Bộ Giáo dục và Đào tạo
bộ tư pháp
trường đại học luật hà nội
đỗ thị kim tiên
Pháp luật về quyền bình đẳng
giữa các doanh nghiệp ở Việt Nam
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số
: 62 38 01 07
luận án tiến sĩ luật học
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Dương Đăng Huệ
Hà nội 2014
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình
nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu nêu trong
luận án là trung thực. Những kết luận khoa
học của luận án chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận án
Các công trình nghiên cứu đề cập giải pháp bảo đảm quyền bình đẳng
23
giữa các doanh nghiệp
1.4.
Đánh giá chung tình hình nghiên cứu các công trình liên quan đến
28
luận án
Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG GIỮA
32
CÁC DOANH NGHIỆP
2.1.
Quan niệm về bình đẳng giữa các doanh nghiệp
32
2.2.
Quan niệm về quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp
45
74
3.2.
Thực trạng thực thi pháp luật về quyền bình đẳng giữa các doanh
106
nghiệp ở Việt Nam
3.3.
Nguyên nhân gây bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp ở Việt Nam
116
3.4.
Hệ quả của bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp
123
Chương 4: CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN
128
BÌNH ĐẲNG GIỮA CÁC DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM
: Bình đẳng giữa các doanh nghiệp
CBXH
: Công bằng xã hội
DNNN
: Doanh nghiệp nhà nước
DNTN
: Doanh nghiệp tư nhân
ĐKDN
: Đăng ký doanh nghiệp
ĐKKD
: Đăng ký kinh doanh
KTTT
: Kinh tế thị trường
TNHH
: Trách nhiệm hữu hạn
DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu
Tên hình
Trang
Mô phỏng các mối quan hệ tạo ra bình đẳng hoặc bất
39
hình
2.1
BĐGCDN
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài nghiên cứu
Doanh nghiệp là một trong những yếu tố cấu thành của mọi hệ thống kinh
tế. Trong nền kinh tế quốc dân, doanh nghiệp là chủ thể cơ bản của thị trường, có vị
trí, vai trò đặc biệt quan trọng. Doanh nghiệp đóng góp chủ yếu cho ngân sách nhà
nước, bổ sung nguồn dự trữ quốc gia và khai thác nâng cao giá trị của tài nguyên thiên
nhiên. Ở Việt Nam, khi thừa nhận phát triển kinh tế nhiều thành phần, doanh nghiệp
chính là hoạt động sống của các thành phần kinh tế, tạo ra tăng trưởng. Với hoạt
động sản xuất, kinh doanh đa dạng, doanh nghiệp có mặt trong nhiều ngành, nghề,
nền KTTT không muộn hơn năm 2019, đáp ứng yêu cầu hội nhập, Việt Nam cần
phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế và hoàn thiện thể chế kinh tế theo hướng tuân thủ
các quy luật thị trường, đảm bảo môi trường đầu tư, kinh doanh bình đẳng cho
doanh nghiệp. Cùng với điều này, trong các đàm phán Hiệp định đối tác kinh tế
chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) cũng coi quyền BĐGCDN là vấn đề cần
được bảo đảm.
Trong thực tế, quan điểm về bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, giữa
các doanh nghiệp đã được Đảng và Nhà nước quan tâm từ Đại hội Đảng lần thứ VI
(1986), được triển khai trong Hiến pháp 1992 và trong các đạo luật. Chính phủ cũng
đã phê duyệt Đề án 1715/2009/QĐ-TTg ngày 26/10/2009 nhằm đổi mới quản lý nhà
nước đối với các doanh nghiệp theo hướng không phân biệt hình thức sở hữu. Tuy
nhiên, đi ngược với mục tiêu của nhà nước, trên thực tế, bất BĐGCDN không giảm
mà đang có xu hướng gia tăng, với tính chất ngày càng đa dạng và phức tạp. Vẫn
tồn tại nhiều sự phân biệt, đối xử doanh nghiệp ngay từ khi gia nhập thị trường,
trong quá trình kinh doanh và trong giải thể, phá sản doanh nghiệp. Các DNNN
kinh doanh độc quyền trong nhiều lĩnh vực, vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc thị
trường. Một số tập đoàn kinh tế nhà nước được ưu tiên, bảo lãnh, khoanh nợ, giãn
nợ, xóa nợ. Có những DNNN kinh doanh thua lỗ được sáp nhập vào tổng công ty
nhà nước, giao trách nhiệm cứu vớt cho các thành viên khác mà không bị phá sản.
