Khởi tố vụ án hình sự và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Viện kiểm sát
huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình từ năm 2011 đến năm 2013
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003, khởi tố vụ án hình sự
là một giai đoạn quan trọng trong việc giải quyết vụ án hình sự. Khởi tố là giai
đoạn tố tụng đầu tiên, là giai đoạn cung cấp toàn bộ các “nguyên liệu đầu vào”
cho quá trình tố tụng. Giai đoạn này nhằm xác định có dấu hiệu phạm tội hay
không để cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố, nếu hoạt động này
không được tiến hành khẩn trương và đầy đủ thì sẽ không nhanh chóng phát
hiện dấu hiệu phạm tội dẫn đến việc ra quyết định không khởi tố vụ án và mặc
nhiên đã bỏ lọt tội phạm. Mặt khác, khởi tố vụ án là tiền đề ra quyết định khởi tố
bị can; nếu quá trình khởi tố vụ án hình sự sai thì dẫn đến quyết định khởi tố bị
can sai, làm cho tính pháp lí không được nghiêm minh và bảo đảm nữa. Ngược
lại, khi khởi tố vụ án đúng thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động tố
tụng tiếp theo (điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án) đưa đến tính hiệu quả bảo
đảm xử lý tội phạm nhanh chóng, kịp thời và đúng thời điểm tuân theo quy định
của pháp luật.
Về mặt lý luận trong quá trình xây dựng văn bản luật nói chung và Bộ luật
tố tụng hình sự nói riêng thì không tránh khỏi những bất cập. Tình hình phạm tội
hiện nay hết sức rất phức tạp và đa dạng, để có đầy đủ cơ sở để khởi tố vụ án thì
đây là vấn đề mà xã hội đang quan tâm, liệu rằng đã hiệu quả khi ở khâu thực thi
không đảm bảo.
So với Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, Bộ luật tố tụng hình sự năm
2003 đã có những thay đối đáng kể nhưng vẫn có những hạn chế nhất định.
Những quy định của BLTTHS và một số văn bản hướng dẫn thi hành thực hiện
trách nhiệm khởi tố vụ án vẫn chưa cụ thể, chưa phù hợp với điều kiện khách
quan như việc chưa bảo đảm được vai trò kiểm sát của Viện Kiểm sát, chưa có
đủ cơ sở pháp lý để giải quyết các vấn đề của người bị hại, cơ chế đối với việc
thẩm quyền của CQTHTT tại Điều 103, Điều 112 của BLTTHS 2003 phân định
đầy đủ và chính xác hơn. Thực hiện đúng chủ trương của Đảng, Nhà nước như
trong Nghị quyết 49-NQ/TW đề cập: “đấu tranh có hiệu quả các loại tội phạm
và vi phạm”, do đó càng nêu cao tinh thần đánh chặn các hành vi có nguy cơ
làm ảnh hưởng đến xã hội, cũng như bảo vệ tốt nền pháp luật và pháp chế xã hội
chủ nghĩa của Việt Nam trong việc khởi tố vụ án hình sự.
Hơn thế nữa nếu việc khởi tố không được tiến hành thì không thể khẩn trương
phát hiện tội phạm và tiến hành các hoạt động điều tra cũng như nhanh chóng bắt tội
phạm được thì sẽ ảnh hưởng đến các hoạt động khác của hoạt động tố tụng.
Nhận thức được vấn đề bất cập là gì, để tìm hiểu rõ hơn những sai sót,
thiếu sót và hạn chế ở mặt nào từ đó đưa ra những biện pháp, phương pháp để
giải quyết vấn đề trên, cũng như hoàn thiện pháp luật về quy định khởi tố vụ án
hình sự trong Bộ luật tố tụng năm 2003. Đó là lí do giải thích cho việc tác giả đi
đến quyết định chọn đề tài: “Khởi tố vụ án hình sự và thực tiễn áp dụng pháp
luật tại Viện kiểm sát huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình từ năm 2011 đến năm
2013” để làm đề tài niên luận của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
a)Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu để làm sáng tỏ các vấn đề về mặt lý luận của quy phạm pháp
luật tố tụng hình sự và thực tiễn áp dụng khởi tố vụ án hình sự theo Bộ luật tố
tụng hình sự năm 2003 nhằm đưa ra những giải pháp để hoàn thiện chúng.
GVHD: TS.Nguyễn Trọng Phúc
2
SVTH: Đinh Thị Tuyên
Khởi tố vụ án hình sự và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Viện kiểm sát
huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình từ năm 2011 đến năm 2013
mục tài liệu tham khảo.
