BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
CHU DIỆU HUYỀN
PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN ĐƯỢC CUNG CẤP
THÔNG TIN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY, THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGUYỄN THỊ VÂN ANH
HÀ NỘI – 2015
LỜI CẢM ƠN
Được sự phân công của tổ bộ môn Khoa pháp luật Kinh tế, Trường Đại
học Luật Hà Nội và sự đồng ý của cô giáo hướng dẫnPGS.TS. Nguyễn Thị Vân
Anh, giảng viên Trường Đại học Luật Hà Nội, em đã thực hiện nghiên cứu đề tài
“Pháp luật về quyền được cung cấp thông tin của NTD ở Việt Nam_Thực trạng
và giải pháp”
Để thực hiện đề tài này, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đã tận
tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và rèn luyện
trong suốt thời gian hai năm vừa qua.Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo
hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Thị Vân Anh - Giảng viên Trường Đại học Luật
Hà Nội đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình nghiên
cứu và hoàn thành luận văn.Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo
trong tổ bộ môn Luật Kinh tế nói riêng và các thầy cô giáo của trường Đại học
Luật Hà nội cũng như các anh chị trong thư viện đã giúp đỡ em trong quá trình
NTD
Người tiêu dùng
Cục QLCT
Cục Quản lý cạnh tranh
VINASTAS
Hội tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam
Hội
Hội bảo vệ Ngườitiêudùng
Thươngnhân
Tổchức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịchvụ
LHQ
Liên Hợp Quốc
CI
Tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thế giới
VSTP
Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
2.
Tình hình nghiên cứu đề tài
3.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
5.
Phương pháp nghiên cứu
Chương 1. TỔNG QUAN
PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN ĐƯỢC CUNG
CẤPTHÔNG TIN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG .............................................. 1
1.1. Khái quát về thông tin và quyền được cung cấp thông tin của
NTD……………………………………………………………………………..1
1.1.1. Khái niệm về người tiêu dùng và các quyền của người tiêu dùng ............ 1
1.1.2. Khái niệm thông tin và vai trò của thông tin trong quan hệ tiêu dùng
trong nền kinh tế thị trường ................................................................................ 4
1.2. Khái quát pháp luật về quyền được cung cấp thông tin của NTD ......... 8
1.2.1. Sự cần thiết phải quy định quyền được cung cấp thông tin của người tiêu
cấp thông tin của NTD ..................................... 63Error! Bookmark not defined.
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật quyền được cung cấp
thông tin của NTD…………………………………………………………. 69
KẾT LUẬN ................................................................................................... 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................... 77
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong xã hội ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị
trường, người tiêu dùng (NTD) đã và đang trở thành một lực lượng vô cùng
đông đảo và là động lực phát triển của nền kinh tế của một quốc gia.Mối quan
hệ giữa NTD và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ là một loại quan
hệ dân sự phổ biến và có ảnh hưởng vô cùng to lớn tới sự phát triển của nền
kinh tế. Các hoạt động khi tham gia mua bán, trao đổi, sử dụng hàng hóa dịch vụ
của NTD trên thị trường sẽ kích thích sự lưu thông, tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ,
thúc đẩy các hoạt động kinh doanh của thương nhân và tạo ra nguồn thu lớn cho
ngân sách nhà nước. Đồng thời NTD cũng là lực lượng quyết định xem doanh
nghiệp hay loại hàng hóa, dịch vụ kinh doanh nào đó có thể tồn tại được trên thị
trường hay không, từ đó chọn lọc những hàng hóa, dịch vụ đáp ứng tốt và phù
hợp với thu nhập của người dân, loại bỏ những hàng hóa, dịch vụ, sản phẩm
không phù hợp và những tổ chức cá nhân kinh doanh sai trái. Do đó một quốc
gia muốn có nền kinh tế phát triển một cách bền vững không những phải đảm
bảo lợi ích cho các doanh nghiệp, các thương nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ
mà còn phải đảm bảo cân bằng lợi ích cho NTD.
