Khởi kiện vụ án dân sự và thực tiễn thực hiện tại tỉnh điện biên - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BÙI THỊ QUẾ ANH

KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ VÀ THỰC TIỄN
THỰC HIỆN TẠI TỈNH ĐIỆN BIÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BÙI THỊ QUẾ ANH

KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ VÀ THỰC TIỄN
THỰC HIỆN TẠI TỈNH ĐIỆN BIÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Dân sự và tổ tụng dân sự
Mã số: 60380103


7
8
9
10
11
12

BC/TU
BLDS
BLLĐ
BLTTDS
HCTP
HĐTPTANDTC.
KHXX
NCPL
NQ-HĐTP
NQ/TW
PLTTGQCVADS
PLTTGQCVAKT

13

PLTTGQCTCLĐ

14
15
16
17
18
19

Tòa án
Tòa án nhân dân tối cao
Tố tụng dân sự
Thông tư liên tịch
Ủy ban nhân dân
Vụ án dân sự
Xã hội chủ nghĩa
Viện kiểm sát nhân dân tối cao


MỤC LỤC

Tr

PHẦN MỞ ĐẦU
CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHỞI KIỆN VỤ
ÁN DÂN SỰ
1.1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của khởi kiện vụ án dân sự
1.2. Cơ sở của việc xây dựng các quy định về khởi kiện vụ án dân sự

14

1.3. Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật Việt Nam về

17

1
6
6


65

Điện Biên
Kết luận chƣơng 3

73

KẾT LUẬN CHUNG
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.

74



PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trước khi ban hành Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2004, vấn đề khởi
kiện vụ án dân sự đã được quy định trong ba Pháp lệnh về thủ tục tố tụng. Đó là Pháp
lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự 1989 (PLTTGQCVADS), Pháp lệnh Thủ tục
giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 (PLTTGQCVAKT), Pháp lệnh Thủ tục giải
quyết các tranh chấp lao động năm 1996 (PLTTGQCTCLĐ). Các quy định về khởi
kiện vụ án dân sự trong ba Pháp lệnh này là cơ sở pháp lý quan trọng để các chủ thể
có thể sử dụng bảo vệ quyền lợi của mình trước Tòa án và cũng là cơ sở để Tòa án
xem xét thụ lý giải quyết vụ tranh chấp. BLTTDS năm 2004 được Quốc hội nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI thông qua tại kỳ họp thứ 5 ngày 15
tháng 6 năm 2004 đã kế thừa và phát triển các quy định của ba Pháp lệnh về thủ tục
tố tụng dân sự trước đó. BLTTDS sửa đổi năm 2011 đã khắc phục được một số hạn
chế, vướng mắc của BLTTDS năm 2004 về hình thức, nội dung đơn khởi kiện; trả lại
đơn khởi kiện; Khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện. Tuy nhiên, một số
quy định của Bộ luật này về khởi kiện vụ án dân sự vẫn còn hạn chế và bất cập. Sự

khi BLTTDS được ban hành đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề khởi
kiện vụ án dân sự. Ví dụ như công trình nghiên cứu khoa học đề tài cấp cơ sở của
Trường đại học luật Hà Nội về “Hoàn thiện pháp luật về thủ tục giải quyết vụ việc
dân sự theo định hướng cái cách tư pháp” do TS. Trần Anh Tuấn chủ nhiệm năm
2010. Một số bài viết được công bố trên tạp chí như bài viết “Vấn đề khởi kiện và
thụ lý vụ án dân sự” của Ths Lê Thị Bích Lan đăng trên Tạp chí Luật học – số đặc
san về BLTTDS năm 2005; bài viết “Xây dựng quy định pháp lý đảm bảo quyền
khởi kiện hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh tại toà án” của tác giả Lê Thế Phúc
(Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 6 năm 2007); “Bàn về điều kiện khởi kiện của
các tổ chức tín dụng có tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay” của tác giả Trịnh Huy
Tân (Tạp chí Kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao số 9/2008); “Về việc rút
đơn khởi kiện của đương sự trong tố tụng dân sự” của ThS Nguyễn Triều Dương
(Tạp chí Toà án nhân dân số tháng 11/2009); “Về điều kiện khởi kiện tranh chấp
thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án trong một vụ án cụ thể” của tác
giả Ngô Đình Quyến (Tạp chí Toà án nhân dân tháng 3/2008); "Quyền khởi kiện và
việc xác định tư cách tham gia tố tụng” của tác giả Trần Anh Tuấn (Tạp chí Tòa án
nhân dân, số 23/2008); “ h ng vấn đề cơ ản lưu ý khi thụ lý đơn khởi khởi kiện
khởi tố đơn yêu c u trong giải quyết vụ án ân sự” của tác giả Duy Kiên đăng

