Phân tích, đánh giá mô hình tổ chức của các tập đoàn kinh tế nhà nước và của khu vực tư nhân hiện nay. Thực trạng hoạt động của các TĐKT nhà nước và những nguyên nhân dẫn đến kết quả kinh doanh thua lỗ, kém hiệu quả của các TĐKT nhà nước - Pdf 48

TRƯỜNG
TRƯỜNG ĐẠI
ĐẠI HỌC
HỌC KINH
KINH TẾ
TẾ TP.HỒ
TP.HỒ CHÍ
CHÍ MINH
MINH
VIỆN
VIỆN ĐÀO
ĐÀO TẠO
TẠO SAU
SAU ĐẠI
ĐẠI HỌC
HỌC
----ooo0ooo-------ooo0ooo----

BỘ
BỘ MÔN:
MÔN: LUẬT
LUẬT KINH
KINH TẾ
TẾ
Bài
Bài tiểu
tiểu luận
luận :: Phân
Phân tích,
tích, đánh
đánh giá

các TĐKT
TĐKT
nhà
nhà nước
nước và
và những
những nguyên
nguyên nhân
nhân dẫn
dẫn đến
đến
kết
kết quả
quả kinh
kinh doanh
doanh thua
thua lỗ,
lỗ, kém
kém hiệu
hiệu
quả
quả của
của các
các TĐKT
TĐKT nhà
nhà nước
nước

GVHD:
GVHD:PGS-TS.BÙI

Phan Trung Dũng (Nhóm trưởng)

7701220216

2

Phan Thị Kiều Diễm

7701220160

3

Hà Đinh Long Hải

7701220298

4

Trần Thị Diễm Hương

7701220496

7

Đàm Thị Phương Thảo

7701221054

8


CHƯƠNG III – KẾT LUẬN.............................................................................38

3


CHƯƠNG I -LỜI MỞ ĐẦU
Những năm trở lại đây, người dân đã quá quen thuộc với hai từ tập đoàn, cả của Nhà
nước lẫn tư nhân. Cùng với diễn tiến thời gian, sự ra đời các hình thái kinh tế cũng như mô
hình doanh nghiệp nhằm thích nghi với điều kiện kinh tế - xã hội là một quy luật tất yếu.
Cùng với xu thế mở cửa, hội nhập khu vực và thế giới, sự phát triển không ngừng của nền
kinh tế thị trường thì những yêu cầu về khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp là rất lớn.
Về lý luận, việc hình thành các tập đoàn kinh tế là cần thiết trong điều kiện phát triển kinh tế
ở nước ta hiện nay. Thực tế trên cả nước đã có hàng trăm tập đoàn kinh tế ra đời như Hoàng
Anh Gia Lai; Đồng Tâm; Saigon Invest Group; Hòa Phát… Các tập đòan kinh tế này giữ vai
trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, hoạt động trong những ngành kinh tế chiến lược, vì
vậy có vai trò tích cực đối với việc phát triển kinh tế đất nước. Tuy nhiên những bất cập về
tổ chức hoạt động và quản lý mô hình Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam gần đây dẫn đến tình
trạng kinh doanh thua lỗ, kém hiệu quả cho thấy cần phải có cái nhìn phân tích, đánh giá
đúng mô hình tổ chức của các tập đoàn kinh tế từ đó xác định những nguyên nhân gây nên
thực trạng trên; cùng với việc rà soát lại những quy định pháp luật, các văn bản pháp luật để
tập đoàn kinh tế Việt Nam có hướng đi đúng hơn góp phần vào sự phát triển của đất nước.
Đó là lý do nhóm thực hiện đề tài: “ Phân tích, đánh giá mô hình tổ chức của các tập đoàn
kinh tế của Nhà nước và của khu vực tư nhân hiện nay. Cho biết thực trạng hoạt động
của các Tập đoàn kinh tế Nhà nước và những nguyên nhân dẫn đến tình trạng thô lