ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP: Đánh giá hiện trạng hoạt động của các trang trại và đề xuất mô hình
trang trại sinh thái tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Từ xa xưa, con người đã biết làm nông nghiệp để phục vụ cho đời sống sinh hoạt của
gia đình. Xã hội ngày càng phát triển, làm nông nghiệp không chỉ phục vụ cho lợi
ích cá nhân, mà sản phẩm nông nghiệp còn trở thành một hàng hoá trao đổi trong đời
sống. Quy mô sản xuất nông nghiệp ngày càng phát triển, nó không ngừng ở quy mô
hộ gia đình mà còn phát triển thành một quy mô lớn hơn đó là hình thức sản xuất
kinh tế trang trại, cung cấp một lượng lớn hàng hoá cho xã hội.
Trang trại ngày càng phát triển, những vấn đề phát sinh càng lớn như: Chất thải trong
chăn nuôi (chất thải rắn, mùi hôi hôi phát sinh…) đây là một trong những nguyên
nhân lớn gây ô nhiễm môi trường, việc lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật, phân bón,
thuốc trừ sâu nhằm tăng năng suất cây trồng, nhưng ngược lại gây ảnh hưởng không
nhỏ đến sức khoẻ con người về việc nông sản bị nhiễm độc từ việc sử dụng quá mức
các thành phần trên, và làm ô nhiễm môi sinh.
Nông nghiệp ngày càng phát triển cùng với sự tiến bộ khoa học kỹ thuật như là tạo ra
những ưu thế lai, những nguồn gen tốt. Do đó, đứng trước những vấn đề nan giải trên
đòi hỏi phải có một nền nông nghiệp phát triển bền vững tạo ra các sản phẩm nông
sản sạch đem lại hiệu quả kinh tế, mà còn đảm bảo về mặt môi trường và sức khoẻ
con người.
Dựa vào những yếu tố trên, tôi đã chọn tên đề tài đồ án tốt nghiệp là: “Đánh giá
hiện trạng hoạt động của các trang trại và đề xuất mô hình trang trại sinh thái tại
huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai” nhằm vận dụng các kiến thức đã học vào thực
tế và góp phần cải thiện chất lượng môi trường cho các trang trại ở Việt Nam trong
quá trình cạnh tranh với các sản phẩm ngoại nhập và tăng cường tính cạnh tranh
trong xuất khẩu.
SVTH : PHAN NGỌC HIỀN GVHD: GS-TSKH LÊ HUY BÁ
MSSV : 02DHMT076 – LỚP: 02MT1 Th.S THÁI VĂN NAM
1
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP: Đánh giá hiện trạng hoạt động của các trang trại và đề xuất mô hình
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP: Đánh giá hiện trạng hoạt động của các trang trại và đề xuất mô hình
trang trại sinh thái tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
- Hướng tới một nền nông ngiệp bền vững thân thiện với môi sinh là xây dựng nên
mô hình trang trại sinh thái.
1.3.2 Đối tượng
Các trang trại đang hoạt động ở điạ bàn Huyện. Từ đây nếu có khả quan, sẽ nhân
rộng mô hình ở các tỉnh thành khác trong cả nước.
1.4 Tình hình nghiên cứu trong nước và thế giới
1.4.1 Trong nước
Việt Nam từ lâu đã biết đến mô hình “nuôi trồng sinh thái” mà ta quen gọi là “mô
hình VAC” (Vườn – Ao –Chuồng). Mô hình này là mô hình tiền thân của trang trại
sinh thái.
- Về cơ bản, mô hình VAC và mô hình trang trại sinh thái đều có các tiêu chí như
không dùng phân tổng hợp, hoá chất/thuốc, và dựa trên các nền vật chất hữu cơ như
phân gia súc, phụ phẩm nông nghiệp luân canh, kết hợp nuôi bằng thức ăn tự
nhiên…
- Vào cuối năm 1995, một nhà khoa học người Anh – tiến sĩ Thomas R. Preston đã
dưa ra sáng kiến thành lập trang trại sinh thái nhiệt đới ở Việt Nam. Nội dụng của
sáng kiến này là thành lập một trang trại mà nơi đó mọi chất thải đều đựơc tái sử
dụng, các chu trình sản xuất khép kín, giảm thiểu đầu ra ô nhiễm một cách tối đa,
giải quyết được các vấn đề về môi trường như phân gia súc, nước thải trong chăn
nuôi., tiết kiệm chi phí: thực ăn, phân bón cho đầu vào ở trang trại. Sáng kiến này
giúp cho nguời chủ trang trại không những về lợi ích kinh tế mà còn cả về mặt môi
trường.
