Pháp luật về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào việt nam một số vấn đề lý luận và thực tiễn - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN ÁNH NGỌC

PHÁP LUẬT VỀ TỰ VỆ TRONG NHẬP KHẨU
HÀNG HÓA NƢỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM - MỘT SỐ
VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60.58.0107

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. ĐOÀN TRUNG KIÊN

HÀ NỘI - 2013


MỤC LỤC

Trang
LỜI MỞ ĐẦU

Chương 1

1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỰ VỆ

hóa nước ngoài vào Việt Nam

Chương 3

3.1

43

YÊU CẦU VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN
THIỆN, NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP
LUẬT VỀ TỰ VỆ TRONG NHẬP KHẨU HÀNG HÒA
51
NƢỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM

Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về tự vệ trong nhập khẩu
hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam

3.2

27

51

Một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả
áp dụng pháp luật về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa
nước ngoài vào Việt Nam

56

KẾT LUẬN



1

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong lịch sử phát triển của kinh tế thế giới, trước khi bước vào thời kỳ tự do
hóa thương mại, các quốc gia tập trung xây dựng chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch đối với
sản xuất trong nước. Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX chủ nghĩa bảo hộ đã đạt đến
đỉnh cao của sự phát triển. Tuy nhiên, trong giai đoạn này chính sách bảo hộ mậu dịch
cũng đã đặt ra những rào cản lớn, hạn chế trong giao thương giữa các quốc gia. Chính
vì vậy, trong xu thế mới, các quốc gia đã nhanh chóng nhận thức được lợi ích và vai
trò quan trọng của tự do hóa thương mại. Các quốc gia đã nỗ lực xây dựng các công cụ
góp phần thực hiện mục tiêu tự do hóa thương mại, hàng loạt các thỏa thuận thương
mại khu vực được thiết lập như: Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch (GATT)
năm 1947 với 23 thành viên tham gia, Cộng đồng chung Châu Âu (EC) ra đời năm
1957 v.v. Trong đó, nổi bật phải kể đến sự ra đời của GATT. Các bên tham gia ký kết
GATT đã cùng nhau tiến hành các cuộc đàm phán về thuế quan và xử lý các biện pháp
bảo hộ mậu dịch đang áp dụng tràn lan trong thương mại quốc tế nhằm thực hiện mục
tiêu tự do hóa mậu dịch, mở đường cho kinh tế quốc tế phát triển. Trên cơ sở của
GATT, ngày 15 tháng 4 năm 1994 tại Marrakesh (Maroc), các nước đã ký Hiệp định
thành lập tổ chức thương mại thế giới WTO. Việc thành lập WTO với mục đích cao
nhất là tự do hóa thương mại toàn cầu được xem là minh chứng rõ nét cho thấy sự phát
triển và lan tỏa mạnh mẽ của xu thế tự do hóa thương mại trên toàn thế giới. Có thể
nói, tự do hóa thương mại ngày nay không chỉ là chính sách đơn lẻ của từng quốc gia
mà đã trở thành nghĩa vụ chặt chẽ trong khuôn khổ các định chế khu vực và toàn cầu
[21, tr.9]. Tuy nhiên, tự do hóa thương mại cũng đặt ra những thách thức cho mỗi quốc
gia đặc biệt là các quốc gia đang và kém phát triển khi mà nhiều ngành sản xuất nội địa
vấp phải sự cạnh tranh gay gắt từ các cường quốc trên thế giới. Do vậy, song song với

hàng hóa nói chung và tự vệ nói riêng.
Xuất phát từ thực trạng pháp luật hiện hành về biện pháp tự vệ trong nhập khẩu
hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam và với mong muốn tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này
tôi đã quyết định chọn đề tài luận văn thạc sỹ của mình là: “Pháp luật về tự vệ trong
nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Biện pháp tự vệ và pháp luật về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào
Việt Nam đã được bắt đầu nghiên cứu sâu rộng hơn kể từ khi Việt Nam tham gia vào
xu thế tự do hóa thương mại với việc trở thành thành viên của WTO. Cho đến nay, đã
có nhiều đề án, công trình nghiên cứu, bài viết về vấn đề này như: Đề án về “Biện
pháp phòng vệ chính đáng đối với hàng hóa sản xuất trong nước phù hợp với các quy
định của Tổ chức thương mại quốc tế và các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết”