Để đảm bảo hành lang pháp lý và tạo ra một môi trường kinh doanh lành
mạnh, pháp luật về vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD đang được nhà nước ta hết sức
quan tâm.Luật Bảo vệ quyền lợi NTD số 59/2010/QH12 đã được Quốc hội khóa
XII, kỳ họp thứ 8, thông qua ngày 17 tháng 11 năm 2010 và chính thức có hiệu
lực vào ngày 1 tháng 7 năm 2011.
một cách hệ thống và đầy đủ về vấn đề này. Tuy nhiên, hiện nay có một số công
trình nghiên cứu có liên quan đến các quyền của NTD viết về các vấn đề như:
- Thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD của hệ thống các cơ quan nhà
nước tại Việt Nam, luận văn thạc sĩ luật học của học viên Nguyễn Hoàng Mỹ
Linh, do TS. Phan Chí Hiếu hướng dẫn năm 2014;
- Trách nhiệm của thương nhân trong việc bảo vệ quyền lợi NTD ở Việt
Nam hiện nay, luận văn thạc sĩ luật học của học viên Nguyễn Thị Thu Hiền, do
TS. Bùi Ngọc Cường hướng dẫn năm 2011;
- Chế tài xử lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm
pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD ở Việt Nam, luận văn thạc sĩ luật học của học
viên Đặng Đình Ngọc, do TS. Nguyễn Thị Vân Anh hướng dẫn năm 2013;
- Pháp luật quảng cáo với vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD, luận văn thạc sĩ
luật học của học viên Đào Tuyết Vân, do TS. Nguyễn Viết Tý hướng dẫn năm
2007;
- Vai trò của Hội tiêu chuẩn và bảo vệ quyền lợi NTD Vĩnh Phúc trong việc
bảo vệ NTD, luận văn thạc sĩ luật học của học viên Nguyễn Thị Tâm, do TS.
Nguyễn Thị Vân Anh hướng dẫn năm 2013.
Có thể thấy, một số nội dung của quyền được cung cấp thông tin đã được
các công trình nghiên cứu trên nhắc tới, tuy nhiên, những nội dung đó chưa
thực sự cụ thể và được nghiên cứu môt cách có hệ thống về quyền được cung
cấp thông tin của NTD. Vì vậy, có thể thấy đề tài về Quyền được cung cấp
thông tin của NTD là một đề tài có tính mới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định của pháp luật hiện hành về
quyền được cung cấp thông tin của NTD ở Việt Nam và thực trạng thực thi pháp
luật về quyền được cung cấp thông tin của NTD ở Việt Nam từ đó đưa ra những
giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi quyền được cung
cấp thông tin của NTD trên thực tế.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu làm sáng tỏ những nội dung cần nghiên cứu, trong khi
thực hiện đề tài, em đã sử dụng một số các phương pháp nghiên cứu khoa học
sau đây:
- Phương pháp luận: Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp
luận là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử;
- Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu. Trong quá trình nghiên cứu
đề tài, em áp dụng các phương cụ thể bao gồm: phương pháp tổng hợp, phương
pháp này chủ yếu được sử dụng để khái quát các quy định của pháp luật về
quyền được cung cấp thông tin của NTD; Phương pháp so sánh được áp dụng
trong quá trình tìm hiểu các quy định của các văn bản pháp luật khác nhau như
Luật BVQLNTD, Luật Quảng cáo, Luật Thương mại, Bộ luật dân sự… và so
sánh giữa các quy định của pháp luật Việt Nam với pháp luật của một số quốc
gia trên thế giới; Phương pháp thống kê được sử dụng trong quá trình lập bảng
biểu, số liệu thống kê của Cục QLCT đối với các khiếu nại của NTD; phương
pháp tra cứu mạng internet nhằm tìm kiếm các thông tin liên quan, các bài báo,
sự việc được đăng tải trên mạng internet
6. Những đóng góp mới của luận văn
Việc nghiên cứu một cách có hệ thống vấn đề quyền được cung cấp thông
tin của NTD theo pháp luật Việt Nam mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
Về phương diện lý luận, luận văn đã đánh giá một cách chi tiết và có hệ
thống các quy định của pháp luật hiện hành điều chỉnh quyền được cung cấp
thông tin của NTD.Có liên hệ so sánh giữa các quy định của Luật BVQLNTD
năm 2010 với Pháp lệnh bảo vệ QLNTD năm 1999. Bên cạnh đó, Luận văn
cũng nghiên cứu các quy định của pháp luật có liên quan như Luật Quảng cáo
2012, Luật Thương mại 2005, Luật Giá 2012, các văn bản hướng dẫn với Luật
bảo vệ QLNTD 2010, Luật Giá 2012, Nghị định 185/2013/NĐ-CP quy định về
xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán
hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi NTD…
Về phương diện thực tiễn, luận văn đã nghiên cứu thực tiễn thi hành các
là bất cứ ai mua hàng hóa, dịch vụ nhằm bất cứ mục đích gì.