- Vào cuối năm 1996, ý tưởng bắt đầu đi vào xây dựng và được gọi là “Trang Trại
Sinh Thái – ECOFARM”. Nhưng sau đó, kế hoạch dời địa đểm sang Campuchia vào
tháng 7 năm 1999.
- Và hiện nay, ở Việt Nam có rất ít mộ hình trang trại sinh thái đúng chuẩn mực.
SVTH : PHAN NGỌC HIỀN GVHD: GS-TSKH LÊ HUY BÁ
MSSV : 02DHMT076 – LỚP: 02MT1 Th.S THÁI VĂN NAM
4
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP: Đánh giá hiện trạng hoạt động của các trang trại và đề xuất mô hình
trang trại sinh thái tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
Mô hình kinh tế trang trại là một hoạt động kinh tế chủ lực của huyện Trảng
Bom hiện nay. Mô hình này càng được nhân rộng và phát triển, thì những vấn đề
phát sinh như lương chất thải quá lớn không có biện pháp xử lý , việc sử dụng quá
mức phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu sẽ là những rào cản lớn
cho sản phẩm của trang trại gia nhập vào thị trường, và tiến xa hơn nữa là xuất khẩu
ra nước ngoài. Cho nên việc xây dựng và quy họach trang trại hiện tại theo hướng
trang trại sinh thái là rất cần thiết.
Mô hình trang trại sinh thái: cung cấp một lượng hàng hoá nông sản cho thị
trường, đảm bảo một lợi nhuận vững chắc, luôn thiếp thu những giải pháp khoa học
kỹ thuật mới, để giải quyết các vần đề môi trường trong chăn nuôi. Chu trình khép
kín trong trang trại sinh thái tiết kiệm chi phí đầu vào (thức ăn, phân bón ) cho sản
xuất.
Tuy nhiên, bên cạnh hướng quy hoạch và xây dựng trang trại hiện tại theo
hướng sinh thái thì vẫn có nhiểu hướng khác, nhưng ở đây chúng tôi muốn nhấn
mạnh tới quan điểm của đề tài này là thân thiện với thiên nhiên, chú trọng đến sức
khỏe người tiêu dùng nhưng cũng không quên tới lợi ích kinh tế của nhà sản xuất.
Để thực hiện đồ án này, trước tiên phải xem xét đến hiện trạng môi trường ,
kinh nghiệm của các hộ dân đã thành công, kinh nghiệm của các trang trại trên thế
giới. Để làm được điều này, tôi đã tiến hành điều tra thực địa và tìm kiếm các thông
tin về mô hình trang trại sinh thái của châu Âu,vấn đề của trang trại đang gặp phải,
để từ đó đề xuất một mô hình trang trại sinh thái thích hợp cho địa phương.
1.7 Nội dung nghiên cứu
• Biên hội và tổng hợp tài liệu
Thu thập tài liệu về vị trí địa lý, tình hình kinh tế xã hội, điều kiện tự nhiên,
các số liệu hiện trạng môi trường (quan trắc môi trường).
Hiện trạng hoạt động kinh tế và xã hội của huyện
SVTH : PHAN NGỌC HIỀN GVHD: GS-TSKH LÊ HUY BÁ
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP: Đánh giá hiện trạng hoạt động của các trang trại và đề xuất mô hình
trang trại sinh thái tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
- Mô hình trang trại sinh thái đuợc hình thành, ta có thể tiến xa hơn đến một loại hình
khác đó là du lịch sinh thái.