3

do Bộ Công Thương xây dựng năm 2006; luận án Tiến sỹ kinh tế của Vũ Thành Toàn
với đề tài “Bảo hộ hợp lý sản xuất trong nước trong xu thế tự do hóa thương mại:
Thực tiễn trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” năm 2012; các bài viết
trên tạp chí như: “Bàn vệ biện pháp tự vệ đối với hàng hóa nhập khẩu” của Hà Thị
Thanh Bình trên tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 8/2008; hay “Biện pháp tự vệ
thương mại trong nhập khẩu hàng hóa vào Việt Nam- điều kiện và thủ tục áp dụng”
của ThS. Nguyễn Quý Trọng trên Tạp chí Luật học số 4/2012. Tuy nhiên, hiện nay
chưa có một đề tài triển khai đi sâu vào tìm hiểu thực trạng pháp luật về tự vệ trong
nhập khẩu hàng hóa ở Việt Nam và đưa ra gợi ý mang tính chất pháp lý nhằm hoàn
thiện hệ thống pháp luật hiện hành trong bối cảnh hội nhập sâu rộng khi chúng ta đã là
thành viên của WTO.
3. Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục tiêu của việc nghiên cứu đề tài là nhằm làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận
và thực tiễn của pháp luật về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa ở nước ngoài vào Việt

5. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
Để giải quyết các vấn đề của đề tài luận văn, trong quá trình nghiên cứu, tác giả
đã sử dụng các phương pháp như: phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
của chủ nghĩa Mác-Lênin kết hợp với các phương pháp cơ bản khác như: phân tích,
tổng hợp, so sánh, đối chiếu, thống kê v.v.
6. Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về pháp luật tự vệ
trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam. Luận văn có những đóng góp
mới sau đây:
- Luận văn đã trình bày có hệ thống các vấn đề lý luận cơ bản về tự vệ và pháp
luật tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa. Đặc biệt, luận văn đã xác định được quan niệm về
tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài; phân tích sự tương đồng và khác biệt giữa
biện pháp tự vệ với các biện pháp phòng vệ thương mại khác; giới thiệu được các quy
định về tự vệ của WTO và pháp luật về tự vệ của một số quốc gia trên thế giới;
- Phân tích và đánh giá được tương đối đầy đủ, toàn diện các quy định về pháp
luật tự vệ và thực tiễn áp dụng biện pháp tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài
vào Việt Nam;
- Xác định được các yêu cầu khoa học cho việc hoàn thiện pháp luật. Từ đó, đề
xuất được một số giải pháp cụ nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật
về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam.


5

7. Kết cấu của luận văn
Kết cấu của luận văn được xây dựng phù hợp với mục đích, nhiệm vụ và phạm vi
nghiên cứu. Ngoài phần lời mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo,
kết cấu của luận văn gồm ba chương:
Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa và pháp
luật về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa

sản xuất nội địa [15]. Trên thực tế các biện pháp này thường bị các quốc gia “bóp
méo” và trở thành hàng rào phi thuế quan “hiện đại” để bảo hộ sản xuất trong nước.
Với sự ra đời của GATT 1947 và sau này là sự thành lập WTO, quan niệm về tự
vệ trong nhập khẩu hàng hóa được chính thức ghi nhận theo quan điểm của WTO.
Việc áp dụng biện pháp tự vệ được xác định là một trong những ngoại lệ của việc tuân
thủ những nguyên tắc cơ bản của tự do hóa thương mại.
Theo Từ điển chính sách thương mại quốc tế, tự vệ hiểu theo Điều XIX của
GATT có nghĩa là “cho phép một nước hoãn không thi hành các nghĩa vụ của mình
hoặc sửa đổi các cam kết tự do hóa trong các trường hợp không lường trước được và