Dưới giác độ pháp lý, khái niệm NTD chỉ xuất hiện với tư cách là chủ thể
pháp luật từ khi lĩnh vực pháp luật về bảo vệ NTD ra đời. Việc xác định chủ thể
nào là NTD rất quan trọng vì đó là đối tượng được bảo vệ theo pháp luật bảo vệ
NTD.1[15, tr 8]
Theo pháp luật bảo vệ NTD, NTD được hưởng sự ưu tiên hơn so với chủ
thể luật dân sự khác trong các giao dịch với thương nhân kinh doanh hàng hóa,
dịch vụ. Sở dĩ, NTD được ưu tiên hơn so với thương nhân trong quan hệ tiêu
dùng bởi họ có nhiều yếu thế hơn như thiếu thông tin về hàng hóa, dịch vụ, yếu
về khả năng đàm phán khi giao kết hợp đồng, yếu về khả năng chịu rủi ro phát
sinh trong quá trình tiêu dùng. Bởi vậy, dưới giác độ pháp lý việc xác định chủ
thể nào là NTD và là đối tượng được bảo vệ của pháp luật bảo vệ NTD có vai
trò vô cùng quan trọng.
Luật pháp của đa số các nước trên thế giới quy định, NTD chỉ là các cá
nhân và không coi tổ chức là NTD. Các giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ mà
tổ chức tham gia mặc dù đối tượng của giao dịch là hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng
1
Giáo trình Luật bảo vệ quyền lợi NTD, Trường Đại học Luật Hà Nội, Chủ biên: Nguyễn Thị Vân Anh,
Nguyễn Văn Cương…, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2012, Trang 8.
1
sẽ được bảo vệ theo pháp luật hợp đồng chứ không được bảo vệ theo pháp luật
bảo vệ NTD. 2 [15, tr.11]
Trong hệ thống pháp luật Hoa kỳ, tuy các đạo luật cụ thể không quy định
khái niệm NTD nhưng theo các chuyên gia pháp luật Hoa kỳ thì: “NTD là cá
nhân tham gia giao dịch với mục đích chủ yếu vì nhu cầu cá nhân hoặc sinh
Giáo trình Luật bảo vệ quyền lợi NTD, Trường Đại học Luật Hà Nội, Chủ biên: Nguyễn Thị Vân Anh,
Nguyễn Văn Cương…, nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2012, Trang 11.
3
Theo Everyday Law for Consumers, Paradign Publishers, 2007, page 2, Michael L.Rustad.
2
trường hợp thương nhân mua hàng hóa, dịch vụ đều là những hành vi thương
mại phụ thuộc, phục vụ cho hoạt động kinh doanh của thương nhân nên đều phải
được điều chỉnh theo pháp luật hợp đồng thương mại chứ không được bảo vệ
theo pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD4 [15, tr. 14].
1.1.1.2. Các quyền của người tiêu dùng
Trên thế giới, vấn đề bảo vệ NTD bắt đầu được quan tâm sau chiến tranh
thế giới thứ hai. Khi đó xuất hiện ý tưởng cần thiết phải bảo vệ NTD chống lại
các hành vi lừa dối, gây nhầm lẫn, lạm dụng NTD đảm bảo sự an toàn cho người
NTD khi sử dụng hàng hóa, dịch vụ. Điều này được chứng minh bằng sự ra đời
và phát triển của Tổ chức Quốc tế NTD (CI). Năm 1960, tiền thân của CI là Liên
hiệp các tổ chức Quốc tế NTD (IOCU – International Union of consumers
association) được thành lập với 5 thành viên ở 123 nước và vùng lãnh thổ. Ngay
từ những ngày đầu thành lập CI đã đưa vào trong hoạt động tuyên truyền, vận
động chính sách của mình về việc đấu tranh bảo vệ 8 quyền cơ bản của NTD.