- Việc thành lập trang trại sinh thái cùng với công tác đánh giá vòng đời sản phẩm
LCA, đây có thể là bước đầu tiên trong quá trình đưa sản phẩm trang trại có một chỗ
đứng trong thị trường đảm bảo về chất lượng sản phẩm mà không tác động đến môi
trường (sản phẩm xanh – sản phẩm thân thiện với môi trường).
SVTH : PHAN NGỌC HIỀN GVHD: GS-TSKH LÊ HUY BÁ
MSSV : 02DHMT076 – LỚP: 02MT1 Th.S THÁI VĂN NAM
7
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP: Đánh giá hiện trạng hoạt động của các trang trại và đề xuất mô hình
trang trại sinh thái tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
CHƯƠNG 2: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ TÌNH HÌNH
KINH TẾ XÃ HỘI HUYỆN TRẢNG BOM,
TỈNH ĐỒNG NAI
2.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1 Vị trí địa lý: diện tích tự nhiên
Huyện Trảng Bom là một huyện trung du, phía Nam giáp huyện Long Thành, phía
Đông giáp huyện Thống Nhất, phía Tây giáp thành phố Biên Hoà, phía Bắc giáp
huyện Vĩnh Cữu.
- Tổng diện tích tự nhiên là 326.14 km
2
, chiếm 5.54% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh
SVTH : PHAN NGỌC HIỀN GVHD: GS-TSKH LÊ HUY BÁ
MSSV : 02DHMT076 – LỚP: 02MT1 Th.S THÁI VĂN NAM
8
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP: Đánh giá hiện trạng hoạt động của các trang trại và đề xuất mô hình
trang trại sinh thái tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
Hình 1: Bản đồ địa lý của huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai
biến phân bón và vật liệu xây dựng
Ưu thế về đặc thù tự nhiên là nhân tố quan trọng trong đinh hướng phát triển các loại
cây lâu năm, cây ngắn ngày và cây lương thực như: cao su, cà phê, tiêu, cây ăn quả,
điều, chôm chôm, sầu riêng, ngô, mía, bông và các loại đỗ, lúa nước.
2.2 Tình hình hoạt động kinh tế xã hội
2.2.1 Kinh tế
2.2.1.1 Nông – Lâm nghiệp – Thủy sản
- Diện tích đất nông nghiệp là 27.142 ha theo thống kê năm 2005.
- Giá trị sản xuất nông nghiệp chiếm 18.5% cơ cấu sản phẩm quốc nội, đạt 610.425
triệu đồng
SVTH : PHAN NGỌC HIỀN GVHD: GS-TSKH LÊ HUY BÁ
MSSV : 02DHMT076 – LỚP: 02MT1 Th.S THÁI VĂN NAM
10
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP: Đánh giá hiện trạng hoạt động của các trang trại và đề xuất mô hình
trang trại sinh thái tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
Bảng 1: Bảng thống kê sử dụng đất trong nông nghiệp năm 2005
ĐẤT DIỆN TÍCH (đơn vị: ha)
1. Đất sản xuất nông nghiệp
1.1 Đất trồng cây hàng năm
1.1.1 Đất trồng lúa
1.1.2 Đất cỏ dùng vào chăn nuôi
1.1.3 Đất trồng cây hàng năm khác
1.2 Đất trồng cây lâu năm
24.666
2. 8.850
3.303
4. 0
5.546
6. 15.816
7. Đất lâm nghiệp
MSSV : 02DHMT076 – LỚP: 02MT1 Th.S THÁI VĂN NAM
11
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP: Đánh giá hiện trạng hoạt động của các trang trại và đề xuất mô hình
trang trại sinh thái tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
Diện tích giao trồng cây hàng năm Ha 20.879
6.129
Tổng SL lương thực cây có hạt quy lúa Tấn 57.935
Tổng diện tích cây lâu năm Ha 13.917,3
Chăn nuôi
1. Tổng đàn heo
2. Tổng đàn trâu
3. Tổng đàn bò
4. Tổng đàn gia cầm
Con 204.634
304
4.270
1000 con 583,395
B. Giá trị sản xuất lâm nghiệp
8.231
C. Giá trị sản xuất thủy sản
25.595
1. Đánh bắt Triệu đồng 840
2. Nuôi trồng Triệu đồng 24.755
(Nguồn Niên giám thống kê năm 2005)
Nhận xét: giá trị sản xuất nông nghiệp đóng góp đáng kể cho kinh tế của Huyện.