7

nếu bất cứ một sản phẩm nào được nhập khẩu với số lượng ngày càng tăng có thể gây
ra hoặc đe dọa gây ra các thiệt hại nghiêm trọng cho các nhà sản xuất trong nước
cùng sản xuất một loại hàng hóa tương tự hoặc loại hàng hóa cạnh tranh trực tiếp”
[23, tr.218].
Mục đích cao nhất của việc thành lập WTO là hướng tới thực hiện chính sách tự
do hóa thương mại, xóa bỏ các rào cản thương mại giữa các quốc gia. Điều XI GATT
đã nhấn mạnh các quốc gia “chỉ được phép bảo hộ sản xuất nội địa bằng công cụ thuế
quan” và nguyên tắc “cam kết ràng buộc về thuế nhập khẩu” tại Điều II, XVIII GATT.
Tuy nhiên, GATT cũng đưa ra quy định tại Điều XIX về trường hợp trong điều kiện
thương mại thông thường khi có sự gia tăng không thể lường trước của các loại sản
phẩm nhập khẩu nhất định, gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng đối với
ngành sản xuất nội địa sản xuất sản phẩm tương tự hoặc sản phẩm cạnh tranh trực tiếp
thì thành viên được tạm thời áp dụng những biện pháp không phù hợp với các quy định
của WTO.
Điều XIX được xem là điều khoản giải thoát “escape clause”, là ngoại lệ của
nghĩa vụ tuân thủ các nhượng bộ đã cam kết của thành viên trong trường hợp kinh tế
khẩn cấp. Điều khoản này đặt cơ sở cho việc quy định cụ thể hơn tự vệ thương mại

Tóm lại, quan niệm về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa ở trên thế giới và ở
Việt Nam đều dựa trên các quy định của WTO và có thể được hiểu là: “hoạt động
hạn chế nhập khẩu tạm thời của Chính phủ nước nhập khẩu đối với một loại hàng
hóa nhập khẩu vào nước này trong trường hợp những hàng hóa đó được nhập khẩu
một cách quá mức, gây ra hoặc đe dọa gây ra tổn thất nghiêm trọng đến ngành sản
xuất trong nước”.
1.1.2. Các biện pháp tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa
Tùy thuộc vào tính chất cùng với những đặc điểm riêng của nền kinh tế mà mỗi
quốc gia lựa chọn áp dụng các biện pháp tự vệ khác nhau. Các biện pháp tự vệ được
các quốc gia áp dụng khá đa dạng như: tăng thuế nhập khẩu, cấm xuất khẩu, hạn
ngạch, hạn ngạch thuế quan, thuế tuyệt đối, quản lý và hạn chế nhập khẩu bằng thủ tục
cấp phép v.v. Nhưng nhìn chung các biện pháp tự vệ được khái quát thành hai loại cơ
bản là: biện pháp thuế quan và biện pháp hạn chế định lượng.
(i) Biện pháp thuế quan
Thuế quan được hiểu là khoản thu của nhà nước đánh vào hàng hóa khi hàng
hóa đó di chuyển từ lãnh thổ hải quan này sang lãnh thổ hải quan khác nhằm tăng
nguồn thu từ ngân sách quốc gia và bảo hộ hàng hóa tương tự, ngành kinh tế hàng hóa
tương tự trong nước [24].


9

Khi các quốc gia nhận thấy hàng hóa từ nước ngoài được nhập khẩu một cách
quá mức, gây ra hoặc đe dọa gây ra tổn thất nghiêm trọng đến ngành sản xuất trong
nước, thì quốc gia có thể lựa chọn áp dụng biện pháp thuế quan bằng cách tăng thuế
nhập khẩu nhằm mục đích tự vệ. Trên thực tế trong quan hệ thương mại giữa các quốc
gia có rất nhiều mức thuế khác nhau được vận dụng trên cam kết của từng nước. Ví dụ
như mức thuế mà các nước dành cho nhau theo quy chế Tối huệ quốc, mức thuế mà
các nước phát triển dành ưu đãi cho nước đang phát triển hay thậm chí không đánh
thuế đối với hàng hóa có xuất xứ từ lãnh thổ của các nước thành viên trong cùng khối

