều tông phái
và học phái, có tác động vô cùng quan trọng với đời sống xã hội
và văn hoá của rất nhiều quốc gia.
Buddha vốn là một thái tử tên là Tất Đạt Đa ( Siddharta), con
trai của Tịnh Phạn Vơng ( Suđhodana) vua nớc Tịnh Phạn, một
nớc nhỏ thuộc Bắc ấn Độ ( nay thuộc đất Nê Pan ) ông sinh ra
vào khoảng năm 623 trớc công nguyên.
T tởng triết lý Phật giáo đợc tập trung trong một khối lợng
10
kinh điển rất lớn, đợc tổ chức thành ba bộ kinh lớn gọi là tam
tạng gồm: Tạng Luận (Gồm toàn bộ những giới luật của Phật giáo
qui định cho cả năm bộ phái Phật giáo); Tạng kinh (Trong thời kỳ
đầu tạng kinh gồm nhiều tập dới dạng các tiền đề, mỗi tập đợc
gọi là một Ahàm); Tạng luận (Gồm những bài bình chú, giải
thích về giáo pháp của Phật giáo).
Phật giáo trong quá trình giải thích sự biến hoá vô thờng
của vạn vật, đã xây dựng nền thuyết Nhân Duyên. Trong
thuyết Nhân Duyên có ba khái niệm chủ yếu là Nhân, Quả và
Duyên:
Nhân: lcái gì phát động ra ở vật gây ra một hay nhiều
kết quả nào đó.
Quả: là cái gì tập lại từ Nhân.
yêu nhau mà phải chia lìa nhau là khổ, mất là khổ mà đợc
cũng là khổ; Tập đế: Tập là tập hợp, tụ tập lại mà thành. Đó là
do con ngời có lòng tham, dâm (giận dữ ), si ( si mê, cuồng mê,
mê muội) và dục vọng; Diệt đế: Là phải thấu hiểu đợc Thập
nhị nhân duyên để tìm ra đợc căn nguyên của sự khổ - để
dứt bỏ từ ngọn cho đến gốc rễ của cái khổ; Đạo đế: Là con ngời
ta phải theo đế diệt khổ, phải đào sâu suy nghĩ trong thế giới nội
tâm ( thực nghiệm tâm linh ). Tuy luyện tâm trí, đặc biệt là thực
hành YOGA để đạt tới cõi siêu phàm mà cao nhất là đạt tới cõi
phận là đạt tới trình độ giác ngộ bát nhã.
Tóm lại, Phật giáo không chủ trơng giải phóng bằng cách
mạng xã hội. Mặc dù Phật giáo lên án rất gay gắt chế độ ng ời
bóc lột ngời, chống lại chủ nghĩa duy tâm ca Bà La môn giáo.
Đó là một trong những nhợc điểm đồng thời cũng là u điểm
nửa vời của Đạo phật. Đứng trớc bể khổ của chúng sinh Phật giáo
chủ trơng cải tạo tâm linh chứ không phải cải tạo thế giới hiện
thực. Nh vậy Phật giáo nguyên thuỷ có t tởng vô thần, phủ nhận
đấng sáng tạo (vô ngã, vô tạo giả) và có t tởng biện chứng (vô
thờng, lý thuyết Duyên khởi ). Tuy nhiên, Triết học Phật giáo cũng
thể hiện tính duy tâm chủ quan khi coi thế giới hiện thực là ảo
giả và do cái tâm vô minh của con ngời tạo ra.
Qua bao thng trm ca lch s, mói n ngy nay, Pht giỏo ó khụng
12
nhng vn tn ti m cũn c lan truyn khp th gii v c nhiu tng lp
ngi tụn kớnh, lu tõm tỡm hiu. c nh th, ngoi nhõn cỏch ca c Pht
cũn nh giỏo lý, giỏo lut, l nghi ca Pht giỏo.
1.1.2. S phỏt trin ca Pht giỏo
ngi. Cỏc trng phỏi Pht giỏo khỏc nhau quan im v bn cht ca con
ng a n gii thoỏt, tớnh chớnh thng ca cỏc bi ging o v kinh in, c
bit l phng thc tu tp.
Mấy năm gần đây ở một số nớc nh: Italya, Thuỵ Sỹ, Thuỵ
Điển, Tiệp .... Việc nghiên cứu Đạo Phật cũng rất sôi nổi, đã xây
dựng nên không ít cơ sở nghiên cứu Phật giáo và trung tâm
nghiên cứu Phật học. Ví dụ Sở nghiên cứu Trung Đông, Viễn Đông
Italia, dới sự chủ trì của Đỗ Kỳ đã biên tập và xuất bản T sách
La mã với Đông Phơng ( Đến năm 1977 đã xuất bản đợc 51 loại )
trong đó bao gồm rất nhiều trớc tác phẩm Phật giáo. Nhng ở
trong các quốc gia này số tín đồ không nhiều lắm chỉ chiếm
số ít phần trăm trong tổng số dân.
Trớc đây Phật giáo đợc coi là một trong ba tôn giáo lớn của
thế giới, nhng trong những năm gần đây do sự suy yếu của
một số quốc gia, số tín đồ Phật giáo đã gim xuống đứng sau
Đạo Cơ Đốc, Đạo Ixlam và Đạo ấn Độ, chiếm vị trí thứ t. Căn cứ
thống kê của Bách khoa toàn th Cơ Đốc giáo thế giới xuất bản
ở Oxford năm 1982, toàn thế giới hiện có 295.570.780 tín đồ
Phật giáo. Con số này so với năm 1972 đã tăng lên 50.000 ngời
( năm 1972 có 244.800.300 ngời ). Tín đồ Phật giáo phát triển
so với tổng số dân trên toàn thế giới là rất nhỏ bé.Trên thực tế
hiện nay số lợng tín đồ Phật giáo trên thế giới đã tăng lên rất
nhiều, ớc chừng khoảng trên 50 triệu ngời. Sau chiến tranh thế
giới thứ hai, Phật giáo ở các nơi trên thế giới đã trải qua những
biến đổi khác nhau, đã xuất hiện một số đặc điểm mới.
Pht giỏo rt khỏc vi cỏc tụn giỏo khỏc.Vớ d, tõm im ca hu ht cỏc tụn
giỏo l Thng , hoc ng ton nng, th nhng Pht giỏo l Vụ thn. c Pht
dy tin vo Thng khụng mang li li ớch trong vic nhn thc chõn lý giỏc ng.
Hu ht cỏc tụn giỏo ly nim tin lm nn tng cn bn. Nhng trong Pht
giỏo nim tin v mt ch thuyt no ú nm ngoi tm nhn thc thỡ khụng
những giai đoạn phát triển thịnh vượng, đồng thời có cả thời kỳ suy thoái. Tổ
chức PGVN trong những thập kỷ gần đây hoạt động chịu ảnh hưởng của những
biến động chính trị qua các thời kỳ..
Sau năm 1975, đất nước thống nhất. Các vị giáo phẩm đại diện cho các hệ
15
phái Phật giáo đã họp tại Thành phố Hồ Chí Minh (1980) để xem xét tình hình
Phật giáo cả nước và thấy rằng: đất nước hòa bình thống nhất là thời cơ thuận lợi
cho việc thực hiện nguyện vọng thống nhất Phật giáo từ phong trào chấn hưng
Phật giáo đầu thế kỷ và đã quyết định thành lập một Ban vận động thống nhất
Phật giáo để xúc tiến cuộc vận động trong phạm vi cả nước. Sau gần 2 năm vận
động, ngày 4/11/1981 Đại hội thống nhất Phật giáo đã diễn ra tại chùa Quán Sứ Hà Nội.
Đại hội đã thành lập ra tổ chức chung của Phật giáo cả nước, lấy tên là
“Giáo hội Phật giáo Việt Nam” và thông qua Hiến chương (Điều lệ hoạt động)
của Giáo hội. Hiến chương được Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) phê
duyệt tại quyết định số 83/BT ngày 29/12/1981. Theo Quyết định này, kể từ ngày
19/12/1981, Phật giáo Việt Nam trong cả nước có một tổ chức chung là “Giáo
hội Phật giáo Việt Nam”. GHPGVN có hệ thống trường lớp đào tạo từ cấp cơ
bản đến Đại học Phật giáo, Học viện Phật giáo, có Viện nghiên cứu Phật học; ở
các tỉnh, thành phố có Tăng ni, Phật tử đều thành lập Ban Trị sự Phật giáo.
Tóm lại, lịch sử Phật giáo Việt Nam trải qua bốn giai đoạn:
Một là, từ đầu công nguyên đến hết thời kỳ Bắc thuộc là giai đoạn hình
thành và phát triển rộng khắp.