Các quyền của NTD là phạm trù pháp lý xuất phát từ các quyền con người. Đây
là vấn đề quan trọng nhất của pháp luật bảo vệ NTD vì việc xác định các quyền
của NTD là cơ sở pháp lý cốt lõi để định hướng cho quá trình xây dựng các văn
bản pháp luật, các đạo luật chuyên ngành, các chính sách liên quan đến NTD
nhằm bảo đảm cho các quyền của NTD được thực hiện trên thực tế. Đồng thời
việc xác định các quyền của NTD có ảnh hưởng trực tiếp đến các quy định về
trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh đối với NTD cũng như trách nhiệm
kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Góp ý kiến với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng
hóa, dịch vụ về giá cả, chất lượng hàng hóa, dịch vụ, phong cách phục vụ,
phương thức giao dịch và nội dung khác liên quan đến giao dịch giữa NTD và tổ
chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ.
Năm là, tham gia xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật về bảo vệ
quyền lợi NTD.
Sáu là, yêu cầu bồi thường thiệt hại khi hàng hóa, dịch vụ không đúng
tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng, số lượng, tính năng, công dụng, giá
cả hoặc nội dung khác mà tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đã
công bố, niêm yết, quảng cáo hoặc cam kết.
Bảy là, khiếu nại, tố cáo, khởi kiện hoặc đề nghị tổ chức xã hội khởi kiện
để bảo vệ quyền lợi của mình theo quy định của Luật này và các quy định khác
của pháp luật có liên quan.
Tám là, được tư vấn, hỗ trợ, hướng dẫn kiến thức về tiêu dùng hàng hóa,
dịch vụ.
Như vậy có thể thấy, Luật bảo vệ quyền lợi NTD năm 2010 của Việt Nam
đã ghi nhận khá đầy đủ các quyền của NTD theo bản hướng dẫn bảo vệ NTD
của Liên hiệp quốc. Đây là những quy định vô cùng quan trọng, là cơ sở pháp lý
vững chắc để các thương nhân, những người cung cấp dịch vụ, hàng hóa cụ thể
được nghĩa vụ và trách nhiệm của mình khi tham gia và các hoạt động kinh tế và
trong mối quan hệ đối với NTD.
1.1.2. Khái niệm thông tin và vai trò của thông tin trong quan hệ tiêu
dùng trong nền kinh tế thị trường
1.1.2.1. Khái niệm thông tin
4
1.1.2.2. Theo triết học phương Tây, “Thông tin theo được hiểu là thông
báo những tin tức, cung cấp kiến thức về một khía cạnh, lĩnh vực nào đó, nhằm
các quyết định của nhà sản xuất, phân phối và của NTD thông qua các hành vi
chọn lựa loại hàng hóa, dịch vụ để sản xuất, cung ứng, hành vi định giá hàng
5
Theo https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%B4ng_tin
5
hóa, dịch vụ, hành vi tiếp thị, khuyến mại… Có thể nói, mọi tương tác (giao
dịch mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ trên thị trường) đều liên quan tới
thông tin và đều dựa trên nền tảng thông tin mà các chủ thể tham gia tương tác
(doanh nghiệp, NTD…) có được. Ví dụ, Tập đoàn Viễn Thông Quân Đội Viettel
thường xuyên nhắn tin tới thuê bao của các khách hàng đang sử dụng mạng
Viettel các chương trình khuyến mại tặng 50% giá trị của thẻ nạp. Chương trình
khuyến mãi của Viettel chính là hoạt động cung cấp, trao đổi, đưa thông tin từ
thương nhân kinh doanh dịch vụ viễn thông Viettel tới NTD-những người nhận
được thông báo khuyến mãi của viettel để nhằm kích thích nhu cầu tiêu dùng
mạng di động, thúc đẩy NTD sử dụng tiêu dùng sản phẩm của Viettel nhằm thu
lợi nhuận.