dụng [24, tr.128]. Các quốc gia trên thế giới có thể áp dụng nhiều các biện pháp hạn
chế định lượng như: hạn ngạch, cấm nhập khẩu, giấy phép nhập khẩu v.v. Tuy nhiên
hạn ngạch là biện pháp hạn chế định lượng tiêu biểu và được áp dụng phổ biến nhất
trong nhập khẩu hàng hóa.
Hạn ngạch hay còn gọi là quota là quy định của nước nhập khẩu về mức cao
nhất của giá trị hay khối lượng hàng hóa được phép nhập khẩu từ một thị trường nhất
định trong một thời gian xác định [24, tr.129]. Khi áp dụng hạn ngạch, nước nhập khẩu
đặt ra giới hạn tối đa về số lượng, khối lượng hoặc giá trị mà một mặt hàng nhất định
được phép nhập khẩu. Ví dụ: năm 2010, quốc gia A xuất khẩu vào thị trường quốc gia
B là 600.000 tấn thép. Sau khi tiến hành điều tra tự vệ, quốc gia A quyết định áp dụng
biện pháp hạn ngạch trong đó quy định mức hạn ngạch nhập khẩu thép đối với B là:
60.000 tấn, giảm 10 lần so với mức ban đầu chưa áp dụng hạn ngạch.
Khác với biện pháp thuế quan, biện pháp hạn chế định lượng là các biện pháp
mang mang tính hành chính nên các tác động thường nhanh. Việc áp dụng biện pháp
hạn chế định lượng sẽ có tác động cơ bản giống như thuế quan đó là hạn chế lượng
hàng nhập khẩu và bảo hộ sản xuất trong nước giúp các nhà sản xuất trong nước tăng
sản lượng, bán được sản phẩm với giá cao hơn v.v. Tuy nhiên, việc áp dụng các biện
pháp hạn chế định lượng cũng có những mặt trái. Khi áp dụng biện pháp này, phần lợi
ích chênh lệch giá không được đưa vào ngân sách nhà nước như trường hợp thuế quan
mà lại do nhà nhập khẩu hưởng. Đồng thời nó kích thích buôn lậu và gian lận thương
mại vì thực tế hạn chế lượng hàng nhập khẩu có thể dẫn tới tình trạng cung không đủ
cầu, tất yếu sẽ dẫn tới mặt trái trên. Đây cũng là lý do dẫn đến tệ nạn móc ngoặc, hối
lộ, tham nhũng trong phân bổ hạn ngạch.
Việc áp dụng các biện pháp tự vệ đều có những mặt tích cực và hạn chế. Do
vậy, việc lựa chọn áp dụng các biện pháp này được mỗi quốc gia cân nhắc, tính toán
trên cơ sở điều kiện của ngành sản xuất nội địa chịu ảnh hưởng nói riêng, nền kinh tế
nói chung và các yếu tố về mặt chính trị- xã hội.


11

hóa tương tự trong nước trước tình trạng bị cạnh tranh gay gắt hay bị đe dọa hoặc chịu
thiệt hại nghiêm trọng từ sự gia tăng bất thường của hàng hóa nhập khẩu.


