BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Ngô Thị Bích Thuận
PHÂN TÍCH KINH TẾ TRANG TRẠI
TỈNH ĐỒNG NAI TỪ GÓC ĐỘ ĐỊA LÍ
KINH TẾ-XÃ HỘI
Chuyên ngành: Địa Lí Học ( Trừ địa lí tự nhiên )
Mã số: 60 31 95
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS ĐẶNG VĂN PHAN
Thành phố Hồ Chí Minh - 2010
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Mail: - 0972.162.399
LỜI CÁM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tác giả xin chân thành gởi lời cám ơn đến Ban
Giám Hiệu, phòng KHCN và SĐH, các Thầy, Cô giáo trường ĐHSP TPHCM đã tạo điều kiện
thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Tác giả xin chân thành cám ơn PGS.TS Đặng Văn Phan, người đã tận tình hướng dẫn tác
giả trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Qua đây, tác giả cũng trân trọng gởi lời cám ơn đến các cơ quan: Sở nông nghiệp và phát
triển nông thôn Đồng Nai; Sở tài nguyên môi trường Tỉnh Đồng Nai; Ủy ban nhân dân Tỉnh
: tổ chức lãnh thổ nông nghiệp
KHKT
: khoa học kĩ thuật
HTX
: hợp tác xã
GDP
: Gross dometic products (Tổng sản phẩm quốc nội)
ĐBSCL
: đồng bằng sông cửu long
SXKD
: sản xuất kinh doanh
GTGT
: giá trị gia tăng
CNH-HĐH : công nghiệp hóa- hiện đại hóa
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
lí của những chủ trang trại…Nhìn chung, các trang trại ở nơi đây chủ yếu là của tư nhân với quy mô
nhỏ, chưa ứng dụng nhiều KHKT vào sản xuất nên năng xuất chưa cao, việc tiêu thụ nông sản khó
khăn và thường bị thương lái ép giá do chưa nắm được nhu cầu của thị trường…
Trước vai trò to lớn của kinh tế trang trại trong việc góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn
và nâng cao mức sống cho người dân ở Tỉnh nhà, vì thế tôi muốn đề cập đến vấn đề “ Phân tích kinh
tế trang trại ở Tỉnh Đồng Nai từ góc độ địa lý kinh tế- xã hội” để mong tìm hiểu một lần nữa thực
trạng phát triển của kinh tế trang trại tại Đồng Nai cũng như chú trọng đến tìm hiểu hiệu quả sản
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Mail: - 0972.162.399
xuất của các trang trại từ đó tìm ra các giải pháp giúp kinh tế trang trại phát triển nhanh, hiện đại và
thực sự trở thành con đường thoát nghèo cho người lao động nơi đây.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích:
Tìm hiểu, nghiên cứu hiện trạng phát triển kinh tế trang trại ở Tỉnh Đồng Nai
Phân tích hiệu quả sản xuất của trang trại thông qua việc phân tích một số loại hình trang trại
từ đó đề xuất những giải pháp nhằm làm tăng thêm nữa hiệu quả sản xuất của các trang trại tại địa
phương này.
Đề tài sẽ là nguồn tư liệu cho các sinh viên khi tìm hiểu về vấn đề kinh tế trang trại; là tài liệu
tham khảo cho các giáo viên phổ thông khi tìm hiểu về tổ chức lãnh thổ nông nghiệp trong chương
trình địa lí 12, hoặc tìm hiểu về
địa lí địa phương.
Nhiệm vụ
Tìm hiểu các vấn đề cơ sở lý luận về kinh tế trang trại. Sự phát triển kinh tế trang trại ở Việt
Nam từ kinh tế hộ gia đình chuyển sang sản xuất hàng hóa
quy mô lớn.
Phân tích thực trạng phát triển và phân bố kinh tế trang trại ở tỉnh Đồng Nai (tiến hành thu
thập số liệu, thực địa, điều tra mẫu một số trang trại…)
Sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính bội để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của
lãnh thổ riêng. Áp dụng quan điểm tổng hợp lãnh thổ cho phép xem xét các yếu tố trong mối quan
hệ tác động qua lại lẫn nhau, phát hiện ra quy luận phát triển, các nhân tố trội tác động đến sự phát
triển của trang trại.
Quan điểm lịch sử - viễn cảnh
Những tác động của sự phát triển kinh tế, xã hội đến sự hình thành và phát triển của trang trại
là quá trình lâu dài. Hiện trạng phát triển và xu hướng phát triển là cơ sở để đề xuất các giải pháp
quản lí và phát triển các trang trại trong tương lai.
