ĐẢNG bộ TỈNH VĨNH LONG vận DỤNG tư TƯỞNG hồ CHÍ MINH vào VIỆC PHÁT HUY VAI TRÒ của hội NÔNG dân TRONG sự NGHIỆP đổi mới - Pdf 48

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH LONG VẬN DỤNG TƯ
TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀO VIỆC PHÁT HUY VAI
TRÒ CỦA HỘI NÔNG DÂN TRONG
SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI.
Chuyên ngành: Giáo dục công dân
Mã ngành: 52140204

Giáo viên hướng dẫn:

Sinh viên thực hiện:

Th.S.GVC. TRẦN KIM TRUNG

PHẠM THÀNH TÂM
MSSV:6055393

CẦN THƠ 05/2009

a


LỜI CẢM ƠN
Để có được công trình nghiên cứu này, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến
toàn thể các thầy cô trong khoa Khoa học Chính trị, mà đặc biệt là thầy Trần Kim
Trung là người đã trực tiếp hướng dẫn tận tình giúp đỡ em trong suốt quá trình tìm

CÁCH MẠNG VIỆT NAM..............................................................................................18
CHƯƠNG 2.
PHÁT HUY VAI TRÒ HỘI NÔNG DÂN TỈNH VĨNH LONG TRONG SỰ
NGHIỆP ĐỔI MỚI DƯỚI ÁNH SÁNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH...............26
2.1. NHỮNG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ, VĂN HÓA, XÃ HỘI CỦA VĨNH LONG
ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI NÔNG DÂN. .................................26
2.2. CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH LONG VỀ
PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA HỘI NÔNG DÂN TRONG THỜI KỲ MỚI. .........28
2.3. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC CỦA HỘI NÔNG DÂN TỈNH VĨNH LONG
TRONG THỜI GIAN QUA. ............................................................................................32
2.3.1. Thành tựu..................................................................................................................32
2.3.2. Hạn chế. .....................................................................................................................44

a


CHƯƠNG 3.
NHỮNG PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ XÂY DỰNG VÀ PHÁT
HUY VAI TRÒ CỦA HỘI NÔNG DÂN TỈNH VĨNH LONG TRONG THỜI
KỲ ĐỔI MỚI. .....................................................................................................................46
3.1. PHƯƠNG HƯỚNG....................................................................................................46
3.2. GIẢI PHÁP. .................................................................................................................50
KẾT LUẬN

b


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Hội nông dân Việt Nam- tổ chức chính trị- xã hội của giai cấp nông dân đã

Long vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc phát huy vai trò của Hội nông dân
trong sự nghiệp đổi mới”, làm đề tài luận văn tốt nghiệp đại học.
2. Mục đích, nhiệm vụ.
Mục đích: nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về nông dân và tổ chức Hội nông
dân, những chủ trương chính sách của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long.
Nhiệm vụ: làm rõ việc phát huy vai trò của Hội nông dân tỉnh Vĩnh Long trong
sự nghiệp sự nghiệp đổi mới.
Qua đó thì tác giả cũng đề ra một số phương hướng và giải pháp nhằm phát
huy vai trò của Hội trong thời gian tới.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu trong đề tài này là: Nhằm phát huy vai trò Hội Nông
dân tỉnh Vĩnh Long trong thời gian tới của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long.
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu về vai trò của Hội nông dân tỉnh Vĩnh Long
trong sự nghiệp đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long.
4. Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu.
- Luận văn được viết dựa trên cơ sở lí luận của chủ nghĩa Mác, Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về vai trò của tổ chức Hội nông dân trong quá
trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Cùng với những chính sách quan điểm,
chủ trương của Trung ương Hội nông dân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
- Để thực hiện luận văn này đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như:
phân tích, tổng hợp, logic, lịch sử, điều tra xã hội học và thống kê…
5. Kết cấu.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì kết cấu của luận
văn gồm ba chương, 7 tiết.

4


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1.



