BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
B Ộ TƢ PHÁP
TRƢ ỜNG Đ ẠI HỌC LU ẬT HÀ N ỘI
ĐẶNG ĐÌNH NGỌC
CHẾ TÀI XỬ LÝ ĐỐI VỚI TỔ CHỨ C, CÁ NHÂN KINH DOANH
CÓ HÀNH VI VI PH ẠM PH ÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI
NGƢ ỜI TIÊU DÙNG Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN TH ẠC SĨ LUẬ T H ỌC
NGƢ ỜI HƢỚNG DẪN KHOA H ỌC: TS. NGUYỄ N THỊ VÂN ANH
HÀ NỘI - 2013
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt hai năm học cao học ở trường Đại học Luật Hà Nội, tôi đã
được bổ sung rất nhiều kiến thức chuyên ngành về Luật kinh tế, đặc biệt là
kiến thức chuyên ngành về pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Những kiến thức này được truyền đạt bởi đội ngũ giáo viên đầy nhiệt huyết và
giàu kinh nghiệm. Điều này đã giúp tôi tích lũy rất nhiều kiến thức phục vụ
cho quá trình nghiên cứu và công tác. Bởi vậy, khi thực hiện luận văn này, tôi
xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô trong kh oa Sau đại học cũng
pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng .................................................. 18
1.3.1. Khái niệm chế tài xử lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi
vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng .................................... 18
1.3.2. Đặc điểm chế tài xử lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi
vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng .................................... 20
1.3.3. Các loại chế tài xử lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi
phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ........................................ 23
1.3.3.1. Chế tài hành chính ........................................................................... 23
1.3.3.2. Chế tài hình sự ................................................................................. 24
1.3.3.3. Chế tài dân sự .................................................................................. 25
1.3.4. Khái quát quá trình phát triển các quy định về chế tài xử lý đối với tổ
chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng ở Việt Nam ......................................................................... 27
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG P HÁP L UẬT VIỆT NAM VỀ CHẾ TÀI XỬ
LÝ ĐỐI VỚ I TỔ CHỨC, CÁ NH ÂN KINH DOANH CÓ HÀNH VI VI
PHẠM PH ÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƢỜ I TIÊU DÙNG ... 31
2.1. Nội dung pháp luật về chế tài xử lý đối với hành vi vi phạm pháp luật bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng của tổ chức, cá nhân kinh doanh ..................... 31
2.1.1. Chế tài hành chính đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi
phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ........................................ 31
2.1.1.1. Các hình thức xử lý hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng ...................................................................................................... 31
2.1.1.1.1. Các biện pháp xử phạt chính ......................................................... 32
2.1.1.1.2. Các biện pháp xử phạt bổ sung ..................................................... 38
2.1.1.1.3. Các biện pháp khắc phụ c hậu quả ................................................. 41
2.1.1.2. Thẩm quyền xử phạt hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng ............................................................................................ 42
2.1.1.3. Thủ tục xử phạt hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người
cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng ............................................................................................................. 67
3.2.2.1. Tăng cường công tác đào tạo, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp
luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng........................................................... 67
3.2.2.2. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra vi phạm pháp lu ật bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng............................................................................. 68
3.2.2.3. Khẩn trương củng cố, kiện toàn bộ máy bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng; tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ thực hiện công tác bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng ........................................................................ 69
KẾT LUẬN ................................................................................................. 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KH ẢO
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLDS
: Bộ luật dân sự.
BLHS
: Bộ luật hình sự.
BVQLNTD
: Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
NTD
: Người tiêu dùng.
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi đó, NTD cũng gặp phải rất nhiều khó
khăn trong việc lựa chọn hàng hoá, dịch vụ phục vụ cho mục đích tiêu dùng
của mình. Bởi sự đa dạng của chủng loại hàng hoá, dịch vụ đòi hỏi NTD phải
có những kiến thức tiêu dùng nhất định; ngoài ra một số loại hàng hoá, dịch
vụ còn đòi hỏi phải có kiến thức chuyên sâu mới có thể t hẩm định về chất
lượng của chúng. Điều này, không phải mọi NTD đều có thể đáp ứng được.