Quan điểm hệ thống:
Dựa vào quan điểm này, chúng ta phải xem xét sự phát triển kinh tế trang trại trong mối quan
hệ với các loại hình tổ chức sản xuất KT-XH khác.Vì kinh tế trang trại chỉ là một bộ phận của hệ
thống các ngành kinh tế quốc dân.
Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững:
Sự phát triển của bất cứ lĩnh vực gì cũng cần hướng tới sự phát triển bền vững, nghĩa là sự phát
triển đòi hỏi sự cân bằng cả về ba mặt: kinh tế, xã hội và môi trường. Chính vì thế, kinh tế trang
trại- một trong những hình thức tổ chức sản xuất của tổ chức lãnh thổ nông nghiệp, không chỉ chú ý
đến khía cạnh kinh tế mà cũng cần phải chú ý đến yếu tố môi trường để đảm bảo sự ổn định, lâu dài
và bền vững.
4.2. Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp tổng hợp thống kê, phân tích, so sánh
Việc thu thập, tổng hợp số liệu sẽ là những dẫn chứng, minh họa cho vấn đề nghiên cứu. Vì
vây tổng hợp thống kê và phân tích, so sánh số liệu thống kê để làm rõ thực trạng phát triển kinh tế
trang trại trên một lãnh thổ, làm cơ sở để đưa ra những giải pháp phát triển sau này.
Phương pháp toán học- dự báo:
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Mail: - 0972.162.399
Cho phép tổng hợp hóa, đơn giản hóa các thông số hoạt động, các mối liên hệ đa dạng phức tạp
của các đối tượng nghiên cứu địa lý kinh tế xã hội trong thực tiễn, làm nổi bật các đặc trưng cơ bản,
quy luật vận động của đối tượng
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Mail: - 0972.162.399
hiệu quả sản xuất của một số loại hình Trang Trại chủ yếu tại Tỉnh Đồng Nai, từ đó giúp xác định
các chính sách ưu tiên để phát triển kinh tế trang trại nơi đây.
Dưới đây là một số đề tài, bài viết, tài liệu đã là nguồn tư liệu quý giá cho Tác giả trong quá
trình nghiên cứu đề tài:
- Nguyễn Viết Thịnh (chủ nhiệm đề tài), 2009, Kinh tế trang trại ở Việt Nam phân tích từ góc
độ địa lý kinh tế và sinh thái
- Nguyễn Khắc Ngân (chủ nhiệm đề tài), 2000, Phát triển kinh tế trang trại ở nông thôn thành
phố Hồ Chí Minh
- Hoàng Đắc Bằng, 2004, Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở Đồng Nai,
khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP.TPHCM
- Nguyễn Võ Hoàng ( luận văn thạc sĩ kinh tế), 2007, Kinh tế trang trại Tỉnh Bình Phước- Thực
trạng và giải pháp phát triển
- Nguyễn Yên Tri (chủ biên), 2001, Địa chí Đồng Nai- tập II, địa lí, NXB tổng hợp Đồng Nai
- Thái Doãn Mười (chủ biên), 2001, Địa chí Đồng Nai- tập IV,Kinh tế, NXB tổng hợp Đồng
Nai.
- Vũ Tuyên Hoàng, 2003, Xây dựng mô hình nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, tham
luận tại hội nghị toàn thể ISG thường niên
- Đề án phát triển kinh tế trang trại tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2010-2015, 2009, Ủy ban nhân
dân tỉnh Đồng Nai
Ngoài ra, còn một số bài báo viết về sự phát triển của các trang trại trồng cây ăn quả, trang trại
chăn nuôi…của một số huyện ở Tỉnh Đồng Nai:
- Đồng Nai- kinh tế trang trại đang khởi sắc, Trung tâm tin học bộ NN và PTNT, báo KHKT
nông nghiệp, 2/2008
- Tác giả Nguyễn Thương, Vấn đề tích tụ đất làm trang trại, theo báo Đồng Nai, 2008
- Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn, số 112 năm 2008
6. Bố cục của đềtài
“Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp, nông thôn, chủ
yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng
trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông lâm thủy
sản.”
1.2. Những đặc trưng cơ bản của kinh tế trang trại
Là một trong những hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh nông nghiệp chứ không phải là một
thành phần kinh tế riêng biệt nào khác ngoài kinh tế hộ.
Căn bản dựa trên nền tảng kinh tế hộ, mang bản chất kinh tế hộ, được thể hiện trên ba khía
cạnh:
+ Người quản lí chính là chủ hộ, hoặc là một thành viên có năng lực được sự tín nhiệm của
hộ.
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Mail: - 0972.162.399
+ Trang trại có thể sử dụng lao động làm thuê nhưng lao động của gia đình vẫn là yếu tố trụ
cột.