Hai là, thời Nhà Lý - Nhà Trần là giai đoạn cực thịnh. Nhìn chung Phật
giáo thời này đã có những bước phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Nó là
một yếu tố của kiến trúc thượng tầng của xã hội Việt Nam từ thế kỷ X đến thế
kỷ XIV, được giai cấp phong kiến Việt Nam sử dụng trong quá trình xây dựng
và củng cố địa vị thống trị của mình và đã có ảnh hưởng sâu rộng tới mọi lĩnh
Phật giáo Việt Nam cũng dung hợp chặc chẽ con đường giải thoát bằng
tha lực,phối hợp Thiền tông với Tịnh độ tông(niệm Phật A di đà và cầu Bồ tát).
Chùa miền Bắc là cả một Phật điện vô cùng phong phú với hàng chục pho
tượng Phật, Bồ- tát, La- hán của các tông phái khác nhau. Còn ở phía Nam, Đại
Thừa và Tiểu Thừa kết hợp mật thiết với nhau trong đó: nhiều chùa mang hình thức
Tiểu Thừa (thờ Phật Thích-ca) nhưng lại theo giáo lý Đại Thừa; bên cạnh tượng
Phật Thích-ca lớn vẫn có nhiều tượng Phật nhỏ khác, bên cạnh áo vàng vẫn sử dụng
đồ nâu và đồ lam.
Ngoài ra Phật giáo Việt Nam còn kết hợp chặt chẽ giữa việc đạo với việc
đời. Tuy là một tôn giáo xuất thế, nhưng ở Việt Nam, Phật giáo lại rất nhập thế:
Các cao tăng được nhà Nước mời tham chính hoặc cố vấn trong những việc hệ
17
trọng. Sự gắn bó giữa đạo với đời mật thiết tới mức không chỉ có các nhà sư
tham gia vào chính sự, mà các thời Lý- Trần còn khá nhiều vua quan quý tộc đi
tu ( thiền phái Thảo Đường và Trúc Lâm Yên Tử).
Thứ hai, xu hướng hài hòa âm dương có phần thiên về nữ tính:
Đây là đặc trưng nổi bật thứ hai của Phật giáo Việt Nam - đặc trưng bản chất
của nền văn hóa nông nghiệp. Các vị thần Ấn Độ vốn xuất thân là những vị đàn ông,
sang Việt Nam biến thành Phật ông Phật Bà. Phật Bà Quan Âm ( biến thể của từ Quán
Thế Âm Bồ Tát) trở thành vị thần hộ mệnh của cư dân khắp vùng sông nước vốn là địa
bàn của cư dân Nam Á. Đặc biệt, người Việt Nam còn có những Phật Bà riêng của
mình, do mình tạo ra như: đứa con gái của nàng Man, tương truyền sinh ngày 8-4,
được xem là Phật tổ Việt Nam, bản thân nàng Man trỏ thành Phật mẫu.
Ở nước ta có khá nhiều chùa chiền mang tên các bà như: chùa Bà Dâu, chùa
Bà Đá, chùa Bà Đanh… và tuyệt đại bộ phận Phật tử tại gia cũng là các bà.
Thứ ba, tính linh hoạt:
Tính linh hoạt này đã khiến cho khi vào Việt Nam, Phật giáo đã bị Việt
tràn lan..
Phật giáo Thanh Hóa với tính thực tiễn, bình dân và dân chủ. Ở vùng miền núi,
nhiều hộ gia đình được các Tăng Ni, Phật tử đóng góp ủng hộ xây nhà tình thương, làm
đường đi lại dễ dàng. Nhiều chùa mở trại dưỡng lão, hội tương tế giúp người già cô
độc; Mở trường mẫu giáo, lớp học tình thương cho trẻ em nhà nghèo; Cứu trợ đồng
bào bị thiên tai; Giúp đồng bào nghèo khó mỗi dịp Phật Đản, Vu Lan, Tết Nguyên
Đán…Nhiều vị Tăng Ni trong quá trình Hoằng đạo, quan tâm giúp đỡ, xây dựng mô
hình Câu lạc bộ Thanh thiếu niên Phật tử, kết hợp đưa tin cùng với truyền hình An
Viên, Báo Giác Ngộ…
Phật giáo Thanh Hóa đã đồng hành cùng con người và quan tâm hướng dẫn
tín đồ phật tử sinh hoạt theo đúng chánh pháp, góp phần xây dựng cuộc sống lành
mạnh của người dân, và có những hoạt động đáp ứng nhu cầu cuộc sống tinh thần
và vật chất của con người, phù hợp với tâm tư, nguyện vọng của Tăng, Ni, Phật tử
tạo thành sức sống mãnh liệt, góp phần giữ gìn, phát triển bản sắc văn hóa dân tộc.
