Pháp luật về ứng phó với biến đổi khí hậu tại Việt Nam - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

PHẠM THỊ TRÀ

PHÁP LUẬT VỀ ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
TẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. VŨ DUYÊN THỦY

HÀ NỘI - 2015


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi,
dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Vũ Thị Duyên Thủy – Giảng viên môn
Luật Môi trường, trường Đại học Luật Hà Nội.
Những thông tin, số liệu, trích dẫn trong luận văn là hoàn toàn trung
thực và có nguồn gốc rõ ràng, chính xác.

Xác nhận của Giảng viên hướng dẫn


2.4. Các quy định của pháp luật về quản lý phát thải khí nhà kính ................ 38
2.5. Các quy định pháp luật về quản lý các chất làm suy giảm tầng ô – dôn. 45


2.6. Các quy định pháp luật về quản lý và phát triển nguồn năng lượng tái tạo,
năng lượng từ chất thải, sản xuất tiêu thụ thân thiện với môi trường ............. 47
2.7. Các quy định pháp luật về quyền và trách nhiệm của cộng đồng trong ứng
phó với biến đổi khí hậu .................................................................................. 53
2.8. Các quy định pháp luật về trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước
trong ứng phó với biến đổi khí hậu. ................................................................ 54
Chương 3:MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI VIỆT NAM. .................. 57
3.1. Các yêu cầu đặt ra với việc hoàn thiện pháp luật về ứng phó với biến đổi
khí hậu tại Việt Nam ....................................................................................... 57
3.2. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về ứng phó với biến đổi khí hậu. ..... 59
3.2.1. Hoàn thiện các quy định pháp luật về lồng ghép nội dung ứng phó với
biến đổi khí hậu vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xã
hội. ................................................................................................................... 59
3.2.2. Hoàn thiện các quy định pháp luật về hệ thống quy chuẩn kỹ thuật môi
trường gắn với việc ứng phó với biến đổi khí hậu .......................................... 60
3.2.3. Hoàn thiện các quy định pháp luật về bảo vệ tài nguyên liên quan đến
biến đổi khí hậu ............................................................................................... 62
3.2.4. Hoàn thiện các quy định pháp luật về quản lý phát thải khí nhà kính . 63
3.2.5. Hoàn thiện các quy định pháp luật về quản lý các chất làm suy giảm
tầng ô - dôn ..................................................................................................... 64
3.2.6. Hoàn thiện các quy định pháp luật về quản lý và phát triển nguồn năng
lượng tái tạo, sản xuất tiêu thụ thân thiện với môi trường, năng lượng từ chất
thải ................................................................................................................... 65
3.3. Các giải pháp tăng cường hiệu quả thực thi pháp luật ứng phó với biến
đổi khí hậu ....................................................................................................... 67

Nghị định thư Kyoto về cắt giảm khí thải gây hiệu ứng nhà

KP

kính
Năng lượng tái tạo

NLTT

Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu

UNFCCC


1

LỜI NÓI ĐẦU
1.Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Biến đổi khí hậu là một thực tế đã và đang diễn ra, được dự đoán là có thể biến
động nhanh hơn trong tương lai. Sự phát thải quá nhiều khí nhà kính vào bầu khí
quyển là nguyên nhân chính dẫn đến biến đổi khí hậu. Hệ quả là hiện tượng nóng
lên toàn cầu làm tan băng ở hai cực và các dải băng ở những dãy núi cao đã tồn tại
hàng nghìn năm. Điều này khiến mực nước biển có xu thế tăng cao, cán cân tuần
hoàn nước thay đổi làm đe dọa đến toàn bộ hệ sinh thái, thậm chí là cả sự tồn vong
của loài người.
Việt Nam được đánh giá là một trong năm quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất
của biến đổi khí hậu. Các hiện tượng thời tiết cực đoan như hạn hán, lũ lụt, triều
cường, những siêu bão với hướng đi khác biệt so với quy luật và sức tàn phá cực
lớn đang có xu hướng gia tăng. Cùng với đó hiện tượng nóng lên toàn cầu ảnh
hưởng đến hầu hết các lĩnh vực kinh tế - xã hội.