12

(ii) Điều kiện áp dụng
Đối với biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp, điều kiện để áp dụng hai
biện pháp này chỉ cần chứng minh hành vi bán phá giá hay trợ cấp gây “thiệt hại đáng
kể” hoặc bị đe dọa gây thiệt hại đáng kể hoặc ngăn cản đáng kể sự hình thành của
ngành sản xuất trong nước. Còn biện pháp tự vệ đòi hỏi chứng minh: Một là, hàng hóa
liên quan được nhập khẩu có sự gia tăng đột biến về số lượng mà nước nhập khẩu
không lường trước được. Hai là, ngành sản xuất sản phẩm tương tự hoặc cạnh tranh
trực tiếp với hàng hóa đó bị “thiệt hại nghiêm trọng” hoặc đe dọa thiệt hại nghiêm
trọng. Ba là, có mối quan hệ nhân quả giữa hiện tượng nhập khẩu tăng đột biến và hậu
quả thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa thiệt hại nghiêm trọng.
(iii) Biện pháp áp dụng
Thứ nhất, để chống lại hành vi bán phá giá hay hành vi trợ cấp hàng hóa, thành
viên nhập khẩu chỉ có thể áp dụng biện pháp thuế quan dưới hình thức thu thuế nhập
khẩu bổ sung nhằm triệt tiêu ưu thế do cạnh tranh không công bằng của sản phẩm nhập
khẩu. Còn trong tự vệ thì thành viên nhập khẩu được áp dụng các biện pháp linh hoạt,
đa dạng hơn so với hai hình thức kia như: thuế suất, hạn ngạch, hạn ngạch thuế quan
v.v.
Thứ hai, các biện pháp thuế trong chống bán phá giá và chống trợ cấp bị giới
hạn ở chỗ, thuế chống bán phá giá và thuế chống trợ cấp không được phép cao hơn
biên độ phá giá hay trợ cấp. Ngược lại, trong tự vệ thương mại, không có quy định giới
hạn tương tự nào đối với mức thuế tự vệ được áp dụng.
(iv) Phạm vi áp dụng
Biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp chỉ áp dụng riêng cho sản phẩm
bán phá giá hoặc được trợ cấp mà không áp dụng chung cho cả hàng hóa tương tự từ

thương mại. Nếu nước áp dụng tự vệ thương mại không tuân thủ các điều kiện đã được
quy định thì các nước khác sẽ được quyền áp dụng biện pháp trả đũa. “Trả đũa” được
hiểu là sự rút nhượng bộ hoặc việc thực hiện nghĩa vụ khác cho nước áp dụng biện
pháp tự vệ.
1.1.4. Tác động của việc áp dụng biện pháp tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa
* Tác động tích cực
Như chúng ta đã biết biện pháp tự vệ được áp dụng nhằm làm giảm lượng hàng
hóa xuất khẩu của nước ngoài vào nước nhập khẩu. Do vậy, tác động tích cực lớn nhất
mà biện pháp này mang lại là bảo hộ ngành sản xuất nội địa trước sức ép cạnh tranh
trực tiếp từ hàng hóa nhập khẩu. Nguy cơ từ sự gia tăng đột ngột sản phẩm nhập khẩu
có thể gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong
nước đặc biệt là những ngành còn non yếu và chưa có đủ năng lực cạnh tranh. Bên


14

cạnh đó, đối với những ngành sản xuất then chốt và mũi nhọn của một quốc gia, nếu
không áp dụng tự vệ có thể gây ra những hậu quả đặc biệt nghiêm trọng đối với nền
kinh tế và các hậu quả gián tiếp như nạn thất nghiệp, bất ổn về chính trị, xã hội. Do đó,
việc áp dụng biện pháp tự vệ sẽ là “chiếc van an toàn” bảo vệ ngành sản xuất trong
nước. Đối với ngành sản xuất còn non yếu, biện pháp tự vệ giúp các doanh nghiệp sản
xuất có thời gian và điều kiện cần thiết để xây dựng, tăng cường các nguồn lực nhằm
nâng cao năng lực cạnh tranh. Đối với ngành sản xuất quan trọng then chốt của quốc
gia, biện pháp tự vệ tạo cơ hội để đổi mới, tái cơ cấu, xác định các chiến lược đẩy
mạnh và phát triển sản xuất. Mặt khác, biện pháp tự vệ còn đem lại các tác động tích
cực gián tiếp như: việc áp dụng các biện pháp tự vệ về thuế quan giúp tăng nguồn thu
cho ngân sách nhà nước.
* Tác động tiêu cực
Một mặt, biện pháp tự vệ nhằm bảo hộ một ngành sản xuất nội địa trước sự gia
tăng sản phẩm nhập khẩu, mặt khác nó lại gây ra bất lợi cho ngành sản xuất nội địa