2


trên tạp chí Kiểm sát số 07/2012; bài viết: “ ột số ý kiến về th i hiệu khởi kiện
theo quy định của uật s a đổi

ổ sung ộ luật tố tụng ân sự 2004” của tác giả

Lê Mạnh H ng đăng trên tạp chí Kiểm sát số 10/2012. Bài viết “
mới về khởi kiện và thụ lý vụ án ân sự theo uật s a đổi




nghĩa sâu sắc trong việc bảo đảm quyền tiếp cận công lý của đồng bào các dân

tộc vùng Tây Bắc. Do vậy, việc phân tích những nội dung pháp lý về khởi kiện
VADS dưới góc độ lý luận, luật thực định và thực tiễn thực hiện tại các Toà án trên

3


địa bàn Tỉnh Điện Biên, qua đó đưa ra những kiến nghị, đề xuất hướng dẫn triển
khai hoặc hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện pháp luật trên thực tế là cần
thiết, có

nghĩa l luận và thực tiễn sâu sắc.

3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là các vấn đề lý luận, quy định của pháp
luật về khởi kiện vụ án dân sự và thực tiễn thực hiện các quy định đó tại các Toà án
trên địa bàn Tỉnh Điện Biên. Trong khuôn khổ của Luận văn thạc sỹ luật học, với
giới hạn về thời gian nghiên cứu, thực hiện đề tài, Luận văn chỉ nghiên cứu tập
trung vào những vấn đề lý luận cơ bản của khởi kiện vụ án dân sự như khái niệm,
đặc điểm,

nghĩa và cơ sở của khởi kiện vụ án dân sự, nội dung các quy định của

BLTTDS sửa đổi năm 2011 và BLTTDS năm 2015, các văn bản hướng dẫn về khởi
kiện vụ án dân sự và giới hạn thực tiễn thực hiện việc khởi kiện đó trong phạm vi
địa bàn Tỉnh Điện Biên.
4. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

Minh về nhà nước và pháp luật, đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước qua
các giai đoạn lịch sử.
Phương pháp nghiên cứu của khóa luận là đi từ lý luận đến thực tiễn, dùng thực
tiễn kiểm chứng lý luận. Ngoài ra, để thực hiện việc nghiên cứu tác giả cũng sử dụng
các phương pháp nghiên cứu khoa học như phân tích, tổng hợp, so sánh, diễn giải, suy
diễn lô gic.
6. Những kết quả nghiên cứu mới của Luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu có tính hệ thống những vấn đề liên quan
đến khởi kiện vụ án dân sự. Những đóng góp mới của Luận văn:
Phân tích, luận giải có hệ thống các quy định của BLTTDS sửa đổi năm 2011
và BLTTDS năm 2015 về khởi kiện vụ án dân sự; đánh giá được thực trạng pháp
luật và thực tiễn áp dụng những quy định về khởi kiện vụ án dân sự tại các Toà án
trên địa bàn Tỉnh Điện Biên; phân tích và luận giải những khó khăn, vướng mắc nảy
sinh từ thực tiễn thực hiện pháp luật về khởi kiện vụ án trên thực tế. Trên cơ sở kết
quả nghiên cứu, Luận văn đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện những
quy định của pháp luật tố tụng dân sự về khởi kiện vụ án dân sự cũng như bảo đảm
thực hiện các quy định của pháp luật trên thực tế.
7. Cơ cấu của Luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3
chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về khởi kiện vụ án dân sự.