giá tác động của biến đổi khí hậu và xác định các biện pháp thích ứng” của Viện
Khoa học khí tượng thủy văn và Môi trường, NXB Tài nguyên môi trường và bản
đồ năm 2011; cuốn “Tích hợp vấn đề biến đổi khí hậu vào kế hoạch phát triển kinh
tế xã hội” của Viện Khoa học khí tượng thủy văn và môi trường, NXB Tài nguyên
môi trường và bản đồ Việt Nam ấn hành năm 2012; Bài viết “Nghiên cứu cập nhật
kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam” của các tác giả Trần
Thục, Nguyễn Văn Thắng, Hoàng Đức Cường, Nguyễn Xuân Hiển đăng trên Tạp
chí Khoa học, Các khoa học trái đất – Đại học quốc gia Hà Nội năm 2011; Bài viết
“ Tổng quan về biến đổi khí hậu và những thách thức trong phân tích kinh tế về
biến đổi khí hậu ở Việt Nam” của Nguyễn Mậu Dũng đăng trên tạp chí Khoa học và
Phát triển 2010 (Tập 8, số 2), Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội; Đề tài nghiên
cứu khoa học mã số KC08/13-06.10 do tác giả Nguyễn Văn Thắng làm chủ nhiệm
“Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến các điều kiện tự nhiên, tài nguyên
thiên nhiên và đề xuất các giải pháp chiến lược nhằm phòng tránh, giảm nhẹ và
thích nghi phục vụ phát triển bền vững kinh tế xã hội ở Việt Nam”…


3

Các công trình nghiên cứu của nước ngoài về lĩnh vực này cũng chủ yếu đề
cập đến những vấn đề chung về biến đổi khí hậu, những ảnh hưởng của nó đến môi
trường tự nhiên và chính sách đảm bảo phát triển bền vững trong điều kiện biến đổi
khí hậu. Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu bằng tiếng Anh như: ấn phẩm
Vietnam and Climate change: Policy for Sustainable Human Development do Liên
hợp quốc ấn hành năm 2009; ấn phẩm Adapting to Coastal Climate Change: A
guidebook for development planners của USAID (Cơ quan Phát Triển Quốc Tế Hoa
Kỳ) năm 2009.
Như vậy, ở trong và ngoài nước hiện đã có một số công trình nghiên cứu khoa
học đề cập đến chính sách phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Tuy
nhiên, các công trình này chưa nghiên cứu một cách chuyên sâu, hệ thống và toàn

chính sau đây:
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về biến đổi khí hậu, pháp luật ứng phó
với biến đổi khí hậu.
- Tìm hiểu những quy định của pháp luật trong vấn đề ứng phó với biến đổi
khí hậu, đánh giá thực trạng pháp luật trong lĩnh vực này, thực tiễn thi hành pháp
luật và nguyên nhân cụ thể của những vướng mắc nảy sinh trong quá trình thực thi
pháp luật.
- Trên cơ sở của những phân tích về hạn chế và những nguyên nhân dẫn đến
những hạn chế của pháp luật ứng phó với biến đổi khí hậu, đưa ra những kiến nghị
phù hợp nhằm hoàn thiện pháp luật ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam.
6. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn kết cấu gồm ba chương:
Chương 1: Lý luận về biến đổi khí hậu và pháp luật về ứng phó với biến đổi
khí hậu
Chương 2: Thực trạng pháp luật về ứng phó với biến đổi khí hậu tại Việt Nam
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về ứng phó với biến
đổi khí hậu tại Việt Nam


5

Chương 1:
LÝ LUẬN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ PHÁP LUẬT VỀ ỨNG PHÓ
VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU.
1.1.

Lý luận về biến đổi khí hậu.

1.1.1.

thấy được sự BĐKH trong khi định nghĩa của UNFCCC chỉ nói chung là một
khoảng thời gian có thể so sánh được.
Hai là: định nghĩa của UNFCCC chỉ xét BĐKH trong phạm vi có nguyên nhân
do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu.
Sự khác biệt này trong định nghĩa của UNFCCC không đồng nghĩa với việc
phủ nhận nguyên nhân tự nhiên gây ra BĐKH. Điều này xuất phát từ vai trò của
UNFCCC là Công ước có nội dung quy định về quyền và nghĩa vụ của các quốc gia
thành viên về BĐKH. Do đó Công ước chỉ dừng lại ở phạm vi nguyên nhân hoạt
động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển.
1.1.2.

Những dấu hiệu nhận biết về biến đổi khí hậu.