Thêm vào đó, bản thân các tương tác này đều là quá trình trao đổi thông
tin. Thiếu quá trình trao đổi thông tin, bên bán và bên mua không thể biết tới
nhau và không thể thực hiện được quá trình mua bán, trao đổi. Bản thân hợp
đồng giữa các bên mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cũng là một tập hợp
thông tin về các bên tham gia quan hệ, về đối tượng mua bán, giá cả và các
quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia quan hệ.
* Thông tin là nền tảng để NTD tiến tới quyết định mua bán, sử dụng
hàng hóa, dịch vụ của thương nhân
Theo lý luận về marketing hiện đại, có thể phân tích hành vi lựa chọn mua
hàng hóa, sử dụng dịch vụ của thương nhân này mà không phải của thương nhân
nhiều...
Trên một số phương tiện thông tin khác thì quảng cáo, chiếc “vòng hộ
mệnh titan” đã được các minh tinh màn bạc hollywood, quý tộc Anh, người mẫu
Pháp tin dùng bởi có nhiều tác dụng như: năng lượng từ thiên nhiên loại bỏ đau
nhức, hạ huyết áp, có chất lọc máu, có khả năng dưỡng sinh,sảng khoái đầu óc,
kháng bức xạ, giải độc rượu thuốc, điện thoại...giúp ngủ ngon, rũ bỏ mệt mỏi.
Không những thế khi đeo sản phẩm này, càng đeo càng thoải mái và ngày càng
trẻ trung...”6
Như vậy, có thể thấy thông tin ảnh hưởng vô cùng lớn tới quyết định mua
sắm hàng hóa, sử dụng dịch vụ của NTD. NTD dựa trên những thông tin mà họ
được cung cấp từ nhà sản xuất, từ thương nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, từ
các phương tiện truyền thông như đài truyền hình, mạng internet, sách báo, điện
tử. Thông tin lúc này là yếu tố quyết định NTD trở thành NTD thông thái và sự
thiếu thông tin hoặc thông tin sai lệch sẽ khiến cho quyền lợi của NTD bị xâm
hại. Thông tin trở thành yếu tố đầu vào của quá trình ra quyết định mua sắm, sử
dụng hàng hóa của NTD. Vì vậy, để đảm bảo quyền được thông tin của NTD
một cách có hiệu quả thì việc quản lý các nguồn thông tin từ những nhà cung
cấp thông tin trên là vô cùng quan trọng và cấp thiết.Theo các nhà kinh tế học,
qua nghiên cứu, thông thường một quyết định mua sắm của NTD hiện nay
thường trải qua 6 bước:
Bước 1: Nhận diện cơ hội mua sắm;
6
http://www.ngoquyen.gov.vn/site/frondend/index.asp?website_id=113&menu_id=781&parent_menu_i
d=3361&article_id=30189&fuseaction=DISPLAY_SINGLE_ARTICLE&hide_menu=0
7
Bước 2: Tìm kiếm hàng hóa, dịch vụ, đối tác để phục vụ việc mua sắm;
tranh hoàn hảo, trong đó tất cả sự cạnh tranh đều là cạnh tranh lành mạnh.
Trong thực tế, cung cấp thông tin cho NTD là một nhu cầu mang tính chất
tự thân của các doanh nghiệp khi tham gia thị trường. Chính vì vậy, pháp luật
các nước thường quy định thông tin cho NTD và quảng cáo sản phẩm hàng hóa,
dịch vụ là quyền của các doanh nghiệp khi tham gia cung ứng hàng hóa, dịch vụ
8
cho thị trường. Việc các nhà sản xuất, các thương nhân muốn kinh doanh và tiêu
thụ được hàng hóa, dịch vụ của mình, muốn cạnh tranh được với các thương
nhân khác cung cấp những sản phẩm, dịch vụ cùng loại chắc chắn sẽ phải cung
cấp thông tin về loại hàng hóa, dịch vụ mà ḿnh kinh doanh tới cho NTD một
cách nhanh chóng và thuận tiện nhất. Việc cung cấp thông tin về các sản phẩm,
hàng hóa, dịch vụ sẽ thúc đẩy nhu cầu mua sắm, sử dụng dịch vụ của NTD trong
xã hội. Quyết định tới sự lưu thông hàng hóa trên thị trường. Có thể nói những
yếu tố kể trên sẽ trở nên không còn nhiều ý nghĩa khi NTD thiếu các thông tin
thiết yếu.