Việc tiếp cận các dịch vụ công, nguồn vốn ưu đãi của Chính phủ, tiếp cận nguồn tài
nguyên, đất đai của DNNN có nhiều thuận lợi, trong khi các doanh nghiệp thuộc
kinh tế tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) còn tiếp tục gặp phải
những rào cản về điều kiện kinh doanh, vay vốn, thuê đất,... Không chỉ tồn tại
những bất bình đẳng do chính sách của nhà nước tạo ra, thực trạng các doanh
nghiệp cạnh tranh không lành mạnh, kinh doanh hàng giả, hàng nhái, hàng lậu, trốn
3
thuế đang ngày càng gia tăng, vượt khỏi tầm kiểm soát của nhà nước cũng tạo ra bất
4
+ Luận án nghiên cứu pháp luật về quyền BĐGCDN ở Việt Nam chỉ áp
dụng đối với các doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp 2005, không bao gồm các
chủ thể kinh doanh khác (hợp tác xã hay hộ kinh doanh cá thể,...)
+ Luận án nghiên cứu quyền BDDGCDN gắn với quá trình: (i) thành lập
doanh nghiệp; (ii) hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; và (iii) trong giải thể,
phá sản doanh nghiệp.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là cung cấp các luận cứ khoa học cho việc
hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền BĐGCDN ở Việt Nam.
Nhiệm vụ của luận án là:
- Phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận về bình đẳng, BĐGCDN, quyền
BĐGCDN và đánh giá ý nghĩa của việc bảo đảm quyền BĐGCDN. Luận án cũng
đồng thời đánh giá vai trò của pháp luật trong việc bảo đảm quyền BĐGCDN và
xác định các yếu tố chi phối quyền BĐGCDN.
- Rà soát hệ thống pháp luật Việt Nam, đưa ra những đánh giá khách quan
về ưu điểm và hạn chế của của pháp luật quy định về quyền BĐGCDN.
- Thu thập thông tin, tài liệu về thực tiễn áp dụng pháp luật về quyền
BĐGCDN ở Việt Nam, trên cơ sở đó đánh giá những mặt đạt được và hạn chế. Từ
đó xác định các nguyên nhân cơ bản tạo ra bất BĐGCDN và hệ quả của nó.
- Đưa ra các giải pháp tổng thể nhằm hoàn thiện nội dung pháp luật về
quyền BĐGCDN và hoàn thiện thiết chế bảo đảm quyền BĐGCDN ở Việt Nam.
4. Cơ sở lý luận và giả thuyết khoa học
4.1. Cơ sở lý luận nghiên cứu đề tài
Luận án nghiên cứu pháp luật về quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp ở
Việt Nam trên cơ sở vận dụng phương pháp duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính
sách, pháp luật của nhà nước về công bằng, bình đẳng, về nhà nước pháp quyền, về
Câu hỏi nghiên cứu 3
- Tại sao lại phải đặt vấn đề BĐGCDN? và tại sao phải bảo đảm quyền BĐGCDN?
- Giả thuyết nghiên cứu: Tự do kinh doanh, tự do cạnh tranh và BĐGCDN
là nguyên tắc của thị trường, là cơ sở để vận hành quy luật cạnh tranh, tạo động lực
phát triển kinh tế.
6
- Dự kiến kết quả nghiên cứu: Chứng minh mối liên hệ giữa bảo đảm quyền
BĐGCDN với hoàn thiện thể chế thị trường, cạnh tranh bình đẳng. Đồng thời đánh
giá được ý nghĩa của việc bảo đảm quyền BĐGCDN.
Câu hỏi nghiên cứu 4
- Thực tế có tình trạng bất BĐGCDN ở Việt Nam hay không?
- Giả thuyết nghiên cứu: Có tình trạng bất BĐGCDN ở Việt Nam, để lại
những hậu quả tiêu cực đối với kinh tế, xã hội.
- Dự kiến kết quả nghiên cứu: Rà soát, đánh giá pháp luật và quá trình thực
thi pháp luật để chứng minh có sự tồn tại của bất BĐGCDN ở Việt Nam.