Biến đổi khí hậu có thể được nhận biết qua sự biến động của các thuộc tính
của nó như nhiệt độ, lượng mưa, mực nước biển…Những dấu hiệu cơ bản để nhận
biết BĐKH có thể kể đến:
Thứ nhất, nhiệt độ trung bình hàng năm tăng
Nhiệt độ trung bình trên bề mặt là thước đo cơ bản nhất đánh giá sự BĐKH.
Nhiệt độ bề mặt trái đất trong thế kỉ XX tăng 0,74oC. Dự báo trong thế kỉ XXI tăng
thêm từ 1,1 – 6,4oC (Lê Thị Hồng Hạnh và đ.t.g., 2014). Đáng lưu ý là, mức tăng
nhiệt độ của Bắc cực gấp đôi mức tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu. Nhiệt độ cực
trị cũng có xu thế phù hợp với nhiệt độ trung bình, kết quả là giảm số đêm lạnh và
tăng số ngày nóng và biên độ nhiệt độ ngày giảm đi chừng 0,07 độ C mỗi thập kỉ.
Thứ hai, lương mưa trung bình thay đổi
Trên phạm vi toàn cầu, lượng mưa tăng ở các đới phía bắc ( vĩ độ 300 Bắc)
như Trung Bắc Mỹ, Đông Bắc Mỹ, Bắc Âu, Bắc Á và Trung Á và giảm đi ở vĩ độ
nhiệt đới như Nam Á và Tây Phi. Tần số mưa lớn tăng trên nhiều khu vực, kể cả
những nơi lượng mưa có xu thế giảm (Thanh Hằng, 2014).
Thứ ba, băng vĩnh viễn ở hai đầu cực tan
Các nhà khoa học đến từ Anh, Đức, Mỹ và Nhật Bản đã phân tích dữ liệu từ

thực vật chết ở tự nhiên cũng như thải ra các thán khí gây ô nhiễm môi trường, ảnh
hưởng tới sự vận động của các yếu tố khí hậu (Nguyễn Đình Hòe, 2002).
Thứ hai, sự vận động của tự nhiên. Bên cạnh đó với sự vận động của tự nhiên,
các núi lửa hoạt động, dòng nham thạch tràn ra làm tăng nhiệt độ tại một tiểu khu
vực cũng thúc đẩy sự vận động mạnh mẽ của các dòng khí nóng, lạnh và quá trình
hoàn lưu khí quyển, tạo ra sự đột biến trong phạm vi lớn. Sự hoạt động của núi lửa
cũng tạo ra rất nhiều các hoạt chất gây ô nhiễm, như các sol khí (các hạt bụi và các


8

hạt lơ lửng). Những sol khí làm giảm độ trong suốt của khí quyển, đồng thời cũng là
tác nhân gây ảnh hưởng mạnh mẽ tới thời tiết và khí hậu. Các nhà khoa học đã tính
toán rằng các loại sol khí phát sinh từ núi lửa chiếm khối lượng từ 25 đến 150 triệu
tấn/năm trên toàn thế giới. Các sol khí còn được tạo ra từ bụi rừng, bụi biển, từ đất,
từ hoa thực vật, từ các vi sinh vật và từ các sản phẩm của chính thời tiết. Chỉ tính
riêng nguồn gốc tự nhiên, các loại sol khí đã chiếm một khối lượng khổng lồ, từ
khoảng 7773 đến 2200 tấn sol khí/năm (Nguyễn Đình Hòe, 2002, tr. 146).
Như vậy, chính bản thân thiên nhiên cũng đã và đang góp phần vào quá trình
tạo ra sự BĐKH trên phạm vi toàn cầu. Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh rằng, sự tác
động của thiên nhiên tạo ra sự biến đổi từ từ, chậm chạp. Tự thiên nhiên có thể lấy
lại được thế cân bằng nếu không có sự tác động mạnh mẽ của con người. Điều mà
pháp luật đề cập tới khi muốn hạn chế tác hại của BĐKH chính là những tác động
tiêu cực của con người góp phần nghiêm trọng vào quá trình thay đổi này (Lưu
Ngọc Tố Tâm, 2003).
1.1.3.2. Các hoạt động của con người
Nguyên nhân chính của hiện tượng nóng lên toàn cầu dẫn đến BĐKH là việc
tăng hàm lượng khí CO2 và các loại khí thải tạo hiệu ứng nhà kính do hoạt động của
con người gây ra trong bầu khí quyển trái đất. Các công trình nghiên cứu áp dụng
công nghệ hiện đại cho chúng ta biết suốt thiên nhiên kỷ trước khi có cuộc cách