Với sự phát triển của xã hội hiện nay, các loại hàng hóa, dịch vụ không
những đa dạng về số lượng, mẫu mã sản phẩm mà còn phong phú về chủng loại
hàng hóa và phong phú cả về số lượng các nhà sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch
vụ. Các mặt hàng đa dạng từ các loại hàng hóa như: thực phẩm tươi, thực phẩm
đóng gói, hoa quả (những loại mặt hàng cần dùng thiết yếu trong sinh hoạt hàng
ngày); tới các sản phẩm đáp ứng những nhu cầu cao hơn như: mỹ phẩm, công
nghệ (điện thoại, ô tô, máy lọc nước, máy giặt, ti vi, tủ lạnh, điều hòa…) và các
dịch vụ như du lịch, ngân hàng, bảo hiểm, marketing, truyền thông, điện ảnh…
với rất nhiều các nhà cung cấp hàng hóa sản phẩm khác nhau. Vì vậy, để tồn tại
và đạt được mục đích lợi nhuận của mình, không ít tổ chức, cá nhân kinh doanh
chỉ cung cấp những thông tin có lợi cho chính bản thân tổ chức, cá nhân kinh
doanh mà vô tình hay hữu ý “lờ” đi những thông tin đáng lẽ ra bắt buộc phải
cung cấp cho NTD như thông tin về tác dụng phụ, những tác hại có thể xảy ra
tươi, gây nhầm lẫn cho NTD.
Do vậy, từ góc độ của NTD, khi tham gia thị trường và các giao dịch tiêu
dùng đối với thương nhân, họ thường phải đối mặt với việc: được cung cấp quá
nhiều thông tin tốt (những thông tin có lợi đối với doanh nghiệp, tổ chức, cá
nhân kinh doanh) mà không được cung cấp những thông tin về mặt trái, những
nguy cơ tiềm ẩn khi sử dụng hàng hóa, dịch vụ do thương nhân cung cấp. Đây
chính là tình trạng “thừa thông tin tốt, thiếu thông tin cần thiết” khi NTD tham
gia trên thị trường.
Như vậy, bản thân một trong những yếu tố làm cho NTD trở nên yếu thế,
dễ bị xâm hại về quyền lợi khi tham gia thị trường chính là yếu tố liên quan đến
thông tin, đó là tình trạng NTD thiếu thông tin, không được cung cấp thông tin
đầy đủ hoặc được cung cấp thông tin nhưng thông tin không cân xứng. Bởi vậy,
có thể nói, bài toán bảo vệ quyền lợi NTD trong nền kinh tế thị trường thường là
bài toán về việc đảm bảo quyền được thông tin một cách đầy đủ, chính xác và
trung thực của NTD.
Thông tin chính là yếu tố thiết yếu giúp NTD trở thành NTD thông thái và
sự thiếu thông tin hoặc thông tin sai lệch cũng khiến cho quyền lợi của NTD bị
xâm hại.
Như vậy, có thể thấy, yếu thế về thông tinvà các loại yếu thế khác mà
NTD thường phải đối mặt khi tham gia thị trường đã làm cho ý nghĩa của
nguyên tắc chủ quyền của NTD trở nên ít ý nghĩa. Nếu không khắc phục những
điểm yếu đó, ý nghĩa của công tác bảo vệ NTD sẽ không đạt được hiệu quả.