Phần đầu tiên lời nói đầu trình bày về tính cấp thiết, các vần đề về mục
đích, nhiệm vụ, đối tượng áp dụng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu.
Phần thứ hai là phần nội dung với kết cấu ba chương:
GVHD: TS.Nguyễn Trọng Phúc
3
SVTH: Đinh Thị Tuyên
Khởi tố vụ án hình sự và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Viện kiểm sát
huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình từ năm 2011 đến năm 2013
Chương 1: Những vấn đề chung về khởi tố vụ án hình sự
1.1. Khái niệm khởi tố vụ án hình sự
1.2. Nguyên tắc khởi tố vụ án hình sự
1.3. Lịch sử phát triển của khởi tố vụ án hình sự trong tố tụng hình sự
Việt Nam
Chương 2: Thực trạng pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về khởi tố
vụ án hình sự và thực tiễn khởi tố vụ án hình sự tại Viện kiểm sát huyện Lệ
Thủy từ năm 2011-2013
2.1. Khởi tố vụ án hình sự theo pháp luật hiện hành
2.2. Thực tiễn áp dụng khởi tố vụ án hình sự tại Viện kiểm sát huyện Lệ
Thủy từ năm 2011-2013
Chương 3: Sự cần thiết hoàn thiện pháp luật về khởi tố và hệ thống
giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật
3.1. Sự cần thiết hoàn thiện pháp luật
3.2. Hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật
Phần kết luận: Trình bày khái quát các vấn đề đã nghiên cứu trong đề tài.
khởi tố vụ án”[5, 231].
Trong cách đưa ra khái niệm trên là chưa đầy đủ, nhìn từ khía cạnh pháp
lí thì chưa có cơ sở nào cho sự chắc chắn của cách nhìn nhận trên, mới chỉ ra
một phần là đây là giai đoạn đầu tiên cho công tác đưa ra quyết khởi tố của cơ
quan có chức năng chứ chưa đi vào phần mà Bộ luật tố tụng hướng tới, là xuất
phát từng chủ thể có thể phát hiện và giúp cơ quan điều tra trong việc đưa ra
quyết định theo hướng có đầy đủ căn cứ hơn. Mặt khác, khái niệm trên chưa bao
quát được “khởi tố vụ án hình sự” về mặt chủ thể, sự kiện pháp lí, cũng như
khách thể trong suốt quá trình để đưa ra quyết định về hành vi cần khởi tố.
Cho thấy, cần đưa ra khái niệm một cách có căn cứ và đảm bảo cho các
chủ thể khi tham gia vào công việc khởi tố không chỉ riêng cơ quan có thẩm
quyền mà còn có những chủ thể khá như: công dân Việt Nam, cơ quan tổ chức,
địa phương...
Thứ hai, trong cuốn từ điển giải thích thuật ngữ luật học, xác định “...chỉ
được khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định có dấu hiệu của tội phạm” [11, 158]
GVHD: TS.Nguyễn Trọng Phúc
5
SVTH: Đinh Thị Tuyên
Khởi tố vụ án hình sự và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Viện kiểm sát
huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình từ năm 2011 đến năm 2013
Với cách hiểu như trên thì chỉ thấy có dấu hiệu của tội phạm thì sẽ khởi tố
mà không chỉ ra ai sẽ khởi tố, dẫu xác định đó là tội phạm thì ai sẽ khởi tố, ai
cũng có thể phát hiện để cơ quan chức năng có thẩm quyền khởi tố. Đây mới
xác định dấu hiệu phạm tội chứ chưa chỉ ra người có chức năng “khởi tố” và ai
GVHD: TS.Nguyễn Trọng Phúc
6
SVTH: Đinh Thị Tuyên
Khởi tố vụ án hình sự và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Viện kiểm sát
huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình từ năm 2011 đến năm 2013
Một là, “khởi” là một động từ có nghĩa là “bắt đầu, mở đầu”; “khởi tố là
mở đầu...vụ án hình sự” [13, 301]. Cho ta biết khởi tố là giai đoạn đầu tiên của
hoạt động tố tụng.