Tăng Ni, Phật tử tỉnh Thanh Hóa đóng góp nhiều ý kiến sửa đổi Hiến pháp,
bầu và ứng cử Đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân; Hưởng ứng các phong trào
thi đua yêu nước, xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, và xây dựng nông thôn
mới; Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh... Các Nghi lễ như Phật
đản, Vu lan, Thành đạo, Lễ hội Quán Thế Âm,… hàng năm đều được tổ chức trang
19
trng, thu hỳt hng vn tớn , nhõn dõn trong v ngoi tnh tham gia. Chớnh nhng
hot ng l hi y gúp phn bo tn v phỏt huy cỏc giỏ tr vn húa v duy trỡ
nột p vn húa trong i sng sinh hot thng ngy, ng thi truyn dy cho
th h tr ngy cng bit n bn sc vn húa dõn tc, cng nh np sng muụn
i ca t tụng.
Pht giỏo Thanh Húa ó m rng lũng t bi, lm nhiu vic thin gúp phn tt
i, p o. Quý ch Tng, Ni úng gúp thng niờn gõy dng Qu chm lo cho
trng quyn sng ca ngi khỏc. Trớ l hnh ng sỏng sut, li lc. Dng l quyt
tõm qu cm hnh ng. Ba iu ny phi i lin vi nhau mi to nờn con ngi
hon thin.
Vi vai trũ, chc nng v nhng giỏ tr nhõn vn sõu sc ca mỡnh, Pht
giỏo tr thnh ch da trong i sng vn húa, tinh thn ca mt b phn qun
chỳng. Cỏc chun mc ca o c Pht giỏo cú tỏc dng iu chnh hnh vi,
nhõn cỏch con ngi, nh hng tớch cc n qun chỳng.
Vi t tng t bi, cu kh, chựa ó dang rng vũng tay ún cỏc bỏc xe
ụm, xớch lụ cỏc b bỏn hng rong, cỏc chỏu bỏn bỏo, vộ s, ỏnh giy, n xin...
vo ngh tra gh ỏ v h thng c mi n ba cm chay m bc cựng
vi Tng Ni trong chựa. Nhiu ngi coi chựa l ngụi nh th hai ca mỡnh,
nhng ngụi chựa y tr thnh ni ngh ngi, ni chia s bt nhng khú khn
ca h lỳc thiu thn, m au, cng thng ca cuc sng i thng.
Nhng nm gn õy, i sng kinh t ca ngi dõn nõng cao, to iu
kin cho nhiu ngi i chựa l Pht thng xuyờn hn. Ngoi cu nguyn Pht
ban phỳc, phự h, ngi dõn cũn quan tõm hn ti vic nghe ging giỏo lý, giỏo
lut, l nghi, tu tp c hnh. Cỏc bui nghe ging giỏo lý ngy cng thu hỳt
nhiu ngi, k c nhng ngi khụng phi Pht t. Cỏc bui ging trang b
cho h nhng hiu bit v giỏ tr o c th hin trong ng gii, thp thin,
lc ... ly c Pht lm gng sỏng, ghi khc nhng gii rn trong lũng v
thc hin nú trong i sng, giỳp ớch cho bn thõn, gia ỡnh v xó hi. Pht
giỏo ch trng khuyn thin, trỏnh ỏc, gi tõm trong sch, khuyn thin, giỳp
ngi neo n, c nh, tn tt, tr m cụi, cho thuc cha bnh.
Pht giỏo khụng ch dng li cụng vic chia s nhng khú khn ca xó
hi nh hũa bỡnh, thnh vng, cụng bng, m cũn hng mi ngi ly iu
thin lm chun mc sng, lm phng tin v mc ớch t ti hnh phỳc
cho con ngi. Vi quan nim nhõn qu v nghip bỏo "gieo nhõn no thỡ gt
21
tộc – Mấy vấn đề Phật giáo và tư tưởng Việt Nam) đã viết: “Đạo Phật có thể mất đi như
mọi hiện tượng vô thường. Song cái tinh túy của văn hóa Phật giáo đã được dân tộc hóa
và dân gian.