10
Chính vì thực tế trên, pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD đã sử dụng công
cụ pháp lý,khẳng định NTD có quyền được cung cấp thông tin. Đồng thời, yêu
cầu các thương nhân, tổ chức, cá nhân kinh doanh phải cung cấp đầy đủ những
thông tin cần thiết đối với NTD, hạn chế tình trạng thừa thông tin tốt, thiếu
thể tại một văn bản pháp luật, theo đó NTD “được cung cấp các thông tin trung
thực về chất lượng, giá cả, phương pháp sử dụng hàng hóa, dịch vụ”, quy định
11
này đã phần nào xác định được những thông tin mà thương nhân cần phải cung
cấp cho NTD khi giao kết hợp đồng. Ngoài ra, tại Điều 15 của Pháp lệnh bảo vệ
quyền lợi NTD, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh trong việc cung
cấp thông tin cho NTD cũng được liệt kê như sau:
“Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ phải thông tin,
quảng cáo chính xác và trung thực về hàng hóa, dịch vụ, niêm yết giá hàng hóa,
dịch vụ; công bố điều kiện, thời hạn, địa điểm bảo hành và hướng dẫn sử dụng
hàng há, dịch vụ của mình cho NTD”
Bên cạnh những quy định trong Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD năm
1999, quyền được cung cấp thông tin của NTD cũng được đề cập đến trong quy
định của Bộ Luật Dân sự năm 2005 về Nghĩa vụ cung cấp thông tin và hướng
dẫn cách sử dụng (Điều 442) và trong Luật Thương mại năm 2005 về Nguyên
tắc bảo vệ lợi ích chính đáng của NTD (Điều 14).
* Từ năm 2010 đến nay
Sau khi Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD năm 1999 có hiệu lực, thực
trạng vi phạm quyền lợi của NTD vẫn có chiều hướng tăng lên, đặc biệt trong
vài năm trở lại đây, do đó đòi hỏi pháp luật cần phải có sự bổ sung, sửa đổi để
quyền lợi của NTD có thể được bảo vệ trên thực tế. Chính vì những lý do trên
mà Luật bảo vệ quyền lợi NTD đã được Quốc hội thông qua ngày 17 tháng 11
năm 2010. Lần đầu tiên, tám quyền của NTD đã chính thức được ghi nhận và
quy định tại Điều 8 của Luật, trong đó quyền được cung cấp thông tin của NTD
được quy định tại Khoản 2 : “Được cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về tổ
chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; nội dung giao dịch hàng hóa, dịch
vụ; nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa…”. Bên cạnh việc quy định NTD có quyền
được cung cấp các thông tin liên quan đến hàng hóa, dịch vụ mà mình mua hoặc
trên thế giới về quyền được cung cấp, tiếp cận thông tin về hàng hóa, dịch vụ
của NTD:
Quốc gia
Ấn độ
Thái lan
Quyền của NTD được tiếp cận Nghĩa vụ của nhà cung cấp
thông tin về hàng hóa, dịch vụ
hàng hóa, dịch vụ phải cung
cấp thông tin và nghĩa vụ
của bên thứ ba
Luật bảo vệ NTD năm 1986, điều Không đề cập trực tiếp trong
6 thuộc chương II:
Luật bảo vệ NTD
-Ủy ban Trung ương về bảo vệ
NTD sẽ phát huy và bảo vệ các
quyền của NTD, trong đó có
quyền: b) được thông tin về chất
lượng, số lượng, cường lực, độ
trong sạch, tiêu chuẩn và giá cả
của hàng hóa, dịch vụ,…
Điều 4(1), Luật Bảo vệ NTD số Không nêu cụ thể nghĩa vụ
B.E.2522 (1979)
của thương nhân phải cung
“NTD có quyền có được thông tin cấp thông tin về hàng hóa,
và mô tả đầy đủ và chính xác về dịch vụ cho NTD
13
Các quyền của NTD bao gồm: (c)
quyền có các thông tin chính xác,
rõ ràng và trung thực về điều kiện
đảm bảo của hàng hóa, dịch vụ.
Luật Bảo vệ Quyền và lợi ích của
NTD số 8 năm 1994, Điều 8
Chương II:
NTD có quyền được biết tình
trạng thực tế của hàng hóa mua
14
Luật Bảo vệ NTD 1999, Điều
9, Phần II về các hành vi lừa
đảo, gây nhầm lẫn và các
hành vi thương mại không
công bằng: cấm các hành vi
gây nhầm lẫn về bản chất,
đặc điểm, tính khả dụng…
của hàng hóa, dịch vụ
Điều 10: cấm các hành vi
biểu đạt gây nhầm lẫn liên
quan đến chất lượng, nguồn
gốc, chủng loại, tiêu chuẩn
hàng hóa.
Điều 12 cấm các hành vi gây
nhầm lẫn cho NTD liên quan
đến giá của hàng hóa
Luật Bảo vệ NTD số 8 năm
1999,
Điều 7 Chương I: Thương