2.2.1.2 Công nghiệp
- Huyện hiện nay có ba khu công nghiệp : Sông Mây, Bàu Xéo, Hố Nai
- Giá trị sản xuất công nghiệp đạt 1855430 triệu đồng , chiếm 59.5% tổng sản phẩm
quốc nội
SVTH : PHAN NGỌC HIỀN GVHD: GS-TSKH LÊ HUY BÁ
-Gỗ
-Giấy
-Hoá chất và sản phẩm từ hoá chất
-Cao su
-Chất khoáng phi kim loại
-Sản phẩm từ kim loại
-Sản xuất máy móc thiết bị điện
-Sản xuất Radio,Tivi, Thiết bị điện
-Sản xuất thiết bị vận tải
-Sản xuất sửa chữa phương tiện vận
tải khác
-Sản xuất giường, tủ, bàn ghế
9 84 6.490
235 1.694 298.900
9 894 36.445
126 1.703 28.697
15 15.913 546.380
58 1.169 40.295
11 6.3 25.289
6 292 52.726
9 1.708 116.589
31 489 33.198
112 1.009 44.168
4 582 93.588
1 74 30.949
46 3.891 227.215
26 1.635 163.004
118 4.916 122.497
(Nguồn Niên giám thống kê năm 2005)
2.2.2 Xã hội
4 Xã Sông Trầu 8 43,13 12.498 290 6322 6378
5 Xã Đồi 61 4 25,71 7.232 281 3658 3688
6 Xã An Viễn 6 22,12 4.345 196 2918 2215
7 Xã Bàu Hàm 4 22,48 10.171 452 5144 5185
8 Xã Sông Thao 3 26,29 9.030 343 4567 4604
9 Xã Hưng Thịnh 3 17,06 7.864 461 3979 4010
10 Xã Đông Hòa 2 11,43 10.038 878 5087 5111
11 Xã Trung Hòa 2 15,11 10.306 628 5223 5246
12 Xã Tây Hòa 3 14,8 10.299 696 5219 5245
13 Xã Quảng Tiến 4 7,17 10.481 1.462 5289 5359
14 Xã Bình Minh 3 14,47 16.665 1.152 8411 8518
15 Xã Giang Điền 5 8,93 4.528 507 2285 2314
16 Xã Bắc Sơn 5 24,35 19.302 793 9745 9867
17 Xã Hố Nai 3 4 18,91 19.887 1.052 10042 10167
( Nguồn Niên giám thống kê năm
2005)
Nhận xét: là một huyện mới tách ra từ Huyện Thống Nhất,với một Huyện mới nên
mật độ dân số chưa cao.Nhưng với những tiềm năng về điều kiện tự nhiên và tài
nguyên thiên nhiên, Trảng Bom có tiềm năng phát triển kinh tế nông nghiệp rất lớn.
2.2.2.2 Lao động và phân bố lao động trong các ngành
Trảng Bom là Huyện lao động tập trung vào nông nghiệp là chính , số lao động tham
gia vào công việc quản lý nhà nước và công ngiệp chiếm số ít.
SVTH : PHAN NGỌC HIỀN GVHD: GS-TSKH LÊ HUY BÁ
MSSV : 02DHMT076 – LỚP: 02MT1 Th.S THÁI VĂN NAM
14
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP: Đánh giá hiện trạng hoạt động của các trang trại và đề xuất mô hình
trang trại sinh thái tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
Qua bảng cân đối lao động cho thấy lực lượng lao động của huyện chiếm hơn 50%
dân số toàn huyện, đậy là một lực lượng lao động dồi dào, rất thích hợp cho một nền
kinh tế đa năng cả nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ.