Trong điều
kiện xã
hội hiện
nay,
những di
sản văn
hóa của Phật
giáo đang tiếp tục phát huy tác dụng, tạo nên sắc thái dân tộc, góp phần làm phong
phú bản sắc văn hóa Việt Nam. Có thể thấy nhiều tổ chức và cá nhân đã quyên
góp, công đức tiền của để khôi phục, tôn tạo chùa chiền,niệm Phật đường, đúc
chuông, đắp tượng,… Ngoài ý nghĩa tâm linh, nhiều ngôi chùa đã trở thành những
danh thắng nổi tiếng để du khách đến chiêm ngưỡng. Những giá trị văn hóa Phật
giáo không chỉ tồn tại trong tư tưởng, mà còn đang hiện diện thông qua sự nỗ
lực của hàng triệu tín đồ nhằm vươn tới một lẽ sống vì Tổ quốc giàu mạnh, nhân
sinh hạnh phúc. Điều đó càng khẳng định được vai trò của Phật giáo trong suốt quá
trình đồng hành cùng dân tộc.
1.3. Quản lý nhà nước đối với hoạt động Phật giáo
1.3.1. Một số khái niệm cơ bản
Khái niệm Phật giáo:
Tạo động lực cho mọi cá nhân trong tổ chức bằng cách kích thích, động viên;
Uốn nắn lệch lạc, sai sót nhằm giảm bớt thất thoát, sai lệch trong quá trình quản lý.
Tạo môi trường và điều kiện cho sự phát triển của mọi cá nhân và tổ
23
chức, đảm bảo phát triển ổn định, bền vững và có hiệu quả.
Khái niệm Quản lý nhà nước:
Quản lý nhà nước là sự tác động đến các chủ thể mang tính quyền lực
Nhà nước bằng nhiều biện pháp tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện những
chức năng đối nội và đối ngoại của Nhà nước trên cơ sở chính sách pháp luật.
Quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo là qua trình tác động, điều
hành, điều chỉnh để các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo diễn ra theo đúng quy định của
pháp luật.
Quản lý nhà nước có thể hiểu theo hai nghĩa:
Nghĩa rộng: Là dạng quản lý xã hội của Nhà nước, được sử dụng quyền
lực nhà nước để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con
người do tất cả các cơ quan nhà nước ( Lập pháp, hành pháp, Tư pháp) tiến
hành để thực hiện các chức năng của nhà nước đối với xã hội.
Nghĩa hẹp: Là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực Nhà nước với
chức năng chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của cơ quan
trong hệ thống hành pháp ( Chính phủ, UBND các cấp).
Khái niệm quản lý nhà nước hoạt động tôn giáo :
Khái niệm quản lí nhà nước về hoạt động tôn giáo Căn cứ theo khoản 3 và
khoản 5 Điều 3 Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004 quy định tổ chức tôn giáo là
tập hợp những người cùng tin theo một hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức
theo một cơ cấu nhất định được Nhà nước công nhận. Còn hoạt động tôn giáo là việc
truyền bá, thực hành giáo lí, giáo luật, lễ nghi, quản lý tổ chức tôn giáo.
Xét về tín ngưỡng và tôn giáo có mối liên hệ mật thiết với nhau. Tuy nhiên,
Căn cứ theo quy định tại Điều 24 của Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004.
Đối với việc xét duyệt quá trình xây dựng và sửa chữa nơi thờ tự: Căn cứ
theo quy định tại Điều 30 của Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004.
Đối với việc xét duyệt quá trình sản xuất, lưu thông đồ dùng việc đạo: Căn
cứ theo quy định tại Điều 32 của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004.
Xét duyệt các hoạt động từ thiện – xã hội: Căn cứ theo quy định tại Điều 33
của Pháp lệnh Tín ngưỡng – tôn giáo năm 2004.
Xử lý các khiếu nại, tố cáo liên quan đến tôn giáo và các vi phạm chính sách
tôn giáo: Căn cứ theo Luật khiếu nại, tố cáo năm 2011; Luật Hình sự; Luật Tố tụng
hình sự; Luật Dân sự… và các chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước để giải
quyết ngay từ cơ sở và đúng thẩm quyền pháp lý của từng cấp quản lý.
25