+ Có thể tích tụ, tập trung thêm đất nhưng không vượt quá khả năng sử dụng có hiệu quả của
trang trại.
Con đường hình thành và phát triển cơ bản của trang trại là tái sản xuất mở rộng không phải
chủ yếu bằng phát triển chiều rộng mà chủ yếu phát triển chiều sâu- bởi yếu tố đầu tư vốn, khoa học
kĩ thuật công nghệ, bởi năng lực quản trị sản xuất kinh doanh được tăng cường
Sản xuất hàng hóa lớn (cả tổng giá trị sản phẩm hàng hóa và tỉ suất hàng hóa ) gắn với thị
trường và chấp nhận cạnh tranh để phát triển.
Trong Thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT/BNN-TCTK ngày 23/6/2000 của Bộ Nông Nghiệp
và phát triển Nông thôn và Tổng cục Thống kê hướng dẫn tiêu chí để xác định kinh tế trang trại có
xác định rõ các đặc trưng chủ yếu của kinh tế trang trại như sau:
-
Mail: - 0972.162.399
+ Trang trại trồng hồ tiêu từ 0,5 ha trở lên
* Trang trại lâm nghiệp:
+ Từ 10 ha trở lên đối với các vùng trong cả nước
Đối với trang trại chăn nuôi:
* Chăn nuôi đại gia súc: trâu, bò…
+ Chăn nuôi sinh sản, lấy sữa có thường xuyên từ 10 con trở lên
+ Chăn nuôi lấy thịt có thường xuyên từ 50 con trở lên
* Chăn nuôi gia súc: lợn, dê…
+ Chăn nuôi sinh sản có thường xuyên đối với lợn 20 con trở lên, đối với dê, cừu từ 100 con
trở lên
+ Chăn nuôi lợn thịt có thường xuyên từ 100 con trở lên, dê thịt từ 200 con trở lên
* Chăn nuôi gia cầm: gà, vịt, ngan ngỗng…có thường xuyên từ 2000 con trở lên (không tính số
con dưới 7 ngày tuổi).
Trang trại nuôi trồng thủy sản:
Diện tích mặt nước để nuôi trồng thủy sản có từ 2 ha trở lên (riêng đối với nuôi tôm thịt theo
kiểu công nghiệp từ 1 ha trở lên)
Đối với các loại sản phẩm nông,lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản có tính chất đặc thù: trồng
hoa, cây cảnh, trồng nấm, nuôi ong, giống thủy sản và thủy đặc sản, thì tiêu chí xác định là giá trị
sản lượng hàng hóa.
Tại thông tư số 74/2003/TT-BNN ngày 4/7/2003 của Bộ Nông Nghiệp và phát triển nông thôn,
đã sửa đổi một số chổ về tiêu chí định lượng để xác định là kinh tế trang trại:
- Một hộ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản được xác định là kinh tế
trang trại phải đạt một trong hai tiêu chí về giá trị sản lượng hàng hóa, dịch vụ bình quân một năm,
hoặc về quy mô sản xuất của trang trại được qui định ở Thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT/BNNTCTK.
- Đối với hộ sản xuất, kinh doanh tổng hợp có nhiều loại sản phẩm hàng hóa của các ngành
nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản thì tiêu chí để xác định trang trại là giá trị sản lượng hàng hóa,
dịch vụ bình quân một năm.
qua việc cơ giới hóa trong sản xuất (phần lớn có sử dụng máy móc, kĩ thuật)
- Mức độ quan hệ với thị trường: Mục đích sản xuất của kinh tế trang trại chủ yếu để bán nên
mức độ quan hệ với thị trường rất nhiều; Trong khi đó, tính tự cấp tự túc trong sản xuất làm giảm
khả năng mở rộng quan hệ với thị trường bên ngoài của kinh tế nông hộ.
- Khả năng tích lũy tái sản xuất: Với qui mô nhỏ hơn và lợi nhuận ít hơn, khả năng tích lũy tái
sản xuất của kinh tế hộ không nhiều. Ngược lại, với lợi thế hơn hẳn về diện tích và thu nhập thì khả
năng tích lũy tái sản xuất của trang trại cao hơn rất nhiều.
1.4 Tầm quan trọng của sự hình thành kinh tế trang trại
1.4.1 Tính tất yếu của sự hình thành kinh tế trang trại
Tích tụ và tập trung sản xuất là quy luật của quá trình chuyển từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn.
Khi mà tư liệu sản xuất, vốn, sức lao động được tập trung trên một quy mô nhất định thì mới có điều
kiện phát triển phân công lao động cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Nhờ đó những ưu thế của phân công
lao động mới được tập trung triệt để, sản xuất hàng hóa do vậy phát triển.