Khởi tố được xem như là “cửa ngõ” cho mọi hoạt động tố tụng và cửa ngõ
này được đảm bảo và chặt chẽ hay không thì sẽ có ảnh hưởng đến tất cả các hoạt
động sau. Nếu cửa ngõ không được thực hiện, giám sát, thi hành tốt thì sẽ gây ra
hậu quả khó lường khi bỏ lọt tội phạm, không ngặn chặn và để cho tội phạm hoành
hành gây hậu quả cho xã hội...như thế cần chắc chắn rằng, muốn làm công việc
“xét người” thì việc đầu tiên là không cho anh ta “che giấu” một điều gì kể cả là
một chi tiết nhỏ, càng kỹ lưỡng thì càng giúp cho xã hội bớt đi một “tội đồ”.
Hai là, xác định một cách đầy đủ và như thế nào về dấu hiệu của tội phạm
thì cần căn cứ vào những gì mà Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nạm đã quy định.
Cần nắm bắt thông tin từ nhiều hướng, nhưng không phải chỉ nắm bắt mà đồng
thời vừa điều tra, xác minh làm rõ từng ngọn nguồn vừa nhanh chóng khoanh
vùng và tóm gọn được kẻ có hành vi phạm tội. Đây được coi là cái nguồn, cái
căn cứ cho những gì ta đang làm và phải làm và được nó điều chỉnh.
Ba là, những cơ quan có chức năng (CQTHTT) trong vấn đề này cần phải
hiểu rõ được tình hình để đưa ra quyết định khởi tố một cách có hiệu quả và
nhanh chóng, hợp lí, hợp tình, đúng vụ việc, hoàn cảnh, sự kiện.
Từ những ý kiến, quan điểm, phân tích, chúng ta có thể đưa ra khái niệm
phải ra quyết định khởi tố vụ án hình sự. Không chỉ có CQĐT, Viện kiểm sát mà
Thủ trưởng đơn vị bộ đội biên phòng, Cơ quan hải quan, Kiểm lâm, Lực lượng
cảnh sát biển và Thủ trưởng các cơ quan khác của công an nhân dân, quân đội
nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ra quyết định
khởi tố vụ án hình sự khi phát hiện những hành vi vi phạm pháp luật đến mức
phải truy cứu trách nhiệm hình sự trong lĩnh vực quản lí của mình. Các cơ quan
khác trong lực lượng cảnh sát nhân dân, lực lượng an ninh nhân dân, quân đội
nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong khi làm
nhiệm vụ, nếu phát hiện sự việc có dấu hiệu phạm tội thì có quyền quyết định
khởi tố vụ án hình sự. Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án hình sự khi
Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án của các cơ
quan có thẩm quyền và trong trường hợp Hội đồng xét xử yêu cầu Viện kiểm sát
khởi tố. Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử
tại phiên toà mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới cần phải điều
tra. Mặt khác, tội phạm thì trước hết là một hành vi, vì chỉ có hành vi mới có thể
gây ra thiệt hại, hoặc gây ra các thiệt hại cho các quan hệ xã hội mà được pháp
luật hình sự bảo vệ. Để một hành vi bị coi là tội phạm và khác với hành vi
không phải là tội phạm thì phải có các dấu hiệu: Tính nguy hiểm cho xã hội, tính
có lỗi, tính trái pháp luật hình sự, và tính phải chịu hình phạt.
Đối với khởi tố bị can, để nhận dạng việc khởi tố này thì ta căn cứ vào “
khi có đủ căn cứ để xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội...” [10,
103], đó là việc đã có một đối tượng cụ thể thực hiện hành vi gây nguy hiểm cho
xã hội hay làm ảnh hưởng đến xã hội, lúc này các cơ quan có thẩm quyền khi
thấy đầy đủ về các mặt cấu thành tội phạm và những gì người đó đã làm để thực
hiện hành vi phạm tội của mình, ở đây việc xác định đã chỉ rõ là người đó “đã
thực hiện hành vi phạm tội” thì Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can;
còn nếu người đó “chưa thực hiện hành vi phạm tội” thì không cơ quan nào có
thể ra quyết định khởi tố với đối tượng đó được. Hay hiểu cách khác hơn đó là
GVHD: TS.Nguyễn Trọng Phúc
của CQTHTT. “Khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì Cơ quan điều tra, Viện
kiểm sát, Tòa án, trong phạm vi quyền hạn của mình có trách nhiệm khởi tố vụ
án và áp dụng các biện pháp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định để xác định tội
phạm và xử lý tội phạm” [10, 13]. Nguyên tắc được nhấn mạnh rằng mọi hành
vi phạm tội đều bị phát hiện, bị xử lý và khởi tố với nhiệm vụ không để lọt tội
phạm và tiến tới việc đảm bảo thực hiện công bằng xã hội. Bảo vệ cho cuộc
sống bình yên của mọi nhà. Đây là nguyên tắc không thể thiếu trong quá trình
thực hiện khởi tố.