5


Chương 2: Thực trạng các quy định hiện hành về khởi kiện vụ án dân sự.
Chương 3: Thực tiễn thực hiện các quy định về khởi kiện vụ án dân sự tại Tỉnh
Điện Biên và kiến nghị.

6

“Quyền khởi kiện vụ án dân sự là quyền tố tụng của công dân, pháp nhân và các tổ
chức xã hội yêu c u Tòa án nhân dân bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của mình, của
Trần Anh Tuấn (2008), “Quyền khởi kiện và việc xác định tư cách tham gia tố tụng”, Tạp chí Toà án nhân
dân, (23), tr. 12.
1

7


tập thể của hà nước hay của ngư i khác đang ị tranh chấp hoặc vi phạm”1. Tiếp
theo đó, TS. Hoàng Ngọc Thỉnh cho rằng“Quyền khởi kiện vụ án dân sự là quyền tố
tụng quan trọng của các chủ thể… iệc thực hiện quyền này của các chủ thể được
gọi là khởi kiện vụ án dân sự” và “Khởi kiện vụ án dân sự là việc cá nhân cơ quan
tổ chức hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nộp đơn
yêu c u Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay của
ngư i khác” 2. Theo đó, khởi kiện vụ án dân sự là hành vi đầu tiên của cá nhân,
pháp nhân và các chủ thể khác tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, là cơ
sở làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng dân sự. TS. Phan Chí Hiếu cho rằng
“quyền khởi kiện vụ án dân sự là quyền tố tụng của cá nhân, pháp nhân, các tổ
chức xã hội hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự yêu
c u Tòa án bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của hà nước, tập thể hay
của ngư i khác đang ị tranh chấp hoặc bị vi phạm”3.
Theo kết quả nghiên cứu trên thì bản chất của khởi kiện là thực hiện quyền
yêu cầu Toà án bảo vệ quyền lợi khi quyền lợi này bị tranh chấp hay vi phạm. Khởi
kiện là thực hiện quyền yêu cầu Toà án bảo vệ quyền lợi của nguyên đơn và theo
nghĩa rộng thì khởi kiện là thực hiện quyền yêu cầu Toà án bảo vệ quyền lợi của
nguyên đơn, quyền và quyền yêu cầu Toà án bảo vệ quyền lợi của người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan do họ đã không thực hiện quyền yêu cầu của mình trước khi
nguyên đơn khởi kiện vụ án. Theo TS. Nguyễn Công Bình “Trong vụ án dân sự, lợi
ích pháp lý của ngư i có quyền và nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập luôn

pháp và tố tụng... thuật ngữ vụ kiện dân sự được sử dụng để chỉ những tranh chấp
dân sự có yêu cầu Toà án giải quyết. Đến năm 1959, khi mà Hiến pháp 1959 ra đời,
thuật ngữ vụ kiện trước đây được thay thế bằng thuật ngữ vụ án, cụ thể theo Điều 1
Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 1960 quy định “Toà án nhân ân xét x nh ng
vụ án hình sự và dân sự...”. Khái niệm vụ án dân sự ở đây được d ng để chỉ những
vụ kiện dân sự và cả những việc dân sự đặc biệt – bao gồm cả những việc trong đó
có tranh chấp hay không có tranh chấp về quyền và lợi ích hợp pháp của các đương
sự. Theo ba Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự 1989, Pháp lệnh thủ tục
giải quyết các vụ án kinh tế, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động thì
khi các đương sự có nhu cầu đưa các vụ việc dân sự, kinh tế, lao động để giải quyết
theo thủ tục tố tụng thì tất cả các vụ việc, tranh chấp hay không tranh chấp vẫn được
gọi chung là vụ án.
Theo BLTTDS 2004, thì có hai loại thủ tục riêng biệt là thủ tục giải quyết các
vụ án dân sự có tranh chấp và thủ tục giải quyết việc dân sự không có tranh chấp.
Theo đó, lần đầu tiên khái niệm vụ việc dân sự và việc dân sự đã được BLTTDS ghi
nhận chính thức. Khái niệm vụ việc dân sự đã thay thế cho khái niệm vụ án dân sự
trước đây, nếu các cá nhân, cơ quan tổ chức có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ thì
gọi là vụ án dân sự, nếu cơ quan cá nhân tổ chức không có tranh chấp về quyền và
nghĩa vụ nhưng có yêu cầu Toà án công nhận cho mình quyền về dân sự thì là việc
dân sự. Vụ án dân sự bao gồm các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh
doanh thương mại và lao động. Theo BLTTDS 2004, BLTTDS sửa đổi năm 2011
thì khởi kiện được hiểu theo nghĩa hẹp hơn trước đây. Theo đó, khởi kiện là thực
hiện quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm hay tranh
chấp trong vụ án dân sự. Còn yêu cầu là thực hiện quyền của chủ thể trong việc yêu
cầu Tòa án xem xét về việc công nhận hay không công nhận một sự kiện pháp lý