Câu hỏi nghiên cứu 5
- Nguyên nhân nào gây ra bất BĐGCDN ở Việt Nam hiện nay?
- Giả thuyết nghiên cứu: Có các quy định pháp luật mang tính phân biệt đối
xử doanh nghiệp và quá trình thực thi vi phạm quyền BĐGCDN bắt nguồn từ
những nguyên nhân sâu xa khác nhau.
- Dự kiến kết quả kiến cứu: Luận án chỉ rõ những quy định pháp luật tạo ra
bất BĐGCDN và các nguyên nhân gây ra bất BĐGCDN.
Câu hỏi nghiên cứu 6
- Những giải pháp nào có thể đem lại hiệu quả cho việc bảo đảm quyền
BĐGCDN ở Việt Nam?
- Giả thuyết nghiên cứu: Hoàn thiện chế định pháp luật về quyền BĐGCDN
và bảo đảm thiết chế thực thi pháp luật về quyền BĐGCDN có thể giúp cho các
được hiểu là sự phù hợp và tương xứng giữa cái đóng góp và cống hiến của cá nhân
cho xã hội với cái mà cá nhân thụ hưởng và nhận lại từ xã hội xét về tất cả các
khía cạnh". Để làm rõ hơn, tác giả viết: "Công bằng xã hội dù được thực hiện
trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng vẫn phải đảm bảo nguyên tắc cân bằng, tương
xứng giữa nghĩa vụ và quyền lợi, cống hiến và hưởng thụ". CBXH là công bằng
trong mọi lĩnh vực: chính trị, pháp lý, kinh tế, văn hóa, xã hội,...". Thực hiện công
bằng xã hội về mặt kinh tế thể hiện ở cả khâu phân phối tư liệu sản xuất và khâu
phân phối kết quả sản xuất, thành quả về đầu tư phát triển kinh tế". Như thế, tác
giả của hai công trình nghiên cứu trên đây đều thống nhất cho rằng, công bằng
không phải là cào bằng. Điều này cũng có nghĩa bình đẳng cũng không phải là luôn
bằng nhau mà phải đảm bảo sự tương thích về cả quyền, nghĩa vụ cũng như yêu cầu
quản lý nền kinh tế hiệu quả.
Khi xem xét ở khía cạnh địa vị pháp lý của các loại hình doanh nghiệp hiện
nay, nghiên cứu của Tô Nguyễn Cẩm Anh lại cho rằng: "Quy định không miễn trừ
nghĩa vụ về tài sản chỉ áp dụng riêng đối với doanh nghiệp tư nhân và thành viên
hợp danh của công ty hợp danh vô hình chung là một sự phân biệt đối xử giữa các
11
loại hình doanh nghiệp trong việc giải quyết thủ tục phá sản, tạo nên sự bất bình
đẳng về tương lai kinh tế của các chủ thể kinh doanh" [1, tr. 34]. Tuy nhiên, cho đến
nay chưa có quan điểm trái chiều hay đồng thuận nào được công bố chính thức về
nhận định này.
1.1.1.2. Các quan điểm về quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp
Quyền BĐGCDN ít được đề cập trong các công trình nghiên cứu. Ngay tại
các cơ sở đào tạo, giảng dạy về Luật thương mại cũng đề cập rất khái quát về quyền
BĐGCDN. Trong Giáo trình Luật thương mại của Trường Đại học Luật Hà Nội (2006),
các quyền của doanh nghiệp được nêu cụ thể. Các chương II, chương III và chương IV
của giáo trình nghiên cứu vào các nhóm đối tượng như: Doanh nghiệp tư nhân
doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. Sự hợp tác và cạnh tranh giữa
các doanh nghiệp chỉ có thể phát triển một cách lành mạnh trong điều kiện các doanh
nghiệp đều bình đẳng với nhau trước pháp luật. Quyền bình đẳng trước pháp luật giữa
DNTN với các doanh nghiệp khác trước hết thể hiện ngay trong việc thành lập doanh
nghiệp [83, tr. 145]. Giáo trình cũng chỉ ra rằng: "Các doanh nghiệp có quyền bình
đẳng trước pháp luật còn có nghĩa là các doanh nghiệp đều phải có nghĩa vụ đóng góp
vào ngân sách nhà nước thông qua việc đóng thuế". Giáo trình này cũng đề cập sâu
hơn để giải thích về mức thuế đóng góp giữa các doanh nghiệp ở mức độ khác nhau là
sự hợp lý. Điều này hoàn toàn phù hợp với các quan niệm về công bằng, bình đẳng.