Đây như là nguyên tắc “đầu tàu” cho mọi hoạt động của cả quá trình giải
quyết vụ án, đặc biệt ở giai đoạn khởi tố vụ án. Mặt khác, đây như là nguyên tắc
quan trọng trong các nguyên tắc cơ bản của tố tụng Việt Nam, bởi đây là việc
đặt ra trách nhiệm bảo đảm “có tính hiệu quả, chủ động” của CQTHTT trong
GVHD: TS.Nguyễn Trọng Phúc
9
SVTH: Đinh Thị Tuyên
Khởi tố vụ án hình sự và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Viện kiểm sát
huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình từ năm 2011 đến năm 2013
nguyên tắc này, xuyên suốt với CQTHTT là thực hiện phần lớn hầu hết các
nhiệm vụ mà trong Bộ luật tố tụng quy định.
Hơn thế nữa, việc thực hiện này đúng với tinh thần của Nghị quyết số 08NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số trọng tâm của công tác tư
pháp thời gian sắp tới chỉ rằng “thực hiện tốt công tác tiếp nhận, xử lý tố giác,
tin báo về tội phạm, tăng cường phối hợp giữa công tác điều tra chuyên trách với
cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra để phục
vụ tốt công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm" và "hoạt động công tố phải
được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm
nhân dân.
1.2.3. Bảo đảm quyền tự do, tôn trọng và bảo vệ quyền con người trong
hoạt động khởi tố
“Quyền con người trong TTHS là những giá trị thiêng liêng chỉ dành cho
con người khi họ tham gia quan hệ pháp luật TTHS mà nhà nước có nghĩa vụ
phải ghi nhận trong Hiến pháp, pháp luật và bảo đảm thực hiện và bảo vệ khi bị
xâm hại.” [4]
Con người dù ở vị thế nào, dù ở hoàn cảnh nào cũng được pháp luật bảo
vệ và được tôn trọng. Do đó, trong quá trình hình thành nên BLTTHS 2003 thì
GVHD: TS.Nguyễn Trọng Phúc
11
SVTH: Đinh Thị Tuyên
Khởi tố vụ án hình sự và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Viện kiểm sát
huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình từ năm 2011 đến năm 2013
cơ quan soạn thảo cũng đã để ý và đưa vào từng nguyên tắc để “tính con người”
được hiện hữu trong pháp luật và được ghi nhận một cách có hệ thống những
quyền mà con người được phép hưởng và được bảo hộ. Cụ thể đối với các quyền
liên quan trong khởi tố thì BLTTHS 2003 có quy định: “các cơ quan THTT phải
áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách
quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ
xác định vô tội,...” [10, 12]
Một mặt nó quy định đối với CQTHTT phải gồng mình để tìm sự thật cho
vụ án, để xem xét đối tượng nào liên quan đến vụ án, cũng như các chứng cứ,
tình tiết để xem người nào đó có thực sự là tội phạm hay là không; mặt khác để
bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của pháp luật TTHS quy định thì họ có
Khởi tố vụ án hình sự và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Viện kiểm sát
huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình từ năm 2011 đến năm 2013
pháp ngăn chặn, biện pháp điều tra thu thập chứng cứ khi có những căn cứ và
trong giới hạn quy định của Bộ luật TTHS.
Thường xuyên kiểm tra, kiểm sát tính hợp pháp, hợp lý của việc áp dụng
các biện pháp ngăn chặn, biện pháp điều tra thu thập chứng cứ, nếu phát hiện
thấy có vi phạm pháp luật phải huỷ bỏ ngay các quyết định đó.
Khi những căn cứ áp dụng các biện pháp ngăn chặn, biện pháp điều tra
thu thập chứng cứ không có hoặc không cần thiết thì các cơ quan và người có
thẩm quyền phải kịp thời huỷ bỏ hoặc thay thế quyết định áp dụng các biện pháp
đó. Tôn trọng, tự do và bảo vệ quyền cơ bản của công dân là nguyên tắc có tính
chất bao trùm, trải dài trong mọi hoạt động tố tụng của CQTHTT, NTHTT nhằm
đảm bảo không một công dân nào bị xâm hại tới các quyền và lợi ích hợp pháp.