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Mail: - 0972.162.399
Xuất phát từ yêu cầu của quy luật quan hệ sản xuất phải thích ứng với tính chất và trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất. Khi tiềm lực cơ sở vật chất kĩ thuật cho nông nghiệp, lao động có
trình độ phát triển, hộ gia đình có năng lực tổ chức sản xuất kinh doanh giỏi cũng dần xuất hiện.
Những điều này đòi hỏi quan hệ và quy mô sở hữu, cách thức, công cụ và biện pháp quản lí sản xuất
cũng phải thay đổi.
Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nông thôn theo hướng sản xuất công nghiệp.
Xuất phát từ nội dung vận hành cơ chế thị trường (trong cơ chế thị trường, ai cung cấp được
nhiều hàng hóa với chất lượng cao, giá cả thấp, sẽ chiếm lĩnh thị trường và tăng khả năng cạnh
tranh. Trang trại, với ưu thế về quy mô hợp lí, vừa có điều kiện tăng năng xuất lao động, tăng năng
xuất cây trồng, khai thác hiệu quả lợi thế so sánh của từng vùng lãnh thổ để sản xuất ra sản phẩm
hàng loạt với chi phí thấp).
Tóm lại: Kinh tế trang trại là mô hình tổ chức sản xuất kinh doanh mà sự xuất hiện, vận hành của
nó nảy sinh từ những yêu cầu khách quan của quá trình phát triển cơ chế thị trường trong nông
các tiềm năng của mỗi vùng lãnh thổ, đẩy mạnh sự phát triển của kinh tế nông nghiệp và kinh tế
nông thôn.
Về mặt xã hội: Phát triển kinh tế trang trại sẽ góp phần phát triển hộ giàu ở Nông thôn, tạo
việc làm và tăng thu nhập cho người lao động. Điều này rất có ý nghĩa trong việc giải quyết vấn đề
lao động và việc làm, một trong những vấn đề bức xúc của nông nghiệp nông thôn. Mặt khác, phát
triển kinh tế trang trại sẽ góp phần phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn và tạo tấm gương cho hộ
nông dân về cách tổ chức quản lí sản xuất kinh doanh, góp phần tích cực vào việc giải quyết các vấn
đề xã hội và đổi mới bộ mặt nông thôn nước ta.
Về mặt môi trường: Do sản xuất kinh doanh tự chủ và vì lợi ích thiết thực lâu dài của mình
mà các chủ trang trại luôn có ý thức khai thác hợp lí và quan tâm bảo vệ các yếu tố môi trường,
trước hết là trong không gian sinh thái trang trại và sau nữa là trong phạm vi từng vùng.
Những tác dụng tích cực đó rất phù hợp với các chủ trương của nhà nước:
“ Chuyển nền nông nghiệp nước ta còn mang tính tự cấp, tự túc ở nhiều vùng sang sản xuất
hàng hóa” (Nghị quyết 10 Bộ Chính trị, khóa VI ngày 5-4-1988)
“ Khai thác đồi núi trọc, bãi bồi ven biển, nuôi trồng thủy sản, đánh bắt ngoài khơi, xây dựng
các nông – lâm – ngư trại với quy mô thích hợp” (Nghị quyết Hội Nghị Trung ương lần thứ 5 khóa
VIII)
“ Phát triển những mô hình trang trại nông nghiệp, phổ biến là trang trại gia đình, thực chất là
các hộ sản xuất hàng hóa với quy mô lớn hơn, sử dụng lao động, tiền vốn của gia đình là chủ yếu để
sản xuất kinh doanh có hiệu quả”
( Nghị quyết Bộ Chính Trị số 6, khóa VIII ngày 10-11-1998)
Như vậy, nếu trong những năm qua, kinh tế nông hộ là đơn vị kinh tế tự chủ ra đời và hoạt
động trong đổi mới và đã góp phần khẳng định sự thành công của đổi mới, thì từ nay những hộ nông
dân sản xuất giỏi nói chung và trang trại nói riêng sẽ đi tiên phong trong tiến trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa và sản xuất hàng hóa lớn trong công nghiệp, nông thôn nước ta.
1.5 Điều kiện để hình thành và phát triển kinh tế trang trại
Điều kiện cần:
- Có nền kinh tế đã hoặc đang thực hiện công nghiệp hóa
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Mail: - 0972.162.399
hàng hóa.