Lợi dụng sự thiếu hiểu biết của NTD, nhiều nhà sản xuất, kinh doanh đã chạy
theo lợi nhuận để cung cấp cho NTD những hàng hoá, dịch vụ không đảm bảo
chất lượng và gây thiệt hại cho NTD. Trong quan hệ với tổ chức, cá nhân kinh
doanh, NTD luôn ở vị trí yếu thế hơn và dễ bị lạm dụng quyền lợi hợp pháp,
chính đáng của mình.
Có thể thấy, hiện nay quyền và lợi ích chính đáng của NTD không
được quan tâm một cách thỏa đáng, thường bị xâm phạm mọi lúc, mọi nơi,
mọi lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực an toàn thực phẩm . Vấn đề này luôn là
nỗi lo lắng của NTD. Vì lợi nhuận trước mắt, các doanh nghiệp sẵn sàng buôn
bán hàng giả, hàng kém chất lượng, thực phẩm không an toàn gây ảnh hưởng
không nhỏ đến sức khỏe, tính mạng và tài sản của NTD. Trong khi đó, sự
quản lý của Nhà nước còn yếu kém nên dẫn đến tình trạng dù áp dụng nhiều
biện pháp xử phạt các cá nhân, tổ chức kinh doanh nhưng tình hình hàng giả,
2
hàng kém chất lượng vẫn lan tràn trên thị trường, số ca ngộ độc thực phẩm
không ngừng gia tăng…
Do vậy, vấn đề đặt ra là cần có các chính sách bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng (BVQLNTD ) của Nhà nước. M ột trong các chính sách quan trọng
nhất là xây dựng hệ thống pháp luật đủ mạnh để bảo vệ NTD, mà đặc biệt là
hệ thống chế tài xử lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm
pháp luật BVQLNTD. Việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống các quy định
TS.Nguyễn Thị Vân Anh đăng trên Tạp chí Luật học (12/2012) ; khóa luận tốt
nghiệp “Pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực kinh doanh
xăng dầu, thực trạng và giải pháp” của Nguyễn Thị Thanh Thuỷ (2011); khóa
luận tốt nghiệp "Chế tài hành chính đối với hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng " của Đỗ Thanh Thúy (2012); Luận văn thạc sĩ luật
học “Pháp luật quảng cáo với vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng”
(2007) của Đào Tuyết Vân; Luận văn thạc sỹ luật học “Pháp luật về bảo vệ
người tiêu dùng trong giao dịch điện tử ở Việt Nam ” của Nguyễn Ngọc
Quyên (2012)… Tuy nhiên việc nghiên cứu chuyên sâu về chế tài xử lý đối
với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật BVQLNTD
vẫn còn tản mạn, chưa có một công trình nghiên cứu nào mang tính hệ thống,
toàn diện về vấn đề này. Chính vì vậy, trong bối cảnh hành vi vi phạm quyền lợi
NTD ngày càng gia tăng thì việc nghiên cứu, tìm hiểu về vấn đề này một cách hệ
thống, toàn diện cả về lý luận và thực tiễn là rất cần thiết.
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Quy định pháp luật về chế tài xử lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh
có hành vi vi phạm pháp luật BVQLNTD là một vấn đề khá rộng. Tuy nhiên,
trong phạm vi nghiên cứu đề tài, Luận văn tập trung nghiên cứu một cách
chuyên sâu về thực trạng pháp luật về chế tài xử lý đối với các tổ chức, cá
nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp lu ật BVQLNTD ở Việt Nam hiện
nay; tìm ra những mặt tích cực cũng như những hạn chế, tồn tại và nguyên
4
nhân các tổ chức, cá nhân kinh doanh thực hiện hành vi vi phạm pháp luật
BVQLNT D. Chế tài xử lý đối với các cá nhân, tổ chức khác như cá nhân, tổ
chức có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính (XPVPHC) có hành vi vi vi
phạm pháp luật BVQLNTD sẽ không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài
này.
kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của chế tài xử lý đối với hành vi xâm phạm
quyền lợi NTD, qua đó có tác dụng răn đe, trừng phạt nghi êm khắc những tổ
chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ NTD, đồng
thời bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của NTD.