9


hoặc các quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động

của mình có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công
cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách.
Điều 187 BLTTDS năm 2015 về quyền khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà
nước đã kế thừa các quy định tại Điều 162 BLTTDS sửa đổi năm 2011 đồng thời có
những sửa đổi bổ sung về quyền khởi kiện của tổ chức đại diện tập thể lao động, tổ
chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Như vậy, khởi kiện vụ án dân sự là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức hoặc các
chủ thể khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự yêu cầu Tòa án có thẩm
quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác, bảo vệ lợi ích
công cộng và lợi ích Nhà nước trong trường hợp lợi ích đó đang bị xâm phạm hay
có tranh chấp với chủ thể khác. Khởi kiện vụ án dân sự là hành vi tố tụng đầu tiên

10


của chủ thể có quyền lợi hoặc người đại diện của họ làm phát sinh các quan hệ pháp
luật TTDS. Việc thực hiện quyền khởi kiện VADS thể hiện bằng việc nguyên đơn
nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án, là sự kiện thực tế có

nghĩa pháp l làm

phát sinh quá trình tố tụng dân sự.
1.1.2. Đặc điểm của khởi kiện vụ án dân sự
Khởi kiện VADS được xem là công cụ hữu hiệu nhất trong toàn bộ các
phương thức khác nhau mà xã hội và Nhà nước d ng để giải quyết các tranh chấp
và mâu thuẫn lợi ích. Hoạt động khởi kiện VADS có những đặc điểm sau:
- Khởi kiện là hoạt động do các chủ thể có quyền lợi hoặc được pháp luật trao
quyền thực hiện theo quy định của pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng quy định.
Về nguyên tắc thì trừ các trường hợp đặc biệt mà pháp luật có quy định thì chủ