gấp 6,9 lần lượng phân đạm; 3,5 lần lượng phân lân và 1,7 lần diện tích đất có tưới.
Sinh hoạt
Những hoạt động thường ngày của con người cũng góp một phần không nhỏ
vào quá trình biến đổi khí hậu. Bằng một cách gián tiến hay trực tiếp, con người thải
vào không khí một lượng các khí thải như CO2, SOx, NOx, CFC…tương đối lớn.
Đó là một trong những tác nhân gây nên sự thay đổi của khí hậu.
Sự suy giảm diện tích rừng
Một nguyên nhân nữa của sự biến đổi khí hậu hiện nay đó là sự chặt phá rừng
để khai thác lâm sản, lấy than, làm nương rẫy đang diễn ra rất mạnh. Một hệ sinh
thái rừng trưởng thành chứa một lượng rất lớn các-bon hữu cơ, biểu hiện trong
những sinh vật sống và phần sinh khối chết, trong chất hữu cơ của thảm thực vật và
trong khoáng của đất. Lượng các-bon cố định này lớn hơn rất nhiều các khu rừng trẻ


10

và các hệ sinh thái khác được tạo ra bởi con người. Khi hệ sinh thái rừng trưởng
thành bị mất đi sẽ được thay thế bởi lượng các-bon cố định nhỏ hơn rất nhiều. Kết
quả giải phóng một lượng CO2 rất lớn vào khí quyển.
1.1.4.

Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu

1.1.4.1. Ảnh hưởng tới các yếu tố tự nhiên môi trường
BĐKH ảnh hưởng đến hầu khắp các lĩnh vực, trước hết phải kể đến các yếu tố
tự nhiên môi trường:
Nhiệt độ trung bình năm tăng lên
Sự gia tăng nhiệt độ khí quyển làm cho khí hậu các vùng nước ta nóng lên, kết
hợp với suy giảm lượng mưa làm cho nhiều khu vực khô hạn hơn. Hệ thống sinh
thái cũng tác động tiêu cực; Tại các vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông

là một hàm đồng biến với bức xạ mặt trời. Trái đất nóng dần lên dẫn đến thay đổi
cấu trúc mùa màng như rút ngắn mùa lạnh, kéo dài hay rút ngắn mùa mưa. Tất cả
các yếu tố này sẽ tác động đến thời vụ, sâu bệnh, năng suất, sản lượng.
Hàng triệu hét - ta đất trống, đồi trọc mất rừng lâu năm, đất mặn bị biến đổi
cấu tạo, trở nên dễ bị xói lở, rửa trôi mạnh, tích tụ sắt nhôm gây nên hiện tượng kết
vón và đá ong hóa, đất loại này hoàn toàn mất sức sản xuất nông, lâm nghiệp. Chỉ
tính riêng đợt kéo dài 33 ngày đầu năm 2008 tại Việt Nam, theo số liệu thống kê
của Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đã có 33.000 con trâu, bò; 34.000 ha
lúa đã cấy, hàng chục ngàn ha mạ non, nhiều đầm nuôi tôm ở tất cả các tỉnh phía
Bắc và Bắc Trung Bộ đã chết và ước tính thiệt hại lên tới hàng ngàn tỷ đồng (Trần
Thanh Lâm, 2010).
Chi phí để áp dụng các biện pháp ứng phó với biến đổi khí hậu.
Việc bỏ tiền ra chi phí cho việc khôi phục thiệt hại sau những thiên tai đã làm
thâm hụt vào ngân sách các quốc gia. Theo Nicolas Stem – nguyên chuyên gia kinh
tế hàng đầu của Ngân hàng Thế giới, thì trong vòng 10 năm tới, chi phí thiệt hại do
BĐKH gây ra cho toàn thế giới ước tính khoảng 7.000 tỉ USD; nếu chúng ta không
làm gì để ứng phó thì thiệt hại mỗi năm sẽ chiếm khoảng 5 – 20% tổng sản phẩm
nội địa (GDP), còn nếu chúng ta có những ứng phó tích cực để ổn định khí nhà kính
(KNK) ở mức 550 ppm tới năm 2030 thì chi phí chỉ còn khoảng 1% GDP (Trần
Thanh Lâm, 2010).
1.1.4.3. Ảnh hưởng tới đời sống xã hội