Để đạt được những mục đích trên, luận văn đã đặt ra các nhiệm vụ
nghiên cứu chủ yếu sau:
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về chế tài xử lý đối với tổ chức, cá
nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật BVQLNTD.
- Tìm hiểu về thực trạng và tình hình thực thi pháp luật về chế tài xử lý
đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật
BVQLNT D.
- Trên cơ sở đó, đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của
chế tài xử lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp
luật BVQLNTD.
6. Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn
Trên cơ sở kế thừa những thành tựu, kết quả nghiên cứu của các công
trình khoa học đã được công bố, luận văn có một số đóng góp mới sau:
(i) Đánh giá về thực trạng và tình hình thực thi pháp luật về chế tài xử
lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật
BVQLNT D;
(ii) Đưa ra phương hướng, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của chế
tài xử lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật
BVQLNT D.
6
(iii) Nghiên cứu một cách cơ bản k inh nghiệm xây dựng pháp luật về
chế tài xử lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm phá p
luật BVQLNTD của một số quốc gia trên thế giới.
dụng hàng hóa, dịch vụ phục vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của chính
bản thân mình, người khác đều được coi là NTD. NTD luôn là một bộ phận
chiếm số lượng lớn trong xã hội.
Qua nghiên cứu pháp luật bảo vệ NTD của một số quốc gia trên thế
giới, ta có thể nhận thấy quan niệm về NTD ở các nước là khác nhau, nhưng
có thể tựu chung lại ở 2 nhóm:
- Cách quy định thứ nhất chỉ quy định cá nhân được coi là NTD. Đây là
cách quy định của EU, Canada, M alaysia. Cách quy định này thể hiện rõ luật
bảo vệ NTD chỉ bảo vệ đối với cá nhân, còn pháp nhân do họ có những vị thế
và điều kiện tốt hơn so với cá nhân trong quan hệ với nhà cung cấp nên luật
bảo vệ NTD không cần thiết phải can thiệp vào quan hệ tiêu dùng của họ
[23,tr.2].
8
- Cách quy định thứ hai là quy định rõ cả thể nhân và pháp nhân đều là
NTD, đây là cách quy định của Hàn Quốc. Quy định này tuy có vẻ hơi rộng
và có quan điểm cho rằng nó sẽ làm loãng đi hiệu lực của Luật bảo vệ NTD
[23,tr.3].
Tuy nhiên cách quy định này đã khắc phục được hạn chế của cách quy
định thứ nhất. Bởi lẽ, không phải lúc nào pháp nhân cũng là người đủ khả
năng để đối mặt được với các vi phạm từ phía nhà sản xuất kinh doanh và hậu
quả là nếu Luật bảo vệ NTD không bảo vệ họ như đối với các cá nhân tiêu
dùng khác thì quyền lợi của một nhóm đối tượng khá lớn trong xã hội sẽ bị
xâm phạm, điều này sẽ gây thiệt hại chung cho toàn xã hội.
Tại Việt Nam, trước năm 1986, khái niệm NTD rất ít được đề cập.
Khái niệm này đôi khi được truyền thông nhắc tới nhưng chỉ với tư cách là
nguồn đánh giá tham khảo cho việc xét duyệt các danh hiệu thi đua sản xuất
giữa các đơn vị kinh tế quốc doanh và tập thể.
BVQLNT D đã nâng tầm các quy định pháp luật về bảo vệ NTD, tạo điều kiện
tốt hơn cho việc bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của NTD. Kế thừa những
quy định từ Pháp lệnh BVQLNTD 1999, Điều 3 Khoản 1 Luật BVQLNTD
2010 đã định nghĩa về NTD như sau: NTD là người mua, sử dụng hàng hóa,
dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sin h hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức.