Chưa có gì chứng minh là họ phạm tội thì họ vẫn là công dân không được xem
là tội phạm.
Những công đoạn mà CQTHTT thực hiện thì không thể không để tâm đến
quyền mà công dân được phép hưởng, và phải “bật ở chế độ tối đa” dù trong
hoàn cảnh hay tình huống nào, vì pháp luật không cho phép bất kì ai xâm phạm
đến những quyền ấy. Mọi trường hợp làm trái đều là vi phạm pháp luật và không
tôn trọng pháp luật. Cho nên dù họ là ai cũng được tôn trọng và quyền tự do của
họ, nhưng họ phải thực hiện đúng những gì pháp luật quy định. Không cho phép
một ai đi ngược lại với Hiến pháp và pháp luật. Vì thế, chúng ta đối xử thế nào
với pháp luật thì pháp luật sẽ đối xử với ta như thế ấy. Cho nên có đủ căn cứ
mới khởi tố vụ án, khi không có căn cứ gì thì không ai có thể ra quyết định khởi
tố đối với họ. Do vậy, pháp luật của dân và dân là người thực hiện nó như thế
nào để pháp luật mới thực sự là của dân và xuất phát từ dân. Bởi dân chính là
“chủ nhân” bảo vệ và thực hiện các quyền của mình để được pháp luật tôn trọng,
được tự do và được bảo vệ chính nền pháp luật đó.
1.3. Lịch sử phát triển của khởi tố vụ án hình sự trong tố tụng hình sự Việt Nam
góp “nổi trội” của Viện kiểm sát với vai trò như một “móc xích” để móc nối sự
liền mạch của các giai đoạn tố tụng (khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử) bảo đảm
cho một quy trình tố tụng hoạt động “trơn tru” thống nhất. Còn việc kiểm sát
hoạt động tố tụng để bảo đảm quyền công dân, đặc biệt trong giai đoạn điều tra
là hạn chế bởi Viện kiểm sát không phải cơ quan “trực tiếp” đứng ra bảo vệ
quyền lợi cho công dân, mà chỉ thực hiện gián tiếp thông qua kiểm sát các hoạt
động tố tụng hình sự.
Những năm trở lại đây pháp luật đã không còn phù hợp vì nhiều nguyên
nhân khác nhau như: tính thiếu hiệu quả và lạc hậu, nhu cầu dân chủ và bảo đảm
quyền lợi chính đáng của công dân, sự phức tạp của các quan hệ xã hội ngày
càng tăng đòi hỏi một trình độ và nhận thức mới về tư pháp hình sự, yêu cầu hòa
nhập với tư pháp hình sự thế giới...đặt ra yêu cầu cấp thiết phải cải cách hệ
thống tố tụng hình sự.
Ngày 02-01-2002, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 08-NQ/TW về một
số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp và ngày 02-06-2005 ban hành Nghị
quyết 49-NQ/TW về chiến lược cải cách tư pháp đã thể hiện được một tư tưởng
hoàn toàn “mới mẻ” đối với Việt Nam. Một trong những nội dung ưu tiên của
cải cách tư pháp ở Việt Nam là “Coi trọng việc hoàn thiện chính sách hình sự và
thủ tục tố tụng tư pháp” với các mục tiêu bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công
khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người. Nhưng trên thực tế, do cả
khách quan, chủ quan và yếu tố thời gian, việc triển khai còn nhiều hạn chế.
GVHD: TS.Nguyễn Trọng Phúc
14
SVTH: Đinh Thị Tuyên
Khởi tố vụ án hình sự và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Viện kiểm sát
huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình từ năm 2011 đến năm 2013
- Tội phạm đã được đại xá;
- Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp
cần tái thẩm đối với người khác.