tại, quy định về thông báo trước và tham vấn, các quy định về bồi thường và trả đũa
khi áp dụng biện pháp tự vệ. Một loạt các vấn đề quan trọng và mang tính thực tiễn
như: các tiêu chí để đánh giá thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước,
quá trình điều tra, thời hạn áp dụng tự vệ v.v. Trong khi đó, việc áp dụng các biện pháp
tự vệ thương mại của mỗi quốc gia diễn ra ngày càng đa dạng và biến tướng dưới
nhiều hình thức. Ngoài ra, tình trạng các thành viên tránh áp dụng Điều XIX bằng các
“biện pháp miền xám” (grey area) để hạn chế nhập khẩu hàng hóa nước ngoài. Các
biện pháp miền xám dùng để chỉ những thỏa thuận hạn chế thương mại tự nguyện giữa
quốc gia xuất khẩu và quốc gia nhập khẩu. Các biện pháp miền xám bao gồm: biện
pháp “hạn chế xuất khẩu tự nguyện” (VER), các thỏa thuận về trao đổi mậu dịch có
điều tiết (OMA), các thỏa thuận hạn chế tự nguyện (VRAs) và các thỏa thuận hạn chế
thương mại song phương tương tự. “Sự gia tăng của các biện pháp miền xám làm phá
vỡ dòng chảy bình thường của thương mại và suy giảm một cách nghiêm trọng các lợi
ích kinh tế mà thương mại tự do có thể mang lại và vì thế chúng có tác dụng hạn chế
thương mại một cách rất đáng kể”[14, tr.5]. Các biện pháp này được gọi là các biện
pháp “miền xám” vì nó vi phạm nguyên tắc cạnh tranh lành mạnh và nguyên tắc Tối
huệ quốc (MFN) trong WTO. Trong thực tiễn thương mại quốc tế, Hoa Kỳ và EU là
các nước sử dụng biện pháp miền xám nhiều nhất. Chính phủ các nước này đã khuyến
khích hoặc ủng hộ sáng kiến của những ngành sản xuất tham gia VER với các đối tác ở
nước xuất khẩu. Vào thời điểm năm 1995 - khi WTO ra đời, đã có trên 200 thỏa thuận
“miền xám” song phương và đa phương, liên quan đến các loại sản phẩm từ nông sản
(như thịt bò), hàng đơn giản (như sản phẩm cao su và đồ da, đồ gốm sứ), đến những
sản phẩm cao cấp (như TV, xe hơi, xe tải) [14, tr.5].


16

Thực tiễn này đòi hỏi phải thiết lập các quy định cụ thể và chi tiết hơn để điều
chỉnh có hiệu quả việc áp dụng biện pháp này cũng như tránh tình trạng lạm dụng tự vệ
để bảo hộ sản xuất trong nước. Tuy nhiên, trong một khoảng thời gian dài, biện pháp


- Nghị định số 04/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ về
việc thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Hội
đồng xử lý vụ việc chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ;
- Nghị định số 95/2012/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2012 của Chính phủ quy
định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công Thương;
- Quyết định số 848/QĐ-BCT ngày 05 tháng 02 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ
Công thương quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục
Quản lý cạnh tranh.
1.2.2. Quy định của WTO về biện pháp tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa
1.2.2.1. Hiệp định của WTO về tự vệ thương mại
Hiệp định SA đã được thông qua tại vòng đàm phán Uruguay gồm 13 Điều.
Hiệp định SA quy định chi tiết phương thức áp dụng các biện pháp tự vệ được quy
định tại Điều XIX GATT 1947. Các vấn đề cơ bản và quan trọng được quy định trong
Hiệp định:
* Chủ thể có quyền yêu cầu điều tra
- Các nhà sản xuất nội địa “có sản phẩm chiếm tỉ trọng lớn trong tổng sản lượng
sản xuất nội địa”, bị tác động bởi hàng nhập khẩu (Điều 4:1)
- Chính phủ nước nhập khẩu
Trong hầu hết các trường hợp, chủ thể yêu cầu áp dụng các biện pháp tự vệ là
các nhà sản xuất nội địa.
Cơ quan điều tra phải thông báo công khai về cuộc điều tra; tạo điều kiện để các
nhà xuất khẩu, các nhà nhập khẩu và các bên liên quan có thể đưa ra các bằng chứng
và quan điểm của họ; công bố các báo cáo và kết luận của cơ quan điều tra (Điều 3).
* Điều kiện áp dụng biện pháp tự vệ: (Điều 2, Điều 4:1, Điều 4:2, Điều 5 Hiệp
định SA)
- Số lượng hàng nhập khẩu gia tăng đột ngột, tuyệt đối hoặc tương đối (Điều 2);
- Gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho nhà sản xuất mặt
hàng tương tự hoặc mặt hàng cạnh tranh trực tiếp (Điều 2);