12

Những ảnh hưởng của BĐKH đến đời sống xã hội có thể kể đến như:
Ảnh hưởng đến sức khỏe con người:
Nguy cơ về sức khỏe ngày một tăng: Biến đổi khí hậu sẽ làm ảnh hưởng đến
sức khỏe của con người theo nhiều cấp khác nhau. Ở cấp độ toàn cầu, sẽ có thêm
các nguy cơ mắc bệnh sốt rét. Tỉ lệ mắc bệnh sốt rét ở Châu Phi cận Sahara, nơi


13

Giảm nhẹ biến đổi khí hậu (Mitigation) là các hoạt động nhằm giảm mức độ
hoặc cường độ phát thải khí nhà kính (Trần Thục và đ.t.g., 2012).
Luật số 55/2014/QH13 Luật Bảo vệ môi trường của Quốc hội ban hành ngày
23 tháng 06 năm 2014 (sau đây gọi tắt là Luật BVMT 2014) cũng đưa ra định
nghĩa:
Ứng phó với biến đổi khí hậu là các hoạt động của con người nhằm thích ứng
và giảm thiểu biến đổi khí hậu (khoản 26 điều 3 Luật BVMT 2014).
Như vậy, ứng phó với biến đổi khí hậu là một quá trình trong đó con người
làm giảm những tác động bất lợi của khí hậu đến sức khỏe, đời sống và tận dụng
những cơ hội thuận lợi mà môi trường khí hậu mang lại. Đó là quá trình con người
điều chỉnh thụ động hoặc phản ứng tích cực hoặc có phòng bị trước được đưa ra với
nghĩa làm giảm thiểu và cải thiện những hậu quả có hại do BĐKH gây ra. Thích
ứng còn có nghĩa là tất cả những phản ứng đối với BĐKH nhằm làm giảm tính dễ bị
tổn thương. Con người không thể tồn tại một cách đơn giản như trước khi có BĐKH
nhưng con người hoàn toàn có thể thay đổi các hành vi của mình để thích ứng và
giảm thiểu các rủi ro từ những thay đổi đó (Trần Thục và đ.t.g., 2010) .
1.2.2.

Vai trò của việc ứng phó với biến đổi khí hậu

Thứ nhất, ứng phó với BĐKH là cách tốt nhất để giảm nhẹ tác động tiêu cực
của BĐKH đồng thời giữ được thế chủ động. Ứng phó với BĐKH giúp chúng ta
chủ động hơn trong việc đối mặt với các tác động của nó. Việc chủ động hơn trong
việc ứng phó với tác động của khí hậu, hạn chế sự ảnh hưởng về sức khỏe cũng như
kinh tế mà sự thay đổi của môi trường, khí hậu đem lại. Con người mạnh khỏe hơn,
yên tâm hơn trong sản xuất, mang lại năng suất cao hơn.
Thứ hai, các hoạt động ứng phó với BĐKH sẽ tạo ra nhiều cơ hội để phát triển

dụng ưu đãi thuế để khuyến khích các doanh nghiệp có biện pháp tiết kiệm năng
lượng, sử dụng năng lượng nhiên liệu sinh học, năng lượng gió, năng lượng mặt trời
vào thay thế các nhiên liệu hóa thạch như: than đá, dầu lửa. Áp dụng thuế suất cao
đối với các sản phẩm sản xuất bằng nhiên liệu hóa thạch… Các biện pháp về kinh tế
rất phong phú đa dạng nhưng về cơ bản áp dụng chúng thường mang lại hiệu quả
cao hơn các biện pháp khác.
Biện pháp khoa học kỹ thuật: Khoa học kỹ thuật đóng vai trò quan trọng trong
công tác dự báo, thông tin thời tiết. Phát triển khoa học công nghệ, áp dụng công
nghệ tiên tiến cũng có thể giảm lượng thải KNK. Để các chỉ tiêu giảm thải đi vào
thực tế mà không quá ảnh hưởng đến nền kinh tế thì vai trò của của công nghệ là rất
lớn. Nếu như công nghệ lạc hậu thì việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch không được