Tiếp theo đó, những vấn đề khởi tố được quy định trong nhiều văn bản
quy phạm pháp luật, hiện diện trong Chỉ thị về việc tổ chức triển khai thi hành
BLTTHS năm 2003; Nghị quyết của HĐTP TANDTC số 03/2004/NQ-HĐTP
GVHD: TS.Nguyễn Trọng Phúc
15
SVTH: Đinh Thị Tuyên
Khởi tố vụ án hình sự và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Viện kiểm sát
huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình từ năm 2011 đến năm 2013
ngày 02/10/2004 hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “những
quy định chung” của BLTTHS năm 2003; Pháp lệnh sủa đổi bổ sung một số điều
của pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự của pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự của
UBTVQH số 09/2009/LPL-UBTVQH ngày 27 tháng 02 năm 2009; Thông tư liên
tịch của VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP số 01/2005/TTLT-VKSTC-TATCBCA-BQP ngày 01/07/2005 hướng dẫn thi hành một số quy định của pháp luật
trong công tác thống kê hình sự, thống kê tội phạm; Thông tư liên tịch quan hệ
phối hợp trong một số hoạt động điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự giữa các
CQTHTT trong Quân đội và ngoài Quân đội, có nội dung là: Phối hợp trong
việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; Thông tư liên
tịch số 03/2006/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC hướng dẫn về việc thông
báo, gửi, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến người phạm tội; Thông tư
liên tịch về quan hệ phối hợp giữa cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc
thực hiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 số
05/2005/TTLT-VKSTC-BCA-BQP Có nội dung: Về việc khởi tố và kiểm sát
vụ án, do đó những nguyên tắc đi kèm luôn mang tính nhất quán, tạo tiền đề cho
công tác khởi tố một cách đúng đắn và hiệu quả, mang lại tính bền vững xuyên
suốt cho quá trình điều tra và các hoạt động tố tụng khác.
GVHD: TS.Nguyễn Trọng Phúc
17
SVTH: Đinh Thị Tuyên
Khởi tố vụ án hình sự và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Viện kiểm sát
huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình từ năm 2011 đến năm 2013
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ KHỞI
TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ THỰC TIỄN KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ
TẠI VIỆN KIỂM SÁT HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH
TỪ NĂM 2011 ĐẾN NĂM 2013
2.1. Khởi tố vụ án hình sự theo pháp luật hiện hành
2.1.1. Căn cứ khởi tố vụ án hình sự theo quy định tại điều 100 Bộ luật tố
tụng hình sự năm 2003, căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự tại điều
107 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
a) Căn cứ khởi tố vụ án hình sự theo quy định tại điều 100 Bộ luật tố
tụng hình sự năm 2003
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã có những thay đổi so với Bộ luật tố
tụng năm 1988 song trong quy định này có những “căn cứ” mà chỉ khi có những
dấu hiệu tội phạm này mới có thể làm cơ sở để khởi tố vụ án hình sự.
Một là: tố giác của công dân. Khi công dân phát hiện các hành vi mà mình
xem là tội phạm thì phải có nghĩa vụ và quyền phải báo ngay cho cơ quan gần
chức thường liên quan đến nhiều người và có sự liên kết, nếu có đủ chứng cứ thì
sẽ dễ dàng xác minh và dẫn đến giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời hơn. Nếu
không có đủ nguồn tin thì công tác để khởi tố là điều khá khó khăn. Mặt khác,
làm việc với cơ quan, tổ chức thường có thời gian kéo dài hơn, tính chất phức
tạp hơn. Ở phần tin báo này cơ quan tổ chức đó còn có nghĩa vụ tiếp nhận tố
giác của công dân và thông qua cơ quan, tổ chức này để trình lên CQĐT. Một
nơi vừa cung cấp vừa tiếp nhận tin báo tội phạm.
Ba là: tin báo trên các phương tiên thông tin đại chúng: các thông tin trên
các phương tiện thông tin đại chúng hiện nay thường là những video, những
hình ảnh mà công dân ghi lại hay cơ quan phương tiện thông tin (như các kênh:
vtv, vov…) ghi nhận lại trong quá trình thực tế, công tác của cánh phóng viên;
dù có vô tình hay cố ý thì những hình ảnh hay đoạn video có dấu hiệu tội phạm
cũng nằm trong tầm mắt của các CQĐT. Mặt khác, cơ quan thông tin báo chí,
nếu có ý kiến để trả lời bạn đọc thì đề nghị cơ quan có thẩm quyền phải có văn
bản trả lời cơ quan thông tin, báo chí đã đưa tin.
Bốn là: CQĐT, Viện kiểm sát, Tòa án, Bộ đội biên phòng, Hải quân,
Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân,
Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trực
tiếp phát hiện dấu vết của tội phạm.