Thời kì tư bản: Với đặc trưng là kinh tế hàng hóa phát triển đã phá vỡ các quan hệ kinh tế
hiện vật là chủ yếu thời phong kiến, tính chất dân chủ trong kinh tế và trình độ công cụ sản xuất
phát triển như vũ bão qua hai cuộc cách mạng kĩ thuật, hình thức tổ chức kinh tế thời kì này rất đa
dạng, xoay quanh trục chính là kinh tế hàng hóa vận hành theo cơ chế thị trường và chịu sự tác động
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Mail: - 0972.162.399
của qui luật giá trị. Trong nông nghiệp, xuất hiện kinh tế trang trại và đồn điền tư bản với hai đặc
trưng cơ bản là:
- Về mục đích sản xuất được chuyển thẳng sang sản xuất hàng hóa thay cho sản xuất
khép kín trước đây. Nếu trước đây sản xuất chủ yếu cho nhu cầu tiêu dùng trực tiếp của nhà sản
xuất, thì nay cơ chế thị trường và qui luật giá trị đã buộc các nhà sản xuất nông sản hàng hóa muốn
tồn tại và phát triển thì phải sản xuất theo yêu cầu thị trường, được thị trường chấp nhận mới có thu
nhập và tăng lợi nhuận, có tích lũy.
- Về sở hữu tư liệu sản xuất trước đây chủ yếu thuộc về nhà Vua, đến chủ nghĩa tư bản
chủ yếu thuộc tư nhân được nhà nước tư bản công nhận.
Thời kì Xã Hội Chủ Nghĩa: Cũng với đặc trưng cơ bản là sản xuất hàng hóa phát triển ngày
càng cao cùng những tiến bộ vượt bậc về khoa học, công nghệ. Loài người càng cần đến sự phát
triển kinh tế trang trại như hình thức chủ yếu trong phát triển nông nghiệp.
Có thể tóm tắt lịch sử và điều kiện ra đời của loại hình kinh tế trang trại trên thế giới như sau:
Lịch sử và điều kiện ra đời của loại hình kinh tế trang trại ở các
nước tư bản phát triển Châu âu và Bắc Mĩ:
Khi kinh tế hàng hóa bắt đầu xuất hiện và phát triển ở Châu Âu thông qua
cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất và các cuộc cách mạng tư sản diễn ra lần lượt ở các nước.
Điển hình nhất, là cuộc Cách Mạng Tư Sản Pháp năm 1789 đã kéo theo sự xuất hiện của hình thức
kinh tế trang trại đầu tiên trên thế giới thay thế cho kiểu sản xuất nhỏ của tầng lớp tiểu nông và hình
thức điền trang, thái ấp của các thế lực phong kiến quí tộc đương thời.
Ngay từ buổi ra đời đầu tiên của loại hình kinh tế mới mẻ này trong nông nghiệp của nước
số lượng sản phẩm nông sản mà kinh tế trang trại của nước Mỹ làm ra chiếm tới 41% dự trữ lúa mì
và 87 % dự trữ ngô trên thế giới.
Loại hình kinh tế trang trại theo thời gian đã nhanh chóng lan sang các nước tư bản và các
nước thuộc địa khác, và dần trở thành một hình thức kinh
tế tiến bộ trên thế giới.
Chính K.Mark ở tác phẩm cuối cùng ông đã viết : “Ngay ở nước Anh với nền công nghiệp phát
triển, hình thức sản xuất nông nghiệp có lợi nhất không phải là các xí nghiệp nông nghiệp qui mô
lớn mà là các trang trại gia đình.”
Lịch sử và điều kiện ra đời của loại hình kinh tế trang trại ở các
nước Châu Á
Ở các nước Châu á, nơi mà dường như không diễn ra cuộc cách mạng công nghiệp hay cách
mạng tư sản lớn nào, mà hầu hết chịu tác động từ những thành quả phát triển kinh tế, xã hội của các
nước phương Tây. Chủ nghĩa phong kiến mà điển hình là phong kiến Trung Quốc đã khống chế gần
như toàn bộ phương thức sản xuất châu á, vào những năm mà châu Âu dồn dập nổ ra những cuộc
cách mạng công nghiệp và cách mạng tư sản, mở đường cho sức sản xuất phát triển. Cuối thế kỉ
XIX đầu thế kỉ XX, chủ nghĩa tư bản phương Tây đã bành trướng thế lực của mình vào Châu Á
bằng nhiều con đường, làm thay đổi dần phương thức sản xuất, nảy sinh mầm mống kinh tế hàng
hóa ở Châu á.