15

triệt để mà phát thải rất lớn gây tốn nhiên liệu và ô nhiễm môi trường. Muốn ứng
dụng các dạng năng lượng khác như năng lượng mặt trời, năng lượng địa nhiệt,
năng lượng gió, năng lượng sóng cũng cần phải có kỹ thuật tiên tiến.
Biện pháp giáo dục: Vai trò của giáo dục là đặc biệt quan trọng, khi con người
ta vì sự thiếu hiểu biết mà thực hiện các hành động gây tác động xấu đến môi
trường, thì việc thức tỉnh họ cần thực hiện trước tiên. Khi con người đã có ý thức tự
giác thì các hoạt động ứng phó với BĐKH sẽ dễ dàng được thực hiện hiệu quả. Các
phương tiện truyền thông, thông tin có vai trò hết sức quan trọng, họ đóng vai trò
truyền tải thông tin đến với người dân, không chỉ những thông tin về cảnh báo thiên
tai mà còn là những thông tin về BĐKH, từ đó giúp người dân nâng cao nhận thức
và thay đổi hành vi. Thực tế, những lỗ hổng tri thức để thích ứng với BĐKH còn rất
lớn. Do vậy, giáo dục bậc cao ở các nước đang phát triển đóng một vai trò quan
trọng. Việc này có thể làm tốt thông qua hợp tác chặt chẽ giữa các trường đại học,
viện nghiên cứu trên thế giới; tiến hành những nghiên cứu liên ngành hay các
chương trình trao đổi sinh viên và chuyên gia.

nhau.
Xuất phát từ những phân tích về phạm vi của pháp luật ứng phó với BĐKH,
có thể đưa ra định nghĩa sau về pháp luật ứng phó với BĐKH: Pháp luật ứng phó
với biến đổi khí hậu là lĩnh vực pháp luật gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh
quan hệ phát sinh giữa các chủ thể trong quá trình thực hiện các hoạt động giảm
phát thải các chất gây biến đổi khí hậu và thích nghi với các điều kiện mới do biến
đổi khí hậu gây ra nhằm thực hiện mục tiêu ứng phó một cách có hiệu quả với tình
trạng biến đổi khí hậu đang diễn ra.
Từ định nghĩa trên có thể thấy, các quan hệ xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh
của pháp luật ứng phó với BĐKH cần được gắn với mục tiêu ứng phó có hiệu quả
với tình trạng BĐKH. Các quan hệ xã hội mà các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực
này điều chỉnh có thể phân loại theo các nhóm sau:
- Các quan hệ giữa một bên là cá nhân, tổ chức với một bên là nhà nước phát
sinh trong hoạt động quản lý nhà nước về ứng phó với BĐKH. Các quan hệ này
chứa đựng những yếu tố của quan hệ pháp luật hành chính. Ví dụ:
+ Quan hệ phát sinh từ hoạt động xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn môi trường.


17

+ Quan hệ phát sinh từ hoạt động thanh tra việc thực hiện pháp luật về ứng
phó với BĐKH.
- Các quan hệ phát sinh giữa các cá nhân tổ chức với nhau do thỏa thuận ý chí
của các bên. Đặc trưng của mối quan hệ này là sự thỏa thuận, sự bình đẳng trong
khuôn khổ pháp luật. Pháp luật điều chỉnh các quan hệ này không phải thông qua
chế tài, hình phạt mà dùng các lợi ích kinh tế để điều chỉnh hành vi của các chủ thể.
Ví dụ:
+ Quan hệ hợp tác đầu tư sản xuất năng lượng tái tạo
+ Quan hệ mua bán tín chỉ các-bon
1.3.2. Nội dung pháp luật về ứng phó với biến đổi khí hậu

vấn đề BĐKH nên được tích hợp vào chính sách quản lý phát triển kinh tế - xã hội
đã hoặc sắp ban hành.
Ba là, lồng ghép vấn đề BĐKH vào các kế hoạch phát triển cấp quốc gia,
ngành và tỉnh/thành phố đóng một vai trò quan trọng, mang đến nhiều lợi ích như:
giúp việc thích ứng với BĐKH được hiệu quả hơn và giảm được các chi phí, thiệt
hại trong tương lai do BĐKH gây ra; tạo cơ hội cho sự phát triển các lĩnh vực mới
(ví dụ năng lượng tái tạo) và thay đổi công nghệ sản xuất theo hướng xanh, thân
thiện với khí hậu, góp phần giảm nhẹ BĐKH đồng thời đảm bảo mục tiêu phát triển
kinh tế; góp phần tăng thêm nguồn lực tài chính và nhân lực cho hoạt động ứng phó
với BĐKH, từ đó xây dựng được một xã hội có khả năng chống chịu được với
BĐKH (Trần Thục và đ.t.g., 2012).
* Các quy định pháp luật về quy chuẩn kỹ thuật môi trường gắn với ứng phó
với BĐKH.
Trong việc thực hiện các quy định của pháp luật nhằm hạn chế sự phát thải
KNK, hạn chế BĐKH, hệ thống quy chuẩn kỹ thuật (QCKT) môi trường đóng vai
trò rất quan trọng. Trên cơ sở của hệ thống QCKT môi trường, các cơ quan hữu
quan xác định được một cách chính xác mức độ xả thải cũng như chất lượng môi
trường, biết được một cách cụ thể hàm lượng chất có hại cho bầu khí quyền cũng
như nguy cơ gây BĐKH đang tăng hay giảm và ở mức độ nào, từ đó xác định các
biện pháp điều tiết thích hợp (Chu Thị Trinh, 2009). Việc có một hệ thống QCKT
môi trường cùng với các quy định về bảo vệ môi trường phù hợp đã khuyến khích
được các cơ sở sản xuất tái chế, tái sử dụng chất thải, giảm thiểu phát thải ô nhiễm


19

ra môi trường cũng là góp phần giảm nhẹ BĐKH (Nguyễn Thị Huyền Thương,
2012).
* Các quy định pháp luật về bảo vệ tài nguyên gắn với mục tiêu ứng phó với
BĐKH.

động tiêu cực của đô thị hóa, công nghiệp hóa, nền nông nghiệp hiện đại đến
BĐKH.
Như vậy xét trong mối quan hệ hai chiều giữa BĐKH và bảo vệ tài nguyên
thiên nhiên thì hai yếu tố này có mối quan hệ mật thiết. BĐKH đang diễn biến hết
sức phức tạp ảnh hưởng một cách trực tiếp đến các nguồn tài nguyên. Do đó cần
đưa ra các chính sách pháp luật thích hợp để bảo vệ các nguồn tài nguyên này trong
tình hình mới. Mặt khác, bảo vệ tốt các nguồn tài nguyên cũng góp phần vào việc
giảm nhẹ và thích ứng với BĐKH.
* Các quy định pháp luật về quản lý phát thải khí nhà kính.
Khí nhà kính là những khí có khả năng hấp thụ các bức xạ sóng dài (hồng
ngoại) được phản xạ từ bề mặt Trái Đất khi được chiếu sáng bằng ánh sáng mặt trời,
sau đó phân tán nhiệt lại cho Trái Đất, gây nên hiệu ứng nhà kính (Karl và đ.t.g.,
2003). Khí nhà kính ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhiệt độ của Trái Đất, nếu không có
chúng nhiệt độ bề mặt Trái Đất trung bình sẽ lạnh hơn hiện tại khoảng 33 °C
(59 °F) (Le Treut và đ.t.g., 2007). Các khí nhà kính chủ yếu bao gồm: hơi
nước, CO2, CH4, N2O, O3. Điều đáng quan ngại là các hoạt động của con người
càng ngày càng làm tăng mức độ tích tụ khí CO2 trong bầu khí quyển. Mặc dù Nghị
định thư Kyoto đã đưa ra con số yêu cầu cắt giảm, nhưng phát thải khí CO2 vẫn liên
tục tăng. Theo cơ quan Năng lượng quốc tế, từ nay đến năm 2050, phát thải khí
CO2 sẽ còn tăng 130%. Với mục tiêu đề ra cho thế giới cắt giảm 50% phát thải
dioxit các bon thì lượng khí gây hiệu ứng phát thải vào bầu khí quyển vẫn còn rất
cao.
Đánh giá khoa học của IPCC cho thấy, việc tiêu thụ năng lượng đốt nhiên liệu
trong các ngành năng lượng, giao thông vận tải, xây dựng góp 46%, phá rừng 18%,
nông nghệp 9%, sản xuất hóa chất (CFC,HCFC) 24%, 3% hoạt động khác. Việc gia
tăng quá mức KNK trong khí quyển trong vài thập kỷ trở lại đây là nguyên nhân



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status