2005)
Bảng 6: Lao động xã hội làm việc trong các ngành KTQD năm 2005
CHỈ TIÊU NĂM 2005
A. Nông – lâm nghiệp 33.841
B. Thủy sản 398
C. Công nghiệp khai thác mỏ 168
D. Công nghiệp chế biến 23.610
E. Sản xuất phân phối điện 128
F. Xây dựng 4.112
SVTH : PHAN NGỌC HIỀN GVHD: GS-TSKH LÊ HUY BÁ
MSSV : 02DHMT076 – LỚP: 02MT1 Th.S THÁI VĂN NAM
15
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP: Đánh giá hiện trạng hoạt động của các trang trại và đề xuất mô hình
trang trại sinh thái tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
G. Thương nghiệp sưả chữa 10.425
H. Khách sạn – nhà hàng 2.580
I. Vận tải kho bãi – TT liên lạc 2.144
J. Tài chính tín dụng 98
K. Hoạt động KH – CN 17
L. Các hoạt động liên quan 130
M . Quản lý nhà nước 675
N. Giáo dục – Đào tạo 1.868
O. Y tế và hoạt động cứu trợ 444
P. Hoạt động văn hoá thể thao 108
Q. Các hoạt động Đảng, đoàn thê’ 285
T. Hoạt động cá nhân và cộng đồng 766
U. Hoạt động làm thuê 340
V. Hoạt động của các tổ chức 8
( Nguồn Niên giám thống kê năm 2005)
SVTH : PHAN NGỌC HIỀN GVHD: GS-TSKH LÊ HUY BÁ
SVTH : PHAN NGỌC HIỀN GVHD: GS-TSKH LÊ HUY BÁ
MSSV : 02DHMT076 – LỚP: 02MT1 Th.S THÁI VĂN NAM
17
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP: Đánh giá hiện trạng hoạt động của các trang trại và đề xuất mô hình
trang trại sinh thái tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
kinh tế, trang trại chịu sự chi phối của nền kinh tế thị trường, tuân theo quy luật cung
cầu và chấp nhận cạnh tranh.
Một số đặc điểm của kinh tế trang trại là:
Đây là dạng kinh tế hộ gia đình dựa trên đất, vốn, lao động để tạo ra khối
lượng lớn hàng hóa.
Người nông dân có vốn và gia đình họ làm việc trong trang trại của mình.
Trang trại có quy mô lớn gắn chặt với kinh tế thị trường, có nhu cầu cao về
công nghệ, đặc biệt là công nghệ chế biến, tiếp thị, năng suất và giảm giá thành.
Trang trại cần phải trang bị phương tiện và công nghệ hiện đại.
Hiện nay nhiều dạng kinh tế trang trại cùng tồn tại, trong đó phổ biến nhất là
kinh tế hộ nông dân.
3.2 Trang trại sinh thái theo hướng nông nghiệp bền vững
- Phát triển bền vững là cải thiện chất lượng cuộc sống con người đang sinh sống
trong khả năng chịu đựng của hệ sinh thái duy trì cuộc sống đó.
- Nông ngiệp bền vững là một khái niệm được xây dựng và phát triển bởi hai tác giả
người Uc là Bill Mollison và David Holmgren nhằm mục tiêu chống ô nhiễm đất,
nước và không khí của trái đất do các hệ thống công nghiệp và nông nghiệp; chống
mất mát các loài thực vật và động vật; chống suy giảm các tài nguyên thiên nhiên
không thể tái sinh và chống các hệ thống kinh tế có tác động phá hoại…Nông nghiệp
bền vững là một nền nông nghiệp duy trì cơ sở tài nguyên thiên nhiên, tiếp tục phát
triển bằng cách nâng cao nhận thức, cải thiện tổ chức, hiệu năng kỹ thuật và công
bằng xã hội.