Trong luận án tiến sĩ Luật học của tác giả Bùi Ngọc Cường (2002) về Xây
dựng và hoàn thiện pháp luật nhằm đảm bảo quyền tự do kinh doanh ở nước ta
không đề cập trực tiếp đến quyền BĐGCDN nhưng đã gợi mở về phương pháp tiếp
cận nghiên cứu các quyền của doanh nghiệp nói chung, trong đó có quyền tự do
kinh doanh, quyền BĐGCDN là các quyền được xây dựng trên nền tảng kinh tế,
chính trị - xã hội nhất định.
1.1.2. Những công trình liên quan đến xác định vai trò của pháp luật
bảo đảm quyền bình đẳng doanh nghiệp
Không có công trình nào được biết đến đã từng nhận định trực tiếp về vai
trò của pháp luật đối với việc bảo đảm quyền BĐGCDN. Tuy nhiên, ở khía cạnh
nhất định, về mặt lý luận, vai trò của pháp luật nói chung đã được viết khá kỹ trong
giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật (2003) của Trường Đại học Luật
Hà Nội. Giáo trình khẳng định pháp luật là phương tiện để các chủ thể trong xã hội
quyết định những hoạt động của tổ chức, cá nhân [82, tr. 377]. Đồng thời, với tư
13
cách là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội, pháp luật tác động và ảnh hưởng
mạnh mẽ tới các quan hệ xã hội. Giáo trình viết: "Sự tác động và ảnh hưởng của
pháp luật thể hiện ở nhiều mức độ khác nhau tùy thuộc vào từng loại đối tượng và
14
khác. Điều này cũng giống như tại các nước có nền KTTT phát triển như Anh, Đức,
Pháp,... đều là những quốc gia tạo ra được vị thế bình đẳng cho doanh nghiệp bằng
nhiều đạo luật và văn bản pháp luật khác nhau chứ không thể giải quyết được trong
một đạo luật [32, tr. 25].
Trong bài "Luật Đầu tư 2005 - một số vấn đề bất cập", ThS. Đào Trung
Kiên khẳng định, Luật Đầu tư 2005 vẫn còn có sự phân biệt đối xử giữa đầu tư
trong nước và đầu tư nước ngoài [27, tr. 39]. Theo đó, chỉ có các dự án đầu tư trong
nước mới có thể thuộc diện không phải làm thủ tục đăng ký đầu tư, còn các dự án
của nhà đầu tư nước ngoài bất luận quy mô vốn thế nào cũng phải làm thủ tục đăng
ký đầu tư hoặc thủ tục thẩm tra đầu tư. Bên cạnh đó, vẫn có sự phân biệt thủ tục đầu
tư gắn với tổ chức kinh tế giữa các nhà đầu tư trong nước với các nhà đầu tư nước
ngoài (Khoản 1 Điều 50). Trong tham luận tại một hội thảo khoa học, TS Phạm
Tuấn Khải cũng cho rằng: "Pháp luật đất đai hiện hành vẫn chưa thật sự tạo sân
chơi bình đẳng cho các nhà đầu tư nước ngoài và trong nước" [26, tr. 3]. Nghiên
cứu tại Luật Luật sư và Nghị định 87/2003/NĐ-CP cũng cho thấy quan điểm phân
biệt đối xử doanh nghiệp vẫn còn khi quy định tổ chức hành nghề luật sư nước
ngoài tại Việt Nam không được cử luật sư của mình tham gia tố tụng tại Tòa án.
Phân tích về Luật Doanh nghiệp 2005, TS. Vũ Đặng Hải Yến cho rằng, vẫn có bất
bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp trong việc huy động vốn thông qua phát
hành trái phiếu [94]. Tác giả đề xuất ý kiến cho phép công ty hợp danh được phát
hành trái phiếu vì hiện tại luật pháp quy định công ty này không có quyền phát hành
bất kỳ loại chứng khoán nào. Giải thích cho đề xuất trên đây, tác giả cho rằng:
"Công ty hợp danh không được phép phát hành bất cứ loại chứng khoán nào. Có
nghĩa là, so với các loại hình doanh nghiệp khác, công ty hợp danh có khả năng huy
động vốn thấp hơn rất nhiều" [94, tr. 75]. Công ty cổ phần được pháp luật cho phép
phát hành mọi chứng khoán và chỉ cấm công ty TNHH phát hành cổ phiếu, tức là
trong điều kiện nhất định công ty vẫn có thể phát hành trái phiếu để huy động vốn.