Do đó, Đảng phải thu phục cho được đại bộ phận dân cày và phải dựa vào
hạng dân cày nghèo làm thổ địa cách mạng đánh trúc bọn đại địa chủ và phong kiến.
Qua đó thì Hồ Chí Minh đã khái quát được những nội dung cơ bản sau:
- Vị trí quan trọng của nông dân trong cách mạng.
- Cần bồi dưỡng lực lượng nông dân để làm chỗ dựa cho cách mạng.
- Muốn bồi dưỡng được nông dân, phải đem lại ruộng đất cho họ.
Khi ra đi tìm đường cứu nước (1911) cho tới khi trở thành đại biểu ưu tú của
giai cấp nông dân thế giới vào những năm 20, với vai trò Ủy viên đoàn chủ tịch quốc
tế nông dân, Hồ Chí Minh càng có điều kiện đi nhiều, thấy nhiều và hiểu biết nhiều
về giai cấp nông dân. Nhưng trước hết, tình cảm và trí tuệ của Người dành cho sự
nghiệp giải phóng nông dân đất nước mình, những người đang phải chịu sự áp bức,
bóc lột của chế độ thực dân Pháp. Người viết: “Là người An Nam, họ bị áp bức, là
người nông dân, họ bị người ta ăn cắp, cướp bóc, tước đoạt, làm phá sản”.[12] Từ
những năm 20, Hồ Chí Minh đã chỉ ra con đường duy nhất để giải phóng giai cấp
nông dân, đó là con đường cách mạng vô sản gắn liền giải phóng dân tộc với giải
phóng giai cấp nhân dân và nông dân, đem lại ruộng đất cho nông dân. Tháng
10/1923, trong báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản về tình hình Đông Dương, Nguyễn Ái
Quốc - Hồ Chí Minh đã nhận xét về thái độ chính trị của giai cấp nông dân: “Quần
chúng nông dân bị bóc lột nhất và cùng khổ nhất, rất yêu nước”.[12] Nguyễn Ái
Quốc đã nhận định nông dân Việt Nam rất cách mạng, là một lực lượng rất to lớn nếu
được tuyên truyền, tổ chức. Nhưng do sống tản mạn nên chỉ với lực lượng của riêng
mình, nông dân không bao giờ trút bỏ được gánh nặng đang đè nén, bóc lột họ, từ đó
Người yêu cầu: “Quốc tế Cộng sản cần phải giúp đỡ, tổ chức lại, cần phải cung cấp
cán bộ lãnh đạo cho họ và chỉ cho họ con đường đi tới cách mạng và giải
phóng”.[12]
Là một cán bộ của Quốc tế Cộng sản, Hồ Chí Minh đã chủ động tổ chức thực
hiện giải phóng giai cấp nông dân Việt Nam, không trông chờ, ỷ lại vào cách mạng
vô sản Pháp. Với tinh thần chủ động cách mạng, Người chỉ rõ nếu thời cơ cho phép

năng suất 5 tấn thóc trên 1 ha gieo trồng. Khi nói về vai trò, vị trí của hợp tác xã,
Người nhấn mạnh: “Các hợp tác xã nông nghiệp là đội quân hậu cần của quân đội
chiến đấu ngoài mặt trận. Các xã viên hợp tác xã là chiến sĩ sản xuất, cần phải cố
gắng như những chiến sĩ ngoài mặt trận. Các xã viên hợp tác xã sản xuất tốt để bộ
đội và nhân dân ta ăn no đánh thắng. Vì vậy, nhiệm vụ của hợp tác xã nông nghiệp,
của bà con xã viên, của cán bộ công tác ở nông thôn là rất quan trọng”.[12].

7


Nói đến nông dân là phải nói đến vấn đề ruộng đất, đó là lẽ sống và cả cuộc
đời họ. Hiểu sâu sắc điều đó, nên mỗi lần tiếp xúc với bà con nông dân, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã dành những lời xúc động để căn dặn bà con. Người nói: “Ruộng đất
khôn lắm, nó biết suy tính đấy, người chăm sóc nó chừng nào thì nó trả ơn cho người
chừng ấy”[12].
Hồ Chí Minh đã xây dựng cái gốc của cách mạng là khối liên minh công nông
để đoàn kết dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, thực hiện nhiệm vụ dân tộc dân chủ.
Khi đã giành được độc lập thì cũng dựa trên nền tảng khối đại đoàn kết đó mà Đảng
lãnh đạo sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Như vậy, theo Hồ Chí Minh, nông dân
Việt Nam không chỉ là đối tượng giải phóng mà còn là động lực, là gốc của cách
mạng Việt Nam.
Với Hồ Chí Minh, việc đi lên chủ nghĩa xã hội của cách mạng Việt Nam là
một tất yếu khách quan và chỉ xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công thì nhân dân,
trong đó đa số là nông dân mới thực sự được hưởng tự do hạnh phúc. Bởi vậy quá
trình xây dựng chủ nghĩa xã hội cũng là quá trình nâng cao đời sống người nông dân.
Mục tiêu đó của cách mạng được thể hiện trong đường lối chính sách của Đảng và
Nhà nước.
Chính sách của Đảng và Chính phủ nhằm xây dựng chủ nghĩa xã hội, không
ngừng nâng cao đời sống nông dân một cách toàn diện, cả vật chất và tinh thần, trên
tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội. Đảng và Chính phủ “phải

thời cũng phải phát triển nông nghiệp, vì hai ngành đó khắng khít với nhau. Nhất là
nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp, muốn phát triển nông
nghiệp thì trước hết phải xây dựng tốt các phong trào tổ đổi công ở khắp mọi nơi và
trên cơ sở đó sẽ xây dựng hợp tác xã nông nghiệp từ thấp đến cao. Nông dân ta muốn
đến chỗ ấm no, sung sướng và góp phần xây dựng nước nhà thì không có con đường
nào khác con đường tiến lên hợp tác xã.
Xây dựng hợp tác xã, phát triển sản xuất là nhiệm vụ trọng tâm của nông dân
đi lên chủ nghĩa xã hội. Muốn làm được nhiệm vụ đó, theo Hồ Chí Minh, trước hết là
tiến hành cách mạng tư tưởng.
Hồ Chí Minh rất chú ý nội dung tư tưởng trong quá trình xây dựng và phát
triển hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, cần chú trọng công tác giáo dục chính trị và tư
tưởng nhằm nâng cao không ngừng trình độ giác ngộ xã hội chủ nghĩa cho xã viên,
phải làm cho người nông dân hiểu rõ xây dựng hợp tác xã trước hết là để nâng cao
đời sống của nông dân. Bởi vậy phải nâng cao ý thức lao động tập thể làm chủ hợp
tác xã và tinh thần thi đua yêu nước, tinh thần trách nhiệm và ý thức kỷ luật của xã
viên, nâng cao tinh thần đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, khắc phục tư tưởng cá nhân, bảo

9


thủ, ỷ lại, thiếu đoàn kết. Trong hợp tác xã cần đề cao tinh thần chí công vô tư, tác
phong dân chủ, đồng thời giáo dục cho xã viên biết coi công việc của hợp tác xã như
công việc của nhà mình và phải thực hành khẩu hiệu cần kiệm xây dựng hợp tác xã.
Khi phong trào xây dựng hợp tác xã nông nghiệp của nông dân miền Bắc
giành thắng lợi căn bản, người nông dân xã viên có nhiệm vụ mới trên con đường đi
lên là củng cố hợp tác. Trong quá trình củng cố hợp tác xã có hai vấn đề đặt ra. Một
là phát triển các hợp tác xã từ bậc thấp đến bậc cao. Hai là thực hiện cuộc vận động
cải tiến quản lý hợp tác xã, cải tiến kỹ thuật nhằm phát triển nông nghiệp toàn diện,
mạnh mẽ và vững chắc. Hai vấn đề này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Hồ Chí
Minh nói: Để hoàn thành tốt kế hoạch Nhà nước, để xây dựng chủ nghĩa xã hội, để

cho mình đời sống mới. Hồ Chí Minh chỉ cho đồng bào nông dân thấy, muốn củng cố
hợp tác xã tốt thì phải có sức khỏe. Muốn thế đồng bào phải giữ gìn vệ sinh, ăn uống
sạch sẽ, nhà cửa, vườn tược sạch sẽ.
Hồ Chí Minh đòi hỏi nông dân phải chống mê tín dị đoan. Trời làm hạn hán,
sâu bệnh, không tích cực chống hạn, bắt sâu mà lại cúng bái trời đất. Đồng bào nông
dân phải thấy trời đã làm ra hạn, lụt, sâu bọ, bệnh tật. Vì vâỵ ta không ỷ lại vào trời
mà phải “vắt đất ra nước thay trời làm mưa”.
Hồ Chí Minh xác định nhiệm vụ quan trọng nhất của toàn Đảng toàn dân là
sản xuất giỏi, chiến đấu giỏi để đánh giặc Mỹ xâm lược. Sản xuất chiến đấu là hai
mặt trận có quan hệ mật thiết với nhau. Các hợp tác xã là đội quân hậu cần của quân
đội chiến đấu ngoài mặt trận. Các xã viên hợp tác xã chiến đấu sản xuất, phải sản
xuất tốt để bộ đội và những người ngoài tiền tuyến ăn no đánh thắng. Vì vậy, hợp tác
xã nông nghiệp, của bà con xã viên, của cán bộ nông thôn là rất quan trọng.
Xuất phát từ mục đích của cách mạng Việt Nam là giành độc lập dân tộc, giải
phóng nhân dân khỏi ách đế quốc thực dân, đánh đổ giai cấp địa chủ mang lại ruộng
đất cho dân cày, đưa nhân dân tiến lên chủ nghĩa xã hội mà Hồ Chí Minh xác định
đường lối, chính sách, việc làm của Đảng và Chính phủ là nằm không ngừng nâng
cao đời sống nhân dân, trong đó đông đảo nhất là nông dân.
Cho đến những ngày cuối cuộc đời mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh con chăm chú
lắng nghe Diễn ca Điều lệ Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, những mong với diễn ca
ấy bà con nông dân sẽ dễ hiểu, dễ nhớ để dễ làm theo, mong xây dựng được nền nếp
làm ăn mới, phát huy dân chủ, giữ vững kỷ cương...
Hiện nay, ở nước ta có 663 di tích và địa điểm di tích về Chủ tịch Hồ Chí
Minh. Đó là những nơi Người đã ở, làm việc hoặc tới thăm công nhân, nông dân, gia
đình nhân sĩ, tri thức, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang... Trong số đó, di tích về
Người ở vùng nông nghiệp, nông thôn chiếm 42%. Riêng ở Thủ đô Hà Nội, thành

11




12


đường mới, vươn tới những mục tiêu cao hơn, triệt để hơn là giải phóng xã hội, giải
phóng con người.
Ngày nay, dưới chính thể Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ruộng đất đã
trở thành sở hữu toàn dân. Nhân dân đã được hưởng quyền làm chủ về chính trị, kinh
tế, xã hội. Nhiệm vụ của Nhà nước hiện nay không phải là đem ruộng đất về cho
nông dân, mà là tổ chức và hướng dẫn nông dân, tạo điều kiện cho nông dân được
thực hiện quyền làm chủ trong sản xuất, chủ động phát huy năng lực để sản xuất có
hiệu quả cao. Trong đó bao gồm từ những vấn đề cụ thể như lựa chọn cây trồng, vật
nuôi, tiêu thụ, chế biến sản phẩm, đến cơ chế chính sách về đất đai, phân công lao
động xã hội... Vấn đề dân chủ cho nông dân, trong điều kiện nước ta thực hiện nền
kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, do
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đã và đang nảy sinh nhiều nội dung mới. Đặc biệt
là quyền dân chủ ấy được đặt trong bối cảnh quốc tế, hội nhập đấu tranh và ràng buộc
lẫn nhau giữa các quốc gia trong khu vực và trên thế giới.
Dân chủ hóa nông thôn bao gồm nhiều lĩnh vực, song ruộng đất vẫn là một
trong những tiêu chí, là thước đo quan trọng để đánh giá trình độ làm dân chủ của
nguời nông dân. Ruộng đất tuy thuộc sở hữu toàn dân, song trong thời gian 20 đến 25
năm, những con người cụ thể được giao quyền sử dụng, thì ruộng đất ấy gắn bó chặt
chẽ với đời sống, việc làm; gắn với việc sắp xếp cơ cấu, xây dựng nông thôn mới và
có quan hệ trực tiếp tới quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn.
Tháng 2/1947, nói chuyện với nhân dân Thanh Hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
mong muốn làm sao phát triển sản xuất, để “Nghèo trở nên đủ, đủ trở nên giàu, giàu
thì giàu thêm”. Có thể hiểu câu nói này của Người với nhiều nghĩa; một mặt thể hiện
sự chăm lo của Người đến mọi tầng lớp nhân dân, mặt khác Người rất khuyến khích
sự năng động của mọi người, không tự bằng lòng với những thành quả đã đạt được.

thì tới Hội nghị lần thứ sáu (lần 1) Đảng đã xác định cụ thể hơn: “Trước hết là công
nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn”, và coi việc ổn định kinh tế - xã hội
nông thôn là nền tảng ổn định chính trị đất nước. Với sự nhìn nhận và đánh giá này,
chắc chắn những khó khăn, vướng mắc trong công nghiệp, nông thôn sẽ được Đảng
tập trung tháo gỡ bằng các biện pháp và chính sách cụ thể, tương xứng giữa yêu cầu
và tầm quan trọng của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn với các
yếu tố vật chất đảm bảo như vốn và công nghệ để thiết thức đưa nghị quyết của Đảng
vào cuộc sống. Cùng với việc xây dựng “tầm nhìn vĩ mô” đối với toàn bộ vùng nông
thôn Việt Nam đi lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, trước mắt cần có những giải pháp
thiết thực, cụ thể tập trung vào hai vấn đế cơ bản là Nông dân với ruộng đất và nông

14


dân với việc làm. Người nông dân cần được vay vốn với lãi suất ưu đãi để đầu tư sản
xuất tạo ra những mô hình thích hợp. Đảng và Nhà nước cũng cần ban hành các chính
sách khuyến khích để nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực, đào tạo nhân tài cho các
vùng nông thôn, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cũ của cách mạng. Đồng thời
thực hiện có hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức pháp luật cho bà con
nông dân, mở rộng dân chủ, chống tham nhũng, kêu gọi tình yêu thương, đoàn kết
giữa những người lao động, giữa các địa phương và trong cả nước.
Trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại muôn vàn tình thương yêu
cho tất cả mọi người, trong đó có tìch cảm sâu nặng với bà con nông dân, Người căn
dặn: “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm
không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân” [12].
Nhân dân Việt Nam luôn giữ vững niềm tin vào Đảng. Cuộc sống đã kiểm
chứng và khẳng định chỉ có Đảng cộng sản Việt Nam mới lãnh đạo được dân tộc qua
các bước hiểm nghèo. Niềm tin ấy được nhân lên gấp bội vì Đảng ta do lãnh tụ Hồ
Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện.
Hồ Chí Minh đã được thế giới công nhận là Anh hùng giải phóng dân tộc,

chương riêng viết về tổ chức của nông dân. Sau khi phân tích mọi sự cực khổ của
nông dân, Người viết: “Nếu dân An Nam muốn thoát khỏi vòng cay đắng ấy, thì phải
tổ chức nhau để kiếm đường giải phóng” [7, Tr 310]. Hồ Chí Minh đặt tên tổ chức đó
là “Nông hội” và đề ra nguyên tắc tổ chức, điều kiện vào Hội, nhiệm vụ của Nông
hội, con đường để giải phóng đó là sự đồng tâm hiệp lực với giai cấp công nhân để
làm cách mạng. Trước đó, năm 1926, Hồ Chí Minh đã lập ra “Hội Liên hiệp Nông
dân” để tập hợp những nông dân sống ở Xiêm (Thái Lan).
Năm 1930, Đảng ta ra đời đã đặt ra vấn đề xây dựng ngay tổ chức của giai cấp
nông dân, để tập hợp nông dân. Trong sách lược vắn tắt của Đảng đã ghi: “Đảng phải
thu phục được đại bộ phận dân cày và phải dựa vào hạng dân cày nghèo” “ phải làm
cho các đoàn thể thợ thuyền và dân cày (Công hội, hợp tác xã) khỏi ở dưới quyền lực
và ảnh hưởng của bọn tư bản quốc gia” [ 8, Tr 3].
Trong chương trình tóm tắt của Đảng cũng đề ra nhiệm vụ: “Đảng phải tập
hợp đa số quần chúng nông dân, chuẩn bị cách mạng thổ địa và lật đổ bọn địa chủ
phong kiến” [8, Tr 44]. Nhờ có chủ trương đúng đắn của Đảng, tổ chức Nông hội
được thành lập ở nhiều cơ sở; tập hợp nông dân đấu tranh chống đế quốc, phong kiến.
Phong trào đấu tranh của nông dân có Nông hội đỏ làm nồng cốt đã phát triển mạnh
mẽ trong cả nước mà đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh.
Trước tình hình phát triển của phong trào nông dân và Nông hội, tháng 101930 Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương đã ra nghị quyết về nông dận,

16


vận động, đề ra nhiệm vụ khẩn trương thành lập Tổng Nông hội Việt Nam. Ngày 1410-1930 Nông hội đỏ được thành lập, tiền thân của Hội Nông dân Việt Nam ngày
nay. Nhưng chủ trương đúng đắn đó của Đảng ta không được Quốc tế Cộng sản đồng
ý. Do không sát với tình hình thực tế ở Việt Nam, các nhà lãnh đạo Quốc tế Cộng sản
cho rằng giai cấp nông dân có bản chất là tư hữu nhỏ, dễ đi theo con đường tư bản
chủ nghĩa, không nên thành lập một tổ chức riêng của họ ở cấp cao vì như vậy có thể
sẽ nguy hại đến cách mạng.
Đảng ta và Hồ Chí Minh đã nhìn nhận, đánh giá đúng bản chất cách mạng của

ở nông thôn trên diện rộng lớn của mọi vùng miền đất nước, gắn với nghề nông
truyền thống.
Nông dân - nông thôn - nông nghiệp Việt Nam có vị trí cực kỳ quan trọng
trong suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước. Lịch sử và truyền thống của
nông dân Việt Nam gắn liền với lịch sử và truyền thống của dân tộc, của đất nước.
Từ khi có Đảng, vị trí và vai trò của giai cấp nông dân Việt Nam càng được
khẳng định và phát huy mạnh mẽ. Ở mọi thời kỳ cách mạng, giai cấp nông dân Việt
Nam đều nằm trong “nền tảng liên minh” của khối đại đoàn kết dân tộc vượt qua
mọi hi sinh gian khổ, đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc.
Cụ thể là trong Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ II tháng 3/1931 nhấn mạnh
''cần phải đẩy mạnh việc tổ chức Nông Hội làng, tuyên truyền sâu rộng chủ trương
của Đảng, trong điều kiện địch khủng bố trắng, nông dân cùng các tầng lớp nhân dân
đoàn kết đấu tranh, gương cao khẩu hiệu: chống sưu thuế, địa tô, thất nghiệp, chống
khủng bố trắng, chống chiến tranh'' [11]. Thực hiện Nghị quyết Trung ương II, các tổ
chức Nông hội được củng cố và trực tiếp lãnh đạo phong trào đấu tranh của nông dân.
Dưới sự lãnh đạo của Nông hội, phong trào nông dân diễn ra mạnh mẽ trong những
năm 1932 - 1935, 1936. Tháng 3/1937 Trung ương Đảng họp, đề ra đường lối chính
trị và phương pháp tổ chức mới và tên của các tổ chức. Tổ chức Nông hội thay Nông
hội đỏ. Chủ trương đúng đắn và kịp thời của Đảng đã giúp cho Nông hội khắp nơi
trong nước phát huy vai trò của mình trong việc tập hợp, lãnh đạo nông dân hợp lực
với công nhân và nhân dân lao động đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ.
Hình thức tổ chức của Nông hội rất đa dạng: hội cấy, hội gặt, hội hiếu hỉ, hội
góp họ, phường đi săn, hội chèo, nhóm học quốc ngữ...đã thu hút đông đảo nông dân
đấu tranh giành quyền lợi của giai cấp mình.
Trong năm 1937, có hơn 150 cuộc đấu tranh của nông dân chống cướp ruộng
đất, đòi chia ruộng công, giảm tô, tức, khất thuế...Từ tháng l đến tháng 11/1938, có

18




19


giai cấp nông dân, thể hiện sự gắn bó sống còn giữa Đảng với nông dân, nông dân với
Đảng.
Ở miền Bắc, trong điều kiện chiến tranh ngày càng lan rộng với mức độ gay
go ác liệt hơn, nhiệm vụ kháng chiến càng đòi hỏi phải động viên toàn thể nông dân
tham gia trên tất cả các mặt trận. Đảng ta chủ trương, thành lập Ban Chấp hành lâm
thời Hội Nông dân cứu quốc Trung ương, kiện toàn tổ chức ở cấp trung ương và cơ
sở.
Để thực hiện chủ trương trên, Hội nghị cán bộ nông dân toàn quốc lần thứ
nhất được triệu tập từ ngày 20/11 đến ngày 7/12/1949 tại thôn Phong Vân, xã Tân
Tiến, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.[11]. Hội nghị thông qua đề án về chương
trình và hành động của Hội trong năm 1950 và những năm tiếp theo.
Đó là những chương trình lớn nằm trong nội dung của sáu cuộc vận động nông
dân: tăng gia sản xuất, tự cấp tự túc, nuôi dưỡng bộ đội, xây dựng hợp tác xã, hoàn
thành giảm tô, thực hiện giảm tức, đào tạo cán bộ và thanh toán nạn mù chữ.
Về tổ chức Hội Nông dân toàn quốc, Hội nghị đã thảo luận và nhất trí thành
lập Hội Nông dân cứu quốc Trung ương (sau đổi tên thành Ban liên lạc nông dân toàn
quốc) Nhiệm vụ của Hội Nông dân cứu quốc toàn quốc là lãnh đạo phong trào nông
dân và tổ chức Hội các cấp. Lần đầu tiên trong lịch sử phong trào nông dân và Hội
Nông dân Việt Nam, giai cấp nông dân có một tổ chức hội ở cấp trung ương, đáp ứng
nguyện vọng của nông dân.
Phong trào nông dân từ sau Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất có bước phát triển
mới, toàn diện và rất mạnh mẽ. Để tiếp tục đánh giá phong trào nông dân và tổ chức
Hội Nông dân, Ban liên lạc nông dân toàn quốc quyết định triệu tập Hội nghị cán bộ
nông dân toàn quốc lần thứ hai vào tháng 3/1951. Hội nghị đã tập trung quán triệt
những nhiệm vụ mới của Đảng để lãnh đạo, chỉ đạo phong trào nông dân và xây dựng
tổ chức Hội đáp ứng với những yêu cầu trước mắt. Với tinh thần ''Tất cả cho tuyền

quyết thắng'' trong nhân dân: thi đua đánh thắng đế quốc Mỹ, thi đua tăng gia sản
xuất đóng góp cho cách mạng và thi đua xây dựng vùng nông thôn mới.
Nông dân trong các vùng giải phóng đã chịu đựng muôn vàn hy sinh gian khổ,
trụ bám không cho địch lập vành đai trắng, giữ vững địa bàn đứng chân cho bộ đội,
du kích bám địch. Đồng bào lấy hầm chống bom để làm nhà, dựng tạm thanh tre, lán
nứa che nắng, che mưa. Địch càn thì tháo dỡ địch rút đi thì che lại. Mọi công việc sản
xuất đều phải làm vào ban đêm.
Tháng 1 năm 1969, Hội nông dân giải phóng miền Nam Việt Nam tiến hành
Đại hội nhằm tổng kết phong trào đấu tranh của nhân dân trong 8 năm, đồng thời

21


quán triệt yêu cầu và nhiệm vụ mới của nông dân trong đấu tranh chống kế hoạch
“bình định cấp tốc” của địch. Đại hội đã đề ra bốn nội dung công tác lớn của Hội là:
- Tiếp tục vận động nông dân đấu tranh giành quyền làm chủ, bảo vệ và xây
dựng chính quyền cách mạng.
- Đẩy mạnh nhiệm vụ sản xuất, chiến đấu, phát triển du kích chiến tranh, đẩy
mạnh 3 mũi đấu tranh: chính trị, binh vận, vũ trang để phá tan kế hoạch “bình định”,
lấn chiếm của địch.
- Giữ vững quyền làm chủ về ruộng đất, thực hiện các quyền dân sinh, dân
chủ, đẩy mạnh sản xuất phục vụ tiền tuyến.
- Đối với vùng tạm chiếm, cần vận động kết nạp từ 20-30% hộ nông dân vào
Hội, vùng tranh chấp từ 40-50%, vùng mới giải phóng từ 50-60%, vùng giải phóng cũ
từ 60-80%.
Là tổ chức chính trị của giai cấp nông dân miền Nam, Hội nông dân giải
phóng miền Nam đã kế thừa truyền thống cách mạng của “Hội nông dân phản đế”,
“Hội nông dân cứu quốc” và trở nên dày dạn kinh nghiệm trong cuộc kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước. Những kinh nghiệm hoạt động phong phú của các cấp Hội
nông dân giải phóng miền Nam và những hy sinh to lớn của cán bộ Hội trong suốt

nông dân cho một giai cấp nào khác.
Muốn kháng chiến kiến quốc thành công, muốn độc lập thống nhất thật sự ắt
phải dựa vào lực lượng của nông dân. Đồng bào nông dân sẵn có lực lượng to lớn,
sẵn có lòng nồng nàn yêu nước, sẵn có chí khí kiên quyết đấu tranh và hy sinh.
Muốn đánh thắng thì quân và dân ta phải ăn no. Muốn ăn no thì phải có nhiều
lương thực. Muốn nhiều lương thực thì phải cày cấy nhiều. Phải chịu khó bón phân,
làm cỏ“Thực túc thì binh cường”.Chiến sĩ ở trước mặt trận thi đua giết giặc lập công
thì đồng bào ở hậu phương phải thi đua tăng gia sản xuất.
Ruộng rẫy là chiến trường,
Cuốc cày là vũ khí,
Nhà nông là chiến sĩ,
Hậu phương thi đua với tiền phương.
Đa số dân ta là nông dân. Mọi việc đều phải dựa vào nông dân. Nông dân giác
ngộ hăng hái thì kháng chiến mới mau thắng lợi, kiến quốc mới chóng thành công,
nông dân mới được giải phóng…
Giai cấp nông dân: Nông dân là tối đại đa số trong nhân dân nước ta, là bộ
phận chủ chốt trong đội ngũ cách mạng, là giai cấp đóng góp nhiều nhất trong kháng
chiến… Nông dân lao động đã thành cột trụ của chính quyền ở nông thôn, do đó mà
nhân dân chủ chuyên chính và công nông liên minh trở nên vững chắc.

23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status