tiên bảo vệ quyền dân sự của chủ thể có quyền hay lợi ích hợp pháp bị xâm phạm
và các chủ thể được pháp luật trao quyền
Cụ thể khởi kiện được pháp luật ghi nhận dưới dạng quyền cầu viện công lý
bảo vệ quyền lợi của chủ thể và đây là hoạt động tố tụng đầu tiên trong quá trình
bảo vệ quyền lợi. Xuất phát từ yêu cầu của việc cần đảm bảo quyền con người, khi
quyền hay lợi ích bị xâm phạm thì chủ thể có quyền hoặc được pháp luật trao quyền
có thể nhờ sự can thiệp của Tòa án thông qua việc làm đơn khởi kiện. Việc làm đơn
khởi kiện là bước đầu tiên trong hoạt động khởi kiện, từ việc làm đơn gửi Tòa án sẽ
phát sinh những thủ tục tố tụng tiếp theo như đơn khởi kiện được Tòa án thụ lý hay
không thụ lý, nếu đơn được chấp nhận Tòa án sẽ ra các quyết định tố tụng khác để
giải quyết vụ án…Chính vì vậy, khởi kiện được coi là hoạt động không thể thiếu để
làm phát sinh vụ án dân sự.
- Khởi kiện VADS là tiền đề cho các hoạt động tố tụng tiếp theo trong quá
trình giải quyết vụ án dân sự
Xét dưới góc độ là quyền thì việc khởi kiện phải được bảo đảm thực hiện bởi
các hoạt động khác do các cơ quan tố tụng thực hiện như Cơ quan thi hành án dân
sự thực hiện việc thu tạm ứng án phí, lệ phí; Tòa án xem xét thực hiện việc thụ lý,
chuẩn bị xét xử, hòa giải, xét xử vụ án để ra phán quyết, Viện kiểm sát thực hiện
chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự. Khởi kiện VADS được
thực hiện ở thời điểm trước khi Tòa án thụ lý vụ án. Hoạt động ngay sau việc nộp
đơn khởi kiện là hoạt động xem xét đơn khởi kiện. Tòa án sau khi nhận đơn khởi
kiện sẽ xem xét đơn và trong thời hạn luật định phải ra một trong các quyết định thụ
lý nếu thuộc thẩm quyền; chuyển đơn nếu không thuộc thẩm quyền và trả lại đơn.
Khởi kiện chính là hành vi đầu tiên của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác
nhau tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, là cơ sở pháp lý làm phát sinh
quan hệ pháp luật tố tụng dân sự.
1.1.3. Ý nghĩa của khởi kiện vụ án dân sự

12


Toà án có trách nhiệm nhận đơn, vào sổ theo dõi để xem xét giải quyết. Toà sẽ phải
xem xét việc khởi kiện có đáp ứng đủ các điều kiện do pháp luật như tư cách pháp
lý của người khởi kiện; người khởi kiện có năng lực hành vi TTDS, có quyền và lợi

13


ích hợp pháp bị xâm phạm hay đang tranh chấp không, trong trường hợp người đại
diện khởi kiện thì phải tuân thủ các quy định về đại diện; nội dung đương sự yêu
cầu giải quyết có thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án mình không; sự việc đã
được giải quyết bằng án, quyết định đã có hiệu lực chưa... Khi việc khởi kiện đáp
ứng được các yêu cầu thì Toà án tiến hành thụ l VADS. Trong trường hợp người
khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng phí thì Toà án sẽ thông báo để họ biết và đi nộp
tiền tạm ứng án phí. Sau khi nhận được biên lai thu tiền tạm ứng án phí do đương sự
nộp, Toà án sẽ vào sổ thụ lý vụ án để giải quyết. Như vậy, khởi kiện vụ án dân sự là
cơ sở, tiền đề để Tòa án nhân danh nhà nước giải quyết các vụ án dân sự. Các phán
quyết của Tòa án buộc các cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan tôn trọng và triệt
để thi hành nên việc thực hiện quyền khởi kiện sẽ bảo đảm cho việc bảo vệ có hiệu
quả quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể.
- hởi kiện vụ án ân sự c n là cơ sở để T a án tính th i hiệu khởi kiện của
chủ thể c n hay đã hết
Quyền khởi kiện mặc d là một quyền dân sự được pháp luật ghi nhận và đảm
bảo thực hiện cho cá nhân, cơ quan, tổ chức nhưng không phải họ có quyền thực
hiện quyền này bất kỳ khi nào. Đối với m i loại tranh chấp, pháp luật quy định cụ
thể thời hiệu khởi kiện mà hết khoảng thời gian đó, chủ thể không thực hiện quyền
thì sẽ bị hết thời hiệu khởi kiện. Và khoảng thời gian này được tính kể từ khi quyền
và lợi ích bị xâm phạm cho đến khi khởi kiện có thể là hai năm, ba năm… t y thuộc
vào tính chất của m i loại tranh chấp khác nhau. Với mốc thời gian chủ thể nộp đơn
khởi kiện, Tòa án sẽ có căn cứ để xác định việc khởi kiện đó có đảm bảo về thời
hiệu khởi kiện hay không.

ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 ghi nhận “Mọi ngư i đều có quyền được bảo
vệ bằng các Tòa án quốc gia có thẩm quyền với phương iện pháp lý có hiệu lực
chống lại nh ng hành vi vi phạm các quyền căn ản đã được Hiến pháp và pháp
luật công nhận”. Kế thừa các quy định về quyền con người, Điều 14 Hiến pháp
2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quy định “Ở nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa iệt Nam, các quyền con ngư i về chính trị, dân sự, kinh tế,
văn hóa và xã hội được tôn trọng thể hiện ở các quyền công ân và được quy định
trong Hiến pháp và luật”. Tại Chương V Hiến pháp năm 2013 quy định “Khi quyền
dân sự của một chủ thể bị xâm phạm thì chủ thể đó có quyền tự bảo vệ … hoặc yêu
cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền: Công nhận quyền dân sự của mình; Buộc chấm
dứt hành vi vi phạm…". Như vậy, khởi kiện VADS tại TA chính là công cụ pháp lý
hữu hiệu để bảo vệ các quyền dân sự của công dân. TA là cơ quan sẽ giải quyết các
tranh chấp dân sự của công dân khi họ thực hiện quyền khởi kiện của mình. Trên cơ
sở quy định về quyền con người của Hiến pháp 2013, pháp luật tố tụng dân sự cũng
cụ thể hóa cơ chế bảo vệ các quyền này thông qua phương thức khởi kiện tại Tòa án.
Do đó, việc ghi nhận khởi kiện vụ án dân sự là hoạt động triển khai thực hiện quyền

15


khởi kiện của chủ thể có quyền trong TTDS trước hết phải dựa trên cơ sở ghi nhận
và bảo đảm các quyền con người về dân sự.
Ngoài việc ghi nhận quyền khởi kiện thì một vấn đề quan trọng là quyền khởi
kiện này sẽ được Toà án tiếp nhận ra sao, với những điều kiện cụ thể nào, trong thời
hạn nào... nếu không được quy định cụ thể thì sẽ không đảm bảo quyền này được
thực thi thực sự trong cuộc sống, cũng như việc thực hiện nó sẽ trở nên thiếu thống
nhất, kém hiệu quả... Do đó, pháp luật cần đặt ra các quy định cụ thể về việc tiếp
nhận yêu cầu khởi kiện đảm bảo sự công khai, minh bạch, theo cơ chế rõ ràng, ràng
buộc trách nhiệm của cả Toà án trong việc bảo đảm thực thi quyền khởi kiện. Ngoài
ra, quyền yêu cầu Toà án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp được ghi nhận là một