- Nông nghiệp bền vững thường được gọi là sinh thái nông nghiệp. Nông nghiệp
sinh thái bền vững là sản xuất dựa vào tài nguyên thiên nhiên; muốn sản xuất cho
năng suất bền vững thì phái duy trì/ khôi phục các giá trị của tài nguyên ở mức ổn
SVTH : PHAN NGỌC HIỀN GVHD: GS-TSKH LÊ HUY BÁ
MSSV : 02DHMT076 – LỚP: 02MT1 Th.S THÁI VĂN NAM
19
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP: Đánh giá hiện trạng hoạt động của các trang trại và đề xuất mô hình
trang trại sinh thái tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
trang trại, trong đó nêu rõ: một số hộ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng
thủy sản được xác định là trang trại phải đạt cả hai tiêu chí định lượng như sau :
Một là, giá trị sản lượng hàng hóa và giá trị bình quân một năm đạt từ 40
ttriệu đồng trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và ven biển miền Trung, từ 50 triệu đồng
trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên.
Hai là, quy mô sản xuất phải tương đối lớn và vượt trội so với kinh tế hộ nông
dân tương ứng với từng ngành sản xuất và từng vùng kinh tế.
Đối với trang trại trồng trọt: trang trại trồng cây hàng năm từ 2 ha trở lên đối với
các tỉnh phía Bắc và ven biển miền Trung, từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam
và Tây Nguyên. Trang trại trồng cây lâu năm từ 3 ha trở lên với các tỉnh phía Bắc và
ven biển miền Trung, từ 5 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên.
Trang trại trồng hồ tiêu từ 0,5 ha trở lên.
Trang trại chăn nuôi: chăn nuôi gia súc lớn (trâu, bò), chăn nuôi sinh sản, để lấy
sữa: thường xuyên có từ 10 con trở lên; để lấy thịt: thường xuyên có từ 50 con trở
lên. Chăn nuôi gia súc (lợn, dê): chăn nuôi lợn sinh sản: thường xuyên có từ 20 con
trở lên; với dê và cừu: thường xuyên có từ 100 con trở lên. Chăn nuôi lợn thịt: có
thường xuyên 50 con trở lên. Chăn nuôi gia cầm (gà, vịt, ngang, ngỗng): có thường
xuyên 2.000 con trở lên (không có tính số đầu con dưới 7 ngày tuổi).
Trang trại nuôi trồng thủy sản: diện tích mặt nước để nuôi trồng thủy sản có từ 2
ha trở lên (riêng đối với nuôi tôm thịt theo kiểu công nghiệp từ 1 ha trở lên).
Đối với các loại sản phẩm nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản có tính chất đặc thù
như trồng hoa, cây cảnh, trồng nấm, nuôi ong và giống thủy, đặc sản thì tính theo
tiêu chí một (lấy giá trị hàng hóa để đánh giá).
Theo TS. Trương Thị Minh Sâm, những tiêu thức chủ yếu để phân biệt kinh tế trang
trại với các loại hình kinh tế khác trong nông, lâm, ngư nghiệp như sau:
càng nhiều nông sản hàng hóa càng tốt, lợi nhuận nhiều càng hay. Muốn vậy, chủ
trang trại khu vực phía Nam phải là người có khả năng lớn hơn các chủ trang trại
khác về vốn, có năng lực tổ chức. Sản xuất kinh doanh hơn, và có trình độ
chuyên môn kỹ thuật cao hơn chủ kinh tế hộ trong việc làm giàu chính đáng từ
sản xuất kinh doanh.
SVTH : PHAN NGỌC HIỀN GVHD: GS-TSKH LÊ HUY BÁ
MSSV : 02DHMT076 – LỚP: 02MT1 Th.S THÁI VĂN NAM
21
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP: Đánh giá hiện trạng hoạt động của các trang trại và đề xuất mô hình
trang trại sinh thái tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
- Trình độ và hiệu quả sản xuất kinh doanh của kinh tế trang trại cao hơn kinh tế hộ.
Nhiều trang trại khu vực phía Nam đã đầu tư hoặc tự giác hợp tác giữa các trang
trại với nhau để đầu tư mua sắm máy móc thiết bị dùng cho việc chế biến sơ bộ
nông sản, cung cấp cho thị trường tiêu thụ nông sản sản phẩm hàng hóa, hoặc
cung cấp nguyên liệu bán thành phẩm cho công nghiệp chế biến xuất khẩu.