Như vậy, về cơ bản, khái niệm NTD trong Luật BVQLNTD không
khác so với quy định tại Pháp lệnh BVQLNTD năm 1999. Nhìn chung, pháp
luật Việt Nam đều cho rằng NTD là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ
nhằm phục vụ cho các mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ
chức. Pháp luật nước ta tuy không quy định rõ NTD là cá nhân hay tổ chức
nhưng với quy định tại Khoản 2 Điều 2 Nghị định 69/2001/NĐ -CP, ta có thể
hiểu được tổ chức, cá nhân đều được coi là NTD. Vi ệc quy định NTD bao
gồm cả tổ chức và cá nhân là rất hợp lý. Bởi lẽ, trong thực tiễn, không chỉ cá
nhân là đối tượng dễ bị xâm phạm quyền lợi mà rất nhiều tổ chức cũng không
10
đủ khả năng đối mặt với vi phạm từ nhà sản xuất kinh doanh. Đồng thời, các
tổ chức này cũng phải mua các sản phẩm tiêu dùng thiết yếu để phục vụ cho
các cán bộ, nhân viên của họ và các giá trị giao dịch giữa những đối tượng
này với các nhà mua bán hàng hoá , dịch vụ là tương đối lớn.
1.1.2. Đặc trưng và những nội dung cơ bản của pháp lu ật bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng
1.1.2.1. Đặc trưng của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Trong thực tế, quan hệ giữa NTD và nhà cung cấp hàng hóa dịch vụ là
các quan hệ tư. Tuy nhiên, do có đặc điểm về sự khác biệt giữa vị thế của
người cung cấp và NTD trong quan hệ này, cụ thể là NTD luôn ở thế yếu hơn,
thiếu thông tin về hàng hóa, dịch vụ, nên cần thiết phải có sự can thiệp nhất
định của Nhà nước vào quan hệ này để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp
có Luật trách nhiệm sản phẩm nằm trong hoặc độc lập với Luật bảo vệ NTD.
Chẳng hạn, ở Thái Lan, Luật trách nhiệm sản phẩm được ban hành năm 2008
trong khi đó Luật bảo vệ NTD của họ có từ năm 1979 [21,tr.24].
Ở Việt Nam, quy định về trách nhiệm sản phẩm được quy định tại Điều
22, 23, 24 Luật BVQLNTD năm 2010. Theo đó, khi phát hiện hàng hóa có
khuyết tật, tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hóa có trách nhiệm thu
hồi hàng hóa đó. Bên cạnh đó, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa có trách
nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp hàng hóa có khuyết tật do mình
cung cấp gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của NTD, kể cả khi tổ
chức, cá nhân đó không biết hoặc không có lỗi trong việc phát sinh khuyết tật,
trừ trường hợp chứng minh được khuyết tật của hàng hóa không thể phát hiện
được với trình độ khoa học, kỹ thuật tại thời điểm tổ chức, cá nhân kinh
doanh hàng hóa cung cấp cho NTD.
Thứ ba, pháp luật BVQLNTD thiết lập những ngoại lệ so với những
nguyên tắc tố tụng dân sự truyền thống. Đây là những ngoại lệ về điều kiện,
hình thức khởi kiện hoặc giảm nhẹ ng hĩa vụ chứng minh. Pháp luật tố tụng
12
dân sự đã quy định đương sự có nghĩa vụ phải chứng minh khi khởi kiện yêu
cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Khác với nguyên tắc tố
tụng dân sự truyền thống, việc quy định những ngoại lệ như khởi kiện tập thể
ở Hoa Kỳ hoặc đảo nghĩa vụ chứng minh ở Đức… sẽ tạo điều kiện thuận lợi
hơn cho NTD tham gia giải quyết tranh chấp liên quan đến quyền lợi của
mình bị vi phạm.
Theo Luật BVQLNTD 2010, NTD cũng được giảm nhẹ nghĩa vụ
chứng minh, họ chỉ phải chứng minh sự thiệt hại còn nhà cung cấp hàng hóa,
dịch vụ sẽ phải chứng minh về việc không tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa
hành vi sản xuất, cung cấp hàng hóa, dịch vụ với những thiệt hại của NTD,
bù; quyền được giáo dục và quyền được sống trong môi trường trong lành
[21,tr.30]. Tại Việt Nam, Luật BVQLNTD 2010 cũng đã cụ thể hóa các
quyền và nghĩa vụ của NTD tại Điều 8 và Điều 9.