Công ty hợp danh là loại hình công ty đối nhân, sự thay đổi trong cơ cấu nhân sự sẽ
hình thức sở hữu và quy mô khác nhau thường bị đối xử không công bằng (xii). Từ
thực tế khảo sát, các tác giả cho rằng, những thiên kiến có hệ thống tồn tại trong
môi trường kinh doanh càng khiến cho các hoạt động kinh doanh không chính thức
gia tăng nhanh chóng và được các doanh nghiệp sử dụng như một công cụ nhằm
giành lại sự công bằng cho chính mình [75, tr. 89].
Tham luận của TS Nguyễn Minh Phong tại Hội thảo khoa học bàn về đổi
mới quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp không phân biệt hình thức sở hữu,
có nhận xét:
16
Sự phân định thành phần kinh tế trong suốt thời gian qua đã gây
ra nhiều định kiến xã hội nặng nề và dai dẳng dẫn đến phân biệt đối xử với
các thành phần kinh tế trong cả nhận thức, chính sách, tâm lý và hành động
thực tế, bất lợi cho sự đồng thuận xã hội và phát huy hiệu quả nội lực đất
nước, làm cho những tư tưởng lớn của Đảng coi các thành phần kinh tế
kinh doanh theo pháp luật đều là những bộ phận quan trọng cấu thành của
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cùng phát triển lâu dài,
hợp tác và cạnh tranh lành mạnh chưa thực sự đi vào cuộc sống [34, tr. 2].
Tác giả cho rằng, có tồn tại những định kiến về thành phần kinh tế và định
kiến về khu vực kinh tế tư nhân còn nặng nề. Nỗi ám ảnh về "thành phần" làm cho
doanh nghiệp và cả những người thực thi công vụ cũng e dè, ngần ngại mỗi khi phải
giải quyết những vấn đề liên quan đến lợi ích của khu vực kinh tế tư nhân" [34, tr. 2].
Cũng tại hội thảo này, TS Nguyễn Kế Tuấn nhận xét:
Trong điều kiện kinh tế thị trường, tạo môi trường kinh doanh
bình đẳng và thuận lợi cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh
tế khác nhau là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của nhà
nước trong quản lý kinh tế. Tuy nhiên, lâu nay trong thực tế vẫn tồn tại
tình trạng nhà nước phân biệt đối xử với các doanh nghiệp thuộc các
cũng không thể tham gia vào các hoạt động đấu giá hay đấu thầu này, cũng có nghĩa
đây là sân chơi riêng của DNNN [11, tr. 63].
Trong đề tài "Đánh giá ảnh hưởng qua lại của các hoạt động kinh doanh
không chính thức của các doanh nghiệp khu vực tư nhân và môi trường đầu tư kinh
doanh ở Việt Nam", PGS.TS Nguyễn Đình Tài đã phản ánh sự đa dạng của các hoạt
động kinh doanh không chính thức có thể tạo ra bất BĐGCDN. Tác giả khẳng định,
mặt trái của hoạt động kinh doanh không chính thức là: (i) Tạo ra sân chơi không
bình đẳng; (ii) Cản trở cạnh tranh lành mạnh và (iii) Gây khó khăn cho quản lý nhà
nước. Giải thích cho vấn đề hoạt động kinh doanh không chính thức tạo ra sân chơi
không bình đẳng, tác giả viết: "Nếu như mục đích của pháp luật là tạo ra một sân
chơi bình đẳng, thì các hoạt động kinh doanh không nằm trong khuôn khổ của pháp
luật lại tạo ra những lợi thế cạnh tranh không công bằng cho các doanh nghiệp
không tuân thủ luật pháp và làm sai lệch việc phân bổ nguồn lực" [78, tr. 52]. Tác giả
cũng cho rằng, thực tế là: "Một trong những hoạt động khá phổ biến trong khu vực tư