Sau chiến tranh thế giới thứ 2 (1939-1945), nhiều nước Châu á đã tiến hành cải cách ruộng
đất. Chính điều này đã tác động trực tiếp đến quá trình hình thành và phát triển các trang trại gia
đình theo hướng sản xuất hàng hóa. Nhưng điều kiện thực tế ở Châu Á đất hẹp, người đông, bình
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Mail: - 0972.162.399
quân đất canh tác chỉ có 0,15 ha/ người, nên các trang trại ở Châu Á chủ yếu là trang trại gia đình
với qui mô đất đai bình quân trên dưới 1 ha. Bên cạnh đó vẫn tồn tại hình thức đồn điền của tư bản
nước ngoài hoặc các quý tộc trong nước có quy mô lớn hàng trăm ha.
Khi xã hội chủ nghĩa ra đời, một số nước như: Liên xô, Tiệp khắc, Ba lan, Trung Quốc, Việt
Nam…tổ chức thêm nông trang, nông lâm trường quốc doanh, sản xuất và giao nộp sản phẩm theo
Mail: - 0972.162.399
một tầng lớp đông đảo nông dân không có ruộng đất. Chính vì vậy, có người đã đặt ra vấn đề: Nếu
phát triển kinh tế trang trại, mà dẫn đến tình trạng nông dân bán ruộng, cầm cố ruộng thì sẽ không
hoàn thành được mục tiêu cao cả “người cày có ruộng” mà cuộc cách mạng dân tộc dân chủ đã đặt
ra.
- Vấn đề sử dụng lao động trong trang trại: Nếu như kinh tế tiểu nông dựa trên lao động
chủ yếu của gia đình, thì các trang trại chủ yếu phải dựa trên lao động thuê (chừng nào mà trang trại
chủ yếu dựa vào lao động của gia đình, thì khó có thể nói đến một qui mô sản xuất lớn và tính chất
hàng hóa cao). Như vậy là trong phần lớn các trang trại, một phần là lao động thường xuyên, một
phần là lao động mùa vụ (trong thời gian thu hoạch, lao động thời vụ nhiều hơn hẳn lao động
thường xuyên của trang trại). Chính vì vậy, nhiều người e ngại rằng sẽ xuất hiện tình trạng bóc lột
sức lao động của người làm thuê, và có thể sẽ càng làm gia tăng sự phân hóa giàu nghèo.
- Vấn đề sở hữu: Chủ trang trại khác với chủ một nông hộ, họ có thể là một nhà đầu tư
vào nông nghiệp; trong nguồn gốc gia đình, họ có thể không trưởng thành từ một gia đình nông dân.
Nhưng họ đã mua, thuê lại trang trại để kinh doanh. Trên thế giới, có nhiều trường hợp chủ trang
trại sở hữu toàn bộ tư liệu sản xuất (đất đai, máy móc, chuồng trại, kho bãi…); Có trường hợp chủ
trang trại chỉ sở hữu một phần tư liệu sản xuất và một phần phải đi thuê của người khác; Cũng có
trường hợp chủ trang trại phải đi thuê toàn bộ tư liệu sản xuất (kể cả đất đai, diện tích mặt nước) của
một trang trại hoặc của nhà nước để sản xuất kinh doanh. Sự thay đổi các quan hệ sở hữu là cơ sở
dẫn đến sự thay đổi quan hệ sản xuất ở nông thôn. Đây là vấn đề nhạy cảm, đã từng gây tranh cãi ở
nước ta.
Dù đã từng không được khuyến khích phát triển, nhưng không thể phủ nhận những lợi ích mà
loại hình kinh tế này mang lại cho nền nông nghiệp nói chung và người nông dân nói riêng. Bên
cạnh đó, trang trại còn là loại hình rất phù hợp với nền kinh tế hàng hóa mà chúng ta đang hướng
tới. Chính vì thế, dù chậm nhưng kinh tế trang trại vẫn phát triển, đặc biệt là sau đổi mới khi có
nhiều chính sách hỗ trợ của nhà nước.
2.2.1 Cơ sở pháp lý để phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam
Những chủ trương, chính sách, nghị quyết của Đảng đã tạo tiền đề, cơ sỏ pháp lí quan trọng
2-2-2000, Nghị quyết xác định quan điểm vê kinh tế trang trại:
Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp, nông thôn,
chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực
trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông
lâm thủy sản.
Phát triển kinh tế trang trại nhằm khai thác, sử dụng có hiệu quả đất đai, vốn kĩ thuật, kinh
nghiệm quản lí góp phần phát triển nông nghiệp bền vững; phân bố lại lao động, dân cư, tạo việc
làm, tăng thu nhập; khuyến khích làm giàu đi đôi với xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới.
Quá trình chuyển dịch, tích tụ ruộng đất, hình thành các trang trại gắn liền với quá trình
phân công lại lao động ở nông thôn, từng bước chuyển dịch lao động nông nghiệp sang làm các
ngành phi nông nghiệp, thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa trong nông nghiệp và nông thôn.