Một số trang trại ở khu vực phía Nam có xu hướng chuyển hẳn sang ngành chế biến
nông sản thực phẩm suất khẩu vì thế họ đã chuyển nhượng hẳn, hoặc cho thuê lại
đất đai trong trại của mình. Điều đó tạo sự phân công và hợp tác mới trong lao
động xã hội ở nông thôn, đẩy mạnh việc chuyên môn hóa và làm tăng giá trị
nông sản hàng hóa do trang trại tạo ra, làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghịêp nông thôn khu vực phía Nam theo lối tiến bộ.
Nhìn chung, kinh tế trang trại phía Nam tuy mới xuất hiện nhưng đã và đang đóng
góp đáng kể vào việc phát huy nội lực , khơi dậy tiềm năng lao động, đất đai tiền
vốn trong dân, góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa nông
nghiệp nông thôn.
3.3.2 Thực trạng quy mô
Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì cả nước ta hiện nay
có đến 113.000 trang trại lớn nhỏ. Bình quân mỗi trang trại có từ 3-5 ha. Trang
trại của nước ta được phát triển theo quy mô vừa và nhỏ là chủ yếu, đây là loại
hình thích hợp nhất của kinh tế trang trại. Xu thế chung của thế giới hiện nay cũng
Dieldrin, Parathion là một thảm họa của môi trường sống. Hiện nay, việc phun
thuốc trừ sâu để bảo vệ hoa quả đang bị người tiêu dùng lên án; đã có nhiều vụ ngộ
độc do ăn phải thức ăn nhiễm thuốc trừ sâu; sử dụng kích thích tăng trọng đã làm
giảm uy tín các sản phẩm nông nghiệp trên thị trường.
SVTH : PHAN NGỌC HIỀN GVHD: GS-TSKH LÊ HUY BÁ
MSSV : 02DHMT076 – LỚP: 02MT1 Th.S THÁI VĂN NAM
23
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP: Đánh giá hiện trạng hoạt động của các trang trại và đề xuất mô hình
trang trại sinh thái tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
Bảng 7: Tình hình trang trại trong cả nước 1999
STT Vùng Tổng số
trang
trại
Vốn bình
quân/trang
trại (triệu
đồng)
Thu nhập
bình
quân/trang
trại (triệu
đồng)
Thuê lao
động
thường
(người)
1 Cả nước 55.852 93,96 37,98 0,80
2 Đồng Bằng Sông
Hồng
1.488 122,40 42,46 1,70
không phái là phát minh mới mà là một khái niệm mang tính khái quát cao, thể hiện
bản chất của nghề nông nghiệp: tiết kiệm và khái thác triệt để. Nếu để ý kỹ đâu đâu
cũng xuất hiện mô hình VAC, có điều mỗi nơi tổ chức khác nhau. Trong nông
nghiệp khi hội đủ các yếu tố tài nguyên thì việc áp dụng mô hình VAC là hợp lý và
được bảo hộ nhiều nhất.
- Tuy nhiên, chúng ta phải nhìn nhận rằng mô hình VAC chỉ là “cái khung” chứ chưa
phải là hoàn chỉnh, áp dụng ngay và thành công ngay. Đa số những người nông dân
nghĩ rằng là trang trại và xây dựng mô hình VAC là một. Chính như vậy nên việc
làm trang trại không thành công, và nó chỉ dừng ở mức độ tự cung tự cấp, đủ trang
trải, không thể tiến lên sản xuất lớn được chứ chưa nói đến khả năng chuyển đổi mô
hình.
- Chúng ta xây dựng trang trại dựa trên điều kiện tài nguyên khác nhau và xây dựng
phải dựa trên cái khung là mô hình VAC, và để phát huy hiệu quả cao chúng ta phải
nâng cao mức độ hổ trợ liên hoàn của các thành phần, khả năng sản xuất của từng
SVTH : PHAN NGỌC HIỀN GVHD: GS-TSKH LÊ HUY BÁ
MSSV : 02DHMT076 – LỚP: 02MT1 Th.S THÁI VĂN NAM
25