Thứ hai, quy định nghĩa vụ và trách nhiệm của người cung cấp hàng
hóa, dịch vụ cho NTD cũng là một nội dung đặc thù của pháp luật
BVQLNT D. Ngoài những nghĩa vụ theo thỏa thuận và được điều chỉnh bởi
các ngành luật tư, tổ chức, cá nhân kinh doanh đều có trách nhiệm sản p hẩm.
Đây là một loại trách nhiệm pháp lý đặc biệt khi hàng hóa, dịch vụ của nhà
cung cấp có những khuyết tật, kể c ả trong trường hợp những chủ thể này
không có lỗi đối với những khuyết tật đó.
Pháp luật cũng quy định thương nhân có nghĩa vụ chứng minh việc
mình không có lỗi khi sản phẩm được cung cấp ra có khuyết tật. Ở đây, các
nhà làm luật đã buộc các thương nhân phải có nghĩa vụ chứng minh như
người khởi kiện. Các thương nhân phải chứng minh là mình được miễn trách
nhiệm sản phẩm. Trường hợp không thể c hứng minh mình được miễn, họ
phải chịu trách nhiệm đối với những cáo buộc của nguyên đơn về khuyết tật
của hàng hóa, dịch vụ mà mình đã sản xuất, thiết kế hoặc cung cấp.
14
Thứ ba, quy định việc kiểm soát các điều khoản giao dịch không công
bằng. Về hình thức, giao dịch của cá nhân, tổ chức kinh doanh với NTD được
thực hiện theo các quy định của luật dân sự. Tuy vậy, tình trạng bất đối xứng
thông tin giữa hai bên tham gia giao dịch có thể dẫn đến việc thiết lập những
điều khoản giao dịch có lợi cho một bên, t hường là các thương nhân kinh
doanh hàng hóa, dịch vụ. Do vậy, pháp luật cần thiết lập các cơ chế kiểm soát
để ngăn ngừa những hậu quả xấu đối với bên yếu thế, thường là NTD. Luật
BVQLNT D 2010 đã có những quy định cơ bản về nội dung này. Điều 16 đã
quy định hợp đồng hoặc điều kiện giao dịch chung sẽ vô hiệu nếu tổ chức, cá
Các chế tài sẽ thường xuyên được áp dụng để xử lý những chủ thể có
hành vi xâm phạm quyền lợi NTD. Các tổ chức, cá nhân kinh doanh thực hiện
hành vi vi phạm pháp luật BVQLNTD, gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp
pháp của NTD sẽ phải chịu các chế tài xử lý khác nhau tùy thuộc vào tính
chất, mức độ thực hiện hành vi vi phạm. Việc áp dụng chế tài xử lý đối với
các tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm sẽ có tác dụng răn đe,
trừng phạt nghiêm khắc những chủ thể này , đồng thời bảo vệ tốt hơn quyền,
lợi ích chính đáng của NTD. Bên cạnh đó, việc quy định các chế tài xử lý đối
với hành vi vi phạm pháp luật BVQLNTD sẽ có tác dụng thiết lập một trật tự
xã hội tốt hơn trong quan hệ mua bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ.
Có thể nói, NTD là những đối tượng yếu thế trong qu an hệ với các tổ
chức, cá nhân kinh doanh do nhiều nguyên nhân khác nhau. Điều này dẫn đến
quyền lợi của NTD dễ bị các chủ thể này thực hiện hành vi xâm phạm. Những
hành vi vi phạm pháp luật BVQLNTD của các tổ chức, cá nhân kinh doanh sẽ
được trình bày trong mục 1.2.
1.2. Hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ ngƣời tiêu dùng của tổ chức,
cá nhân kinh doanh
Trong thực tiễn, hành vi vi phạm quyền lợi NTD phần lớn xảy ra trong
giao dịch giữa tổ chức, cá nhân kinh doanh với NTD. Trong các giao dịch
16
này, NTD luôn ở vị trí yếu thế hơn so với tổ chức, cá nhân kinh doanh, do sự
hạn chế về thông tin liên quan đến hàng hóa, dịch vụ m à họ đang có nhu cầu
tiêu dùng. Vì vậy, các thương nhân thường lợi dụng điều này để thực hiện
hành vi vi phạm như kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng; khuyến mại
có sự gian dối về giải thưởng… Điều này gây ảnh hưởng không nhỏ đến sức
khỏe, tính mạng cũng như quyền, lợi ích hợp pháp của NTD.