người dân thực hiện quyền khởi kiện của mình. Nếu đặt ra nhiều điều kiện không hợp
lý hoặc căn cứ trả lại đơn khởi kiện không rõ ràng sẽ làm hạn chế quyền khởi kiện
của chủ thể có quyền lợi hợp pháp bị xâm phạm.
- Việc đặt ra các quy định về khởi kiện vụ án dân sự còn xuất phát từ nguyên
tắc ình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự
Các chủ thể khi tham gia quan hệ TTDS hoàn toàn bình đẳng về việc được
hưởng quyền, thực hiện nghĩa vụ, địa vị pháp lý, một người có nhiều tiền hơn, hay
có địa vị xã hội cao hơn khi tham gia một quan hệ dân sự với người khác không có
nghĩa là họ có quyền coi thường quyền của người kia, có quyền coi nhẹ, thiếu trách
nhiệm trong việc thực hiện nghĩa vụ của mình... Do vậy, việc ghi nhận các quy định
cụ thể về khởi kiện vụ án dân sự chính là góp phần đảm bảo sự bình đẳng của các
đương sự khi tham gia vào quan hệ pháp luật TTDS, dù họ có là ai, ở địa vị xã hội
nào... thì khi khởi kiện vụ án dân sự vẫn phải thực hiện đầy đủ và tuân thủ các yêu
cầu của pháp luật, như phải cung cấp chứng cứ để chứng minh việc khởi kiện của
mình là chính đáng, phải nộp tiền tạm ứng án phí. Tuy nhiên, các quy định của pháp
luật cũng cần phải hướng tới việc tạo thuận lợi cho đương sự là người chưa thành
niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người yếu thế.
- Việc xây dựng các quy định về khởi kiện vụ án dân sự phải trên cơ sở phù
hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam
Các quan hệ dân sự trong xã hội ngày càng trở nên phức tạp, kéo theo đó là
các tranh chấp cũng ngày càng đa dạng phức tạp hơn nhưng trình độ hiểu biết pháp
luật của người dân nói chung còn chưa cao, đặc biệt là ở những vùng sâu vùng xa
nơi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, do vậy khi xảy ra tranh chấp khó
tránh khỏi lúng túng khó khăn trong việc bảo vệ quyền lợi của mình. Do đó, việc
quy định rõ ràng, cụ thể và chi tiết về vấn đề khởi kiện vụ án dân sự sẽ giúp cho
người dân có thể dễ dàng hơn trong việc khởi kiện đồng thời giúp cho họ có thể dễ
dàng hơn trong việc theo dõi, kiểm tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật của Tòa án
trong quá trình tố tụng.
1.3. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT
VIỆT NAM VỀ KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ

việc quân lương hoặc quản l quân đội thì dân chúng phải công khai đồng loạt thưa
kiện. Bộ luật quy định cấm kiện vượt cấp, cấm gửi thư nặc danh và nghiêm trị hành
vi vu cáo, hành vi xúi giục, người tù không có quyền tố cáo người khác trừ tố ngục
quan, ngục tốt đối xử tàn tệ, hành hạ, xâm hại tù nhân.
Dưới thời Pháp thuộc thủ tục giải quyết các tranh chấp dân sự được quy định
trong luật dân sự thương sự tố tụng và Pháp viện biên chế. Theo luật dân sự thương
sự tố tụng thì một vụ tranh chấp dân sự xảy ra, người có quan hệ trực tiếp đến vụ
tranh chấp có quyền viết đơn đến Tòa án khởi kiện. Như vậy, có thể khẳng định các

18


quy định về khởi kiện đã xuất hiện từ khá sớm trong pháp luật Việt Nam, mặc dù
các quy định này còn khá đơn giản. Tuy nhiên, đó cũng là những cơ sở đầu tiên để
hình thành các quy định về khởi kiện trong pháp luật Việt Nam sau này.
1.3.2. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1989
Cách mạng Tháng Tám thành công đã mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân
tộc Việt Nam, lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - Nhà nước công nông đầu tiên
ở Đông Nam châu Á. Cùng thời gian đó, vào cuối năm 1946, bản Hiến pháp đầu
tiên của nước ta ra đời. Hiến pháp 1946 đã ghi nhận một loạt quyền cơ bản của công
dân Việt Nam. Các quy định của Hiến pháp 1946 tạo ra chính là những viên gạch cơ
sở đầu tiên, là điều kiện tiên quyết, là nền tảng cơ bản để hình thành quyền khởi
kiện và viêc thụ lý vụ án dân sự.
Ngày 10/10/1945, Nhà nước đã ban hành Sắc lệnh số 47/SL cho phép áp dụng
luật lệ cũ để xét xử nhưng “không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và
chính thể Cộng hoà”, trong đó có Điều 11 quy định về thủ tục tố tụng cho phép tạm
thời giữ thủ tục tố tụng của chế độ cũ. Ngày 17/4/1946, Nhà nước đã ban hành Sắc
lệnh số 51/SL có quy định về việc kiện, khởi tố thụ lý vụ án, tuy nhiên thực chất lại
không có quy định thụ l như thế nào. Đến ngày 22/5/1950 Sắc lệnh số 97/SL được
ban hành quy định về việc sửa đổi một số nguyên tắc mới để áp dụng điều kiện dân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status