nhân là thông đồng với cán bộ thuế để bớt thuế, thậm chí tránh thuế. Điều này tạo ra
một lợi thế không chính đáng và dồn những doanh nghiệp nghiêm túc vào cuộc chơi
không bình đẳng [78]. Đồng thời, "bằng cách sử dụng lao động không hợp đồng,
nhiều doanh nghiệp đã tránh được những khoản chi lớn cho bảo hiểm xã hội, bảo
18
hiểm y tế và các khoản chi cho phúc lợi khác cho người lao động" [78, tr. 53]. Điều
đó đã đẩy các doanh nghiệp thực hiện nghiêm túc pháp luật lao động vào tình thế
bất lợi. Những hoạt động kinh doanh không chính thức được đề tài phản ánh thể
hiện dưới nhiều hình thức. Có trường hợp công chức nhà nước tham gia thành lập
doanh nghiệp hoặc tham gia góp vốn vào các công ty TNHH. Những công ty hoạt
động theo hình thức này thường là công ty bạn bè của các công chức, đôi khi cũng
có trường hợp là công ty của họ hàng, hoặc anh em họ hàng với họ. Cũng có trường
hợp các công chức nhà nước làm lá chắn đứng đằng sau các doanh nghiệp, bảo trợ
nước giải khát), các công ty sẽ tài trợ một khoản tiền khá lớn, trang bị biển hiệu, bàn
ghế, ly, cốc,... với điều kiện các của hàng này chỉ được phép bán sản phẩm của họ mà
không được có bất kỳ hình thức quảng cáo hoặc bán sản phẩm cùng loại nào khác.
Nếu vi phạm các cửa hàng phải bồi hoàn toàn bộ số tiền tài trợ. Như vậy, bề ngoài
hợp đồng là tự nguyện, nhưng bên trong lại mang tính áp đặt [90, tr. 119]. Điều đó có
nghĩa, chủ cửa hàng đã tiếp tay cho kiểu độc quyền trong kinh doanh của một số công
ty. Tác giả cho rằng, "nếu lan rộng tình trạng phong tỏa kiểu này các doanh nghiệp nhỏ
khó có cơ hội phát triển. Hành vi cạnh tranh không lành mạnh dưới dạng ép buộc trong
kinh doanh đối với các đại lý tiềm ẩn nguy cơ các doanh nghiệp nhỏ hoạt động
trong lĩnh vực này sẽ mất thị trường đầy tiềm năng của chính mình" [90, tr. 120].
Cuốn sách "The Private Sector in Development: Khu vực tư nhân trong quá
trình phát triển" của tác giả Michael U.Klein Bita Hadjimichael (may 2003) là một
nghiên cứu khác. Trong sách này, tác giả đã nghiên cứu về những chính sách hỗ trợ
của nhà nước đối với các DNTN. Tác giả cho rằng, trong nhiều trường hợp các đề
án hỗ trợ doanh nghiệp chưa khẳng định được tính hiệu quả của nó. Tuy nhiên, sự hỗ
trợ cho các DNTN vẫn là cần thiết. Ý nghĩa của các đề án hỗ trợ đặc biệt của Nhà
nước đối với công ty tư nhân được xem xét trên nhiều khía cạnh và mức độ. Tác giả
cho rằng, có những đề án hỗ trợ doanh nghiệp mang động cơ chính trị hơn là chỉ
đơn thuần mang lại hiệu quả. Sự hấp dẫn lớn về mặt chính trị của việc cung cấp, hỗ
trợ và miễn thuế thực sự được sử dụng trên khắp thế giới [102, tr. 83]. Thực tế, ở
nhiều nước các doanh nghiệp vừa và nhỏ chịu nhiều bất lợi so với những doanh nghiệp
mạnh hiện đang tồn tại và buộc phải kinh doanh ngầm. Vì vậy, điều quan trọng là
họ phải dựa theo chiều gió chính trị và các cuộc cải cách hỗ trợ tạo môi trường kinh
doanh đặt họ vào sân chơi bình đẳng với các doanh nghiệp khác [102, tr. 83]. Tác
giả cho rằng, không có lý do rõ ràng để nhà nước duy trì hỗ trợ kéo dài đối với doanh
nghiệp tư nhân" [102, tr. 86]. Đồng thời, nguy cơ lớn nhất của các đề án hỗ trợ của nhà