BLTTHS năm 2003 có điểm mới là có thêm lực lượng Cảnh sát biển tham
gia vào hoạt động điều tra, cho thấy mọi lĩnh vực mọi cơ quan đều có mặt của
CQĐT dù là những nơi khó khăn như biển khơi. Hơn thế nữa, ngay chính trong
các bộ phận CAND, QĐND cũng có thể phát giác tội phạm. Với chức năng
nhiệm vụ là quản lý nhà nước, nhưng luôn là những bộ phận bảo vệ quê hương
nên lấn sâu vào công tác truy lùng tội phạm phần nhiều; đòi hỏi phải cung cấp
thông tin một cách chính xác và theo đúng trình tự, thủ tục tố tụng mà luật định
để làm cơ sở tìm ra dấu hiệu phạm tội để khởi tố vụ án hình sự.
Năm là: người phạm tội tự thú. Tự thú ở đây, mang tính chất của một cá
thể. Tự mình ra nhận tội khi bị phát hiện; ví như có hành động cướp giật hay
trộm cắp…bị phát hiện ra danh tính nhưng đã bỏ chạy hay trốn thoát để không
Tóm lại, Tại Điều 100 BLTTHS nêu ra năm cơ sở để từ đó xác định dấu
hiệu tội phạm làm căn cứ khởi tố VAHS. Năm nguồn thông tin đó chỉ mới là
những cơ sở ban đầu để cơ quan tiến hành tố tụng nghiên cứu nhằm xác định có
đủ hay không căn cứ để khởi tố VAHS. Điều đó có nghĩa là những nguồn tin đó
chưa phải là căn cứ khởi tố mà chúng mới chỉ là nguồn, là cơ sở chứa đựng
những thông tin cho phép đi đến kết luận có căn cứ để khởi tố hay không có căn
cứ để khởi tố VAHS. Hay nói cách khác, có thể có những dấu hiệu nêu tại Điều
100 BLTTHS nhưng vẫn không khởi tố VAHS khi cơ quan tiến hành tố tụng
không có căn cứ để khởi tố hoặc có những căn cứ không được khởi tố quy định
tại Điều 107 BLTTHS.
b) Căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự tại điều 107 Bộ luật tố
tụng hình sự năm 2003
Cơ sở nào để CQĐT hay Viện kiểm sát ra quyết định không khởi tố vụ án
hình sự:
- Một là: Không có sự việc phạm tội;
GVHD: TS.Nguyễn Trọng Phúc
20
SVTH: Đinh Thị Tuyên
Khởi tố vụ án hình sự và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Viện kiểm sát
huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình từ năm 2011 đến năm 2013
- Hai là: Hành vi không cấu thành tội phạm;
- Ba là: Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi
chịu trách nhiệm hình sự;
- Bốn là: Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết
định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;
GVHD: TS.Nguyễn Trọng Phúc
21
SVTH: Đinh Thị Tuyên
Khởi tố vụ án hình sự và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Viện kiểm sát
huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình từ năm 2011 đến năm 2013
tội phạm, nó là các mặt được cấu thành trong dấu hiệu của cấu thành tội phạm
thể hiện ở căn cứ hai.
Thứ ba, trong căn cứ ba có xuất hiện thuật ngữ “chưa”; đây là thuật ngữ
không trong ở chỗ “chưa” thì đến lúc nào đó nó sẽ đạt được số tuổi mà nó vi
phạm, với thuật ngữ này tạo ra tính không hoàn thiện trong ngôn từ pháp luật.
Và điểm này cần sửa đổi, vì ở đây nên “chưa” hay là “không” thì sẽ hợp lý hơn.
“Chưa” là tạo ra khe hở lớn cho việc xác định độ tuổi và khi đọc vào người khác
sẽ có nhiều cách hiểu và làm phát sinh nhiều vấn đề trong luật về lập luận tới
“chủ thể” của tội phạm. Còn “không” mang tính dứt khoát và nhấn mạnh, rõ
ràng hơn, hướng đi cụ thể và nhanh chóng xác định được mức độ tuổi đạt để
chịu TNHS.
Việc sử dụng thuật ngữ cần chính xác để nâng cao sự uy nghiêm của pháp
luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Qua thực tiễn cho ta thấy có những vụ án liên quan đến những căn cứ này.
Ví dụ để thấy rõ hành vi không cấu thành tội phạm, với vụ án đang gây
tranh cãi như hiện nay để thấy khách thể của căn cứ một có liên kết như thế nào
với căn cứ hai, vụ thẩm mỹ viện Cát Tường: Tội xâm phạm thi thể, mồ mả, hài
cốt đã được Bộ luật hình sự năm 1999 ghi nhận tại Điều 246, cụ thể:
“Người nào…có hành vi khác xâm phạm thi thể, mồ mả, hài cốt thì bị
phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.”