Hành vi vi phạm pháp luật BVQLNTD trước hết được hiểu là một hành
- Nhóm hành vi vi phạm về bảo hành hàng hóa và vi phạm về trách
nhiệm của hàng hóa có khuyết tật gồm các hành vi như: vi phạm về trách
nhiệm bảo hành hàng hóa, linh kiện, phụ kiện; vi phạm về trách nhiệm thu hồi
hàng hóa có khuyết tật.
- Nhóm hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ NTD khác gồm các hành
vi như: vi phạm của cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên
không phải đăng ký kinh doanh; quấy rối NTD; ép buộc NTD…
Dựa vào hành vi vi phạm của tổ chức, cá nhân kinh doanh trong từng
lĩnh vực có thể chia thành:
- Nhóm hành vi vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm bao gồm các
hành vi như: vi phạm quy định về điều kiện bảo đảm an t oàn với sản phẩm
thực phẩm; vi phạm quy định về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong
sản xuất, kinh doanh thực phẩm …
- Nhóm hành vi vi phạm pháp luật về viễn thông bao gồm các hành vi
như: vi phạm các quy định về quản lý chất lượng, giá cước và khuyế n mại
dịch vụ viễn thông…
- Nhóm hành vi vi phạm pháp luật về giá bao gồm các hành vi như: vi
phạm về niêm yết giá hàng hóa, dịch vụ; tăng giá quá mức…
- Nhóm hành vi vi phạm pháp luật về chất lượng hàng hóa bao gồm các
hành vi như: vi phạm quy định về chất lượng sản phẩm, hàng hóa lưu thông
18
trên thị trường; vi phạm quy định kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa của
tổ chức được chỉ định kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa…
- Nhóm hành vi vi phạm pháp luật về đo lường bao gồm các hành vi
như: vi phạm quy định về đo lường trong sản xuất phương tiện đo thuộc Danh
mục phương tiện đo phải kiểm định, vi phạm quy định về đo lường trong hoạt
động thương mại bán lẻ…
chế tài sẽ giúp bảo đảm cho pháp luật được tôn trọng và tuân theo một cách
nghiêm túc. Có nhiều loại chế tài với các mức độ nặng nhẹ khác nhau có thể
áp dụng tuỳ theo tính chất, mức độ của các hành vi xử sự trái pháp luật. Đó là,
chế tài hình sự, chế tài kỉ luật, chế tài hành chính, chế tài dân sự.
Trong lĩnh vực bảo vệ NTD, chế tài sẽ được đặt ra để xử phạt những cá
nhân, tổ chức có hành vi xâm hại đến quyền lợi NTD. Các chủ thể này sẽ chịu
những hậu quả pháp lý bất lợi do việc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật
của mình gây ra cho NTD. Ở đây, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà họ
sẽ phải chịu các biện pháp XPVPHC như: cảnh cáo; phạt tiền; tịch thu tang
vật, phương tiện được sử dụng để VPHC, hoặc chịu các hình phạt tù, phạt
tiền. Các chế tài xử lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm
pháp luật BVQLNTD bên cạnh việc góp phần bảo vệ quyền, lợi ích chín h
đáng hợp pháp của NTD, còn có vai trò thiết lập trật tự cho các quan hệ mua
bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, cũng như nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật,
ngăn ngừa việc thực hiện hành vi phạm pháp luật BVQLNTD.
Chế tài xử lý đối với hành vi vi phạm pháp l uật bảo vệ quyền lợi của
NTD được hiểu là hậu quả pháp lý bất lợi do pháp luật quy định được áp dụng
đối với chủ thể thực hiện hành vi xâm phạm quyền lợi của NTD [21,tr.142].
Điều 11 Luật BVQLNTD 2010 đã quy định:
- Cá nhân vi phạm pháp luật về BVQLNTD thì tùy theo tính chất, mức
độ vi phạm mà bị XPVPHC hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây
thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.