pháp này tới thương mại của các thành viên khác đó (Điều 8.1 Hiệp định).Vì vậy, khi
một quốc gia thành viên quyết định áp dụng một biện pháp tự vệ, quốc gia này phải
cân nhắc để có thể phải nhượng bộ về thuế quan hay hạn ngạch đối với một ngành


19

công nghiệp khác. Nếu thỏa thuận về một biện pháp đền bù thương mại không đạt
được trong vòng 30 ngày tham vấn thì trong vòng 90 ngày kể từ ngày biện pháp tự vệ
được áp dụng, thành viên xuất khẩu bị ảnh hưởng có thể trả đũa bằng cách dừng các
nhượng bộ tương đương hoặc các nghĩa vụ thương mại khác đối với thành viên áp
dụng biện pháp tự vệ. Tuy nhiên, SA cũng khuyến khích các thành viên áp dụng biện
pháp tự vệ hợp pháp hơn là các biện pháp bên ngoài khác qua quy định: việc trả đũa sẽ
không được tiến hành trong thời hạn ba năm đầu tiên mà biện pháp tự vệ có hiệu lực
với điều kiện là biện pháp tự vệ đó được áp dụng phù hợp với các quy định của SA và
ngoại lệ này chỉ được áp dụng do sự gia tăng nhập khẩu tuyệt đối.
* Thời hạn áp dụng biện pháp tự vệ: (Điều 7 Hiệp định SA)
- Thời hạn tối đa để áp dụng biện pháp tự vệ là tám năm còn các nước đang phát
triển là 10 năm. Do mục tiêu của việc áp dụng biện pháp tự vệ là thúc đẩy “điều chỉnh
cơ cấu” và “khuyến khích chứ không hạn chế cạnh tranh trên thị trường quốc tế”, nên
biện pháp tự vệ sẽ chỉ được áp dụng tạm thời để ngành sản xuất trong nước bị tác động
tiến hành những bước tự điều chỉnh, nâng cao khả năng cạnh tranh sau khi chấm dứt áp
dụng biện pháp tự vệ. Sự điều chỉnh này được thực hiện bằng cách áp dụng công nghệ
mới hoặc hợp lý hóa cơ cấu sản xuất).
- Điều khoản hoàng hôn (“sunset clause”):
Hiệp định SA quy định “điều khoản hoàng hôn” đối với tất cả các biện pháp tự
vệ, nghĩa là các biện pháp tự vệ không được áp dụng vĩnh viễn, mà được rà soát định
kỳ. Việc tiến hành rà soát các biện pháp tự vệ nhằm đưa ra kết luận về việc duy trì, huỷ
bỏ hoặc giảm nhẹ mức độ áp dụng các biện pháp tự vệ.
* Cấm thành viên WTO áp dụng các biện pháp miền xám: (Điều X, Điều XI Hiệp