Nghị quyết đã tạo cơ sở pháp lí quan trọng để phát triển kinh tế trang trại trong nông thôn Việt
nam và từ đó các bộ ngành có những chính sách bước đầu về khuyến khích kinh tế trang trại, đặc
biệt là các chính sách cụ thể về đất đai, ưu đãi về thuế, về đầu tư tín dụng, về sử dụng lao động, về
tiêu thụ sản phẩm, về bảo hộ các tài sản đã đầu tư của trang trại. Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Mail: - 0972.162.399
Nông Thôn đã có thông tư số 61/2000/TT/BNN-KH (6/6/2000) hướng dẫn lập quy hoạch phát triển
kinh tế trang trại.
Đứng ở góc độ địa lí, thì các văn bản hướng dẫn quy hoạch sản xuất có ý nghĩa quan trọng, vì
nhờ có qui hoạch mà kinh tế trang trại sẽ thực sự là một bộ phận của kinh tế nông thôn, phát triển
bền vững, tránh tự phát; Nhờ có qui hoạch mới có thể hình thành các vùng chuyên canh qui mô lớn,
tận dụng được các lợi thế so sánh của các địa phương về tài nguyên thiên nhiên và các điều kiện
kinh tế xã hội, gắn nông nghiệp với công nghiệp chế biến và dịch vụ; Có qui hoạch thì các vấn đề về
bảo vệ môi trường sẽ có điều kiện giải quyết tốt và có hệ thống.
Một số chính sách lâu dài của Nhà nước đối với kinh tế trang trại:
Nhà nước khuyến khích phát triển và bảo hộ kinh tế trang trại. Các hộ gia đình, cá nhân đầu
tư phát triển kinh tế trang trại được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử
định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp.
Hộ gia đình trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản sống tại địa phương
có nhu cầu và khả năng sử dụng đất để mở rộng sản xuất thì ngoài phần đất đã được giao trong hạn
mức của địa phương còn được ủy ban nhân dân xã xét cho thuê đất để phát triển trang trại.
Hộ gia đình phi nông nghiệp có nguyện vọng và khả năng tạo dựng cơ nghiệp lâu dài từ sản
xuất nông, lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản được
ủy ban nhân dân xã cho thuê đất để làm kinh tế trang trại.
Hộ gia đình, cá nhân ở địa phương khác nếu có nguyện vọng lập nghiệp lâu dài, có vốn đầu tư
để phát triển trang trại, được ủy ban nhân dân xã sở tại cho thuê đất.
Diện tích đất được giao, được thuê phụ thuộc vào quỹ đất của địa phương và
khả năng sản xuất kinh doanh của chủ trang trại.
Hộ gia đình, cá nhân được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thuê hoặc thuê lại quyền
sử dụng đất của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác để phát triển trang trại theo quy định của
pháp luật. Người nhận chuyển nhượng hoặc thuê quyền sử dụng đất hợp pháp có các quyền và nghĩa
vụ theo quy định của pháp luật về đất đai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Hộ gia đình, cá nhân đã được giao hoặc nhận chuyển nhượng, quyền sử dụng đất vượt quá hạn
mức sử dụng đất trước ngày 01 tháng 01 năm 1999 để phát triển trang trại, thì được tiếp tục sử dụng
và chuyển sang thuê phần diện tích đất vượt hạn mức, theo quy định của pháp luật về đất đai và
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nhưng chưa được giao, chưa được thuê, hoặc đã nhận chuyển
nhượng quyền sử dụng đất nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận trước ngày ban hành Nghị quyết
này, nếu không có tranh chấp, sử dụng đất đúng mục đích, thì được xem xét để giao hoặc cho thuê
đất và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ủy ban nhân dân các Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm chỉ đạo cơ quan
địa chính khẩn trương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, để các chủ trang trại yên tâm đầu tư
phát triển sản xuất.
* Chính sách thuế
Để khuyến khích và tạo điều kiện hộ gia đình, cá nhân đầu tư phát triển kinh tế trang trại, nhất
là ở những vùng đất trống đồi núi trọc, bãi bồi, đầm phá ven biển, thực hiện miễn thuế thu nhập cho
trang trại với thời gian tối đa theo Nghị định số 51/1999/NĐ-CP, ngày 8 tháng 7 năm 1999 của
từ vốn vay để bảo đảm tiền vay theo quy định tại Nghị định số 178/1999/NĐ-CP, ngày 29 tháng 12
năm 1999 của Chính phủ về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng.