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã quy định rõ ràng, hoàn thiện hơn về
quy định thẩm quyền trong khởi tố vụ án hình sự, trong đó nêu rõ thẩm quyền
của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án.
Rà soát hệ thống về quy định thẩm quyền trong BLTTHS năm 2003 thì
thẩm quyền khởi tố VAHS chủ yếu quy định cho cơ quan điều tra, còn hai thẩm
quyền còn lại là Tòa án, Viện kiểm sát hạn chế rất nhiều. Tuy nhiên, trên thực
thế thì Viện kiểm sát là nơi tiếp nhận tin và khởi tố là phần lớn; với chức năng là
thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát và chức năng xét xử của Tòa án thì
trong thẩm quyền này còn có những bất cập, hạn chế.
Một là, trong giới hạn về thẩm quyền ra quyết định khởi tố của Viện kiểm
sát :
Tại khoản 1 và khoản 2 Điều 112 BLTTHS năm 2003 có quy định đến
quyền khởi tố VAHS có mâu thuẫn với quy định tại Điều 104 về quyền khởi tố
VAHS của Viện kiểm sát.
Hai quy định mâu thuẫn nhau gây trong một Bộ luật đã làm cho Bộ luật
thiếu sự thống nhất giữa các quy định trong việc phân định thẩm quyền trong cơ
quan VKSND.
Mâu thuẫn ở đây là gì, tại khoản 1 Điều 112 có quy định về quá trình
chung về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong khi thực hành quyền
công tố của mình trong giai đoạn điều tra: khởi tố vụ án hình sự; khởi tố bị can;
yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự,
khởi tố bị can theo quy định của Bộ luật này. Với quy định như thế, có nghĩa
rằng Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra; nếu xét
thấy có hành vi vi phạm, có dấu hiệu về hành vi của tội phạm ở bất cứ khi nào,
bất kỳ là ai thì Viện kiểm sát có trách nhiệm và quyền hạn để ra quyết định khởi
tố VAHS.
Thế nhưng, tại Điều 104 BLTTHS năm 2003 thì Viện kiểm sát chỉ được
khởi tố VAHS trong hai trường hợp đó là:
GVHD: TS.Nguyễn Trọng Phúc
phải làm công tác xét xử tốt và hiệu quả, nên làm một công việc chắc chắn hơn
là cùng làm một lúc nhiều việc, HĐXX ít quan tâm hơn đến việc ra quyết định
KTVAHS là điều dễ hiểu. Mặt khác, việc ra quyết định khởi tố cũng rất khó nếu
chỉ thông qua lời khai của NTGTT hoặc tài liệu đã có trong hồ sơ thì việc kiểm
tra, xác minh lại các thông tin đó bằng các hoạt động ngoài phiên tòa thì việc
đưa ra quyết định khó khăn hơn. Với chức năng chính của Tòa án là xét xử nên
sang một khía cạnh khác là ra quyết định KTVAHS ngay tại phiên tòa sẽ gây
khó khăn cho chính HĐXX khi chuyên môn nghiệp vụ không đúng chức năng
của mình.
Thứ hai, quyết định khởi tố VAHS không liên quan gì đến cái nội dung
mà HĐXX đang xét xử, nên xét về quyền hạn thì nếu HĐXX ra quyết định
KTVAHS ngay tại phiên tòa cũng đồng thời là đã vi phạm giới hạn xét xử và
GVHD: TS.Nguyễn Trọng Phúc
24
SVTH: Đinh Thị Tuyên
Khởi tố vụ án hình sự và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Viện kiểm sát
huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình từ năm 2011 đến năm 2013
vượt ra ngoài phạm vi quyết định đưa vụ án ra xét xử của thẩm phán chủ tọa
phiên tòa. Dù là ra đi nữa thì nó vẫn xem là bản án nhưng vi phạm công tác xét
xử của Tòa án.
Thứ ba, liên quan đến uy tín, danh dự của Tòa án, đây là vấn đề nhạy cảm.
nếu HĐXX có đưa ra quyết định khởi tố, trong trường hợp bị Viện kiểm sát kháng
nghị lên tòa án cấp cao, mà quyết định KTVAHS đó bị hủy bỏ thì sự uy tín của
HĐXX đã ra quyết định đó bị ảnh hưởng, nếu được chấp nhận thì việc xem xét đó
có ảnh hưởng lớn đối với Viện kiểm sát trong quá trình đi tìm và giải quyết vụ án.
SVTH: Đinh Thị Tuyên