ngành sản xuất trong nước.
* Đối tượng áp dụng:
Theo quy định Điều 5.1 AoA, biện pháp tự vệ đặc biệt được áp dụng đối với
những sản phẩm nông nghiệp được thuế hóa và chỉ được áp dụng bởi thành viên đã
bảo lưu quyền áp dụng biện pháp này trong cam kết về nông nghiệp. Thuế hóa là việc
chuyển các biện pháp hạn chế nhập khẩu phi thuế quan thành thuế quan ví dụ như việc
quốc gia xóa bỏ áp dụng biện pháp hạn ngạch và thay bằng áp dụng thuế quan. Như
vậy, chỉ có các sản phẩm nông nghiệp được thuế hóa và có ghi chú SSG trong Danh
mục cam kết của mỗi thành viên mới là đối tượng áp dụng của biện pháp này. Ví dụ:
trong danh mục cam kết của nước A, thịt bò được ghi chú là sản phẩm SSG. Như vậy,
nước A có quyền áp dụng biện pháp tự vệ đặc biệt theo quy định Hiệp định AoA.


21

Hiện nay có 39 thành viên WTO bảo lưu quyền áp dụng biện pháp tự vệ đặc
biệt theo AoA. Tổng số có 6.072 dòng thuế được đăng ký áp dụng SSG, tập trung vào
các mặt hàng: ngũ cốc (1.087 dòng), sản phẩm gia súc gia cầm (1.372 dòng), rau quả
(809 dòng), sản phẩm sữa (715 dòng), dầu và các chất béo (706 dòng).
* Điều kiện áp dụng:
Thành viên nhập khẩu được áp dụng biện pháp tự vệ đặc biệt theo Hiệp định
AoA khi đáp ứng một trong hai điều kiện:
- Một là, khối lượng hàng nhập khẩu tăng nhanh đột ngột vượt quá một mức
khống chế.
- Hai là, khi giá nhập khẩu thấp hơn mức giá tham khảo quy định - gọi là điều
kiện khởi phát do giá.
* Cách thức áp dụng: Biện pháp tự vệ được áp dụng dưới hình thức thuế bổ sung vào
mức thuế nhập khẩu thông thường đối với nông sản liên quan.
1.2.3. Pháp luật về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa ở một số quốc gia trên thế giới
1.2.3.1. Pháp luật về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa của Hoa Kỳ

hoặc nguy cơ thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước cạnh tranh với
hàng nhập khẩu như trong kiến nghị hay không. Nếu có thiệt hại thì ITC sẽ tiếp tục
xem xét liệu nhập khẩu gia tăng có là nguyên nhân chủ yếu của thiệt hại đó xảy ra hay
không. Và sau khi xác định được mối quan hệ nhân quả này, ITC sẽ đệ trình lên Tổng
Thống về việc điều tra, kiến nghị áp dụng biện pháp tự vệ nhằm ngăn chặn hay khắc
phục thiệt hại cho các ngành sản xuất trong nước bị ảnh hưởng bởi sự gia tăng của
hàng nhập khẩu.
Tổng Thống sẽ tiến hành quyết định việc có áp dụng tự vệ và lựa chọn hình
thức áp dụng với thời gian và mức phù hợp. Nếu hình thức áp dụng biện pháp tự vệ
được Tổng thống lựa chọn khác với hình thức khuyến nghị của ITC thì Quốc Hội có
thể từ chối hành động này và yêu cầu Tổng Thống tuyên bố biện pháp tự vệ do ITC
đưa ra trong vòng 30 ngày nếu quyết định này nhận được sự ủng hộ của đa số thành
viên Hạ Viện.
Trong thời gian tiến hành các biện pháp tự vệ ITC có trách nhiệm phải giám sát
sự phát triển khôi phục của các ngành sản xuất đang được cứu trợ và đệ trình mỗi năm
hai lần các báo cáo đến Tổng Thống về kết quả giám sát. ITC cũng phải tổ chức những
phiên họp giải trình công khai đến các cá nhân, tổ chức quan tâm. Sau khi việc áp dụng
các biện pháp tự vệ chấm dứt, ITC phải tiến hành một cuộc điều tra sơ bộ đánh giá
hiệu quả việc áp dụng các biện pháp tự vệ.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status