* Chính sách lao động
Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện hỗ trợ để các chủ trang trại mở rộng quy mô sản
xuất kinh doanh, tạo được nhiều việc làm cho lao động nông thôn, ưu tiên sử dụng lao động của hộ
nông dân không đất, thiếu đất sản xuất nông nghiệp, hộ nghèo thiếu việc làm. Chủ trang trại được
thuê lao động không hạn chế về số lượng, trả công lao động trên cơ sở thoả thuận với người lao
động theo quy định của pháp luật về lao động. Chủ trang trại phải trang bị đồ dùng bảo hộ lao động
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Mail: - 0972.162.399
theo từng loại nghề cho người lao động và có trách nhiệm với người lao động khi gặp rủi ro, tai nạn,
ốm đau trong thời gian làm việc theo hợp đồng lao động.
Đối với địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, chủ trang trại được ưu tiên vay
vốn thuộc chương trình giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo để tạo việc làm cho lao động tại
chỗ; Thu hút lao động ở các vùng đông dân cư đến phát triển sản xuất.
Nhà nước có kế hoạch hỗ trợ đào tạo nghề nghiệp cho lao động làm trong trang trại bằng
nhiều hình thức tập huấn, bồi dưỡng ngắn hạn.
* Chính sách khoa học, công nghệ, môi trường.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng với các địa phương có quy hoạch, kế hoạch xây
dựng các công trình thuỷ lợi để tạo nguồn nước cho phát triển sản xuất. Chủ trang trại tự bỏ vốn
hoặc vay từ nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước để xây dựng hệ thống dẫn nước
phục vụ sản xuất và sinh hoạt trong trang trại. Các chủ trang trại xây dựng các công trình thuỷ lợi,
sử dụng nước mặt, nước ngầm trong phạm vi trang trại theo quy hoạch không phải nộp thuế tài nguyên
nước.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
quy hoạch đầu tư phát triển các vườn ươm giống cây nông nghiệp, cây lâm nghiệp và các cơ sở sản
xuất con giống (chăn nuôi, thuỷ sản) hoặc hỗ trợ một số trang trại có điều kiện sản xuất giống để
bảo đảm đủ giống tốt, giống có chất lượng cao cung cấp cho các trang trại và cho hộ nông dân trong
Tóm lại: Có thể nói, với các Nghị quyết của Chính phủ bằng các Thông tư hướng dẫn cụ thể thì các
rào cản đối với kinh tế trang trại từng bước được gỡ bỏ, trước hết là đối với các yếu tố đầu vào ( đất
đai, vốn, lao động) của sản xuất Nông, Lâm ngư. Nhiều chính sách mở khác về tiêu thụ sản phẩm
nông nghiệp, thủy sản, về khuyến nông, khuyến ngư, chuyển giao công nghệ cũng được triển khai.
Với việc thừa nhận vai trò của kinh tế trang trại và có các chính sách khuyến khích kinh tế trang trại
phát triển, Nhà nước đã chủ động tác động vào việc thay đổi quan hệ sản xuất ở nông thôn. Dù
những tác động đó có gây ra một số vấn đề về mặt xã hội, nhưng đã được quan tâm giải quyết từng
bước, chủ yếu ở phạm vi các địa phương.
2.2.2 Quá trình phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam
Là quá trình tương đối phức tạp và trải qua nhiều thời kì
2.2.2.1. Thời kì phong kiến
Nông nghiệp nước ta tồn tại một số hình thức tổ chức sản xuất là điền trang và thái ấp. Đất
đai do các cuộc chiến tranh phong kiến dành được đều là của Vua. Khi đất nước thanh bình,Vua ban
sắc phong quan lại kèm theo việc ban thưởng bổng lộc bằng đất đai. Lối sản xuất của điền trang,
thái ấp là khép kín, phát canh thu tô, kinh tế nông nghiệp chưa phát triển nên kinh tế trang trại thời
kì này chưa có.
Đến thời nhà Nguyễn và thời thực dân Pháp thống trị, do có kinh nghiệm tổ chức sản xuất
nông nghiệp theo kiểu trang trại ở chính quốc, thực dân Pháp tổ chức ra hình thức trang trại tư bản
tư nhân (đồn điền) để bóc lột công nhân rẻ mạt ở nước ta. Nếu xem xét ở góc độ kinh tế thì kinh tế
trang trại tư bản tư nhân kiểu đồn điền của thực dân pháp cũng đã góp phần thúc đẩy nền nông
nghiệp hàng hóa và thị trường nông sản Việt Nam phát triển. Tuy nhiên, sản phẩm hàng hóa do các
đồn điền này tạo ra đã được đưa ra thị trường thế giới và đưa về Pháp, đem lại lợi nhuận kếch xù
cho giới tư bản Pháp đương thời.
2.2.2.2 Thời kì xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Mail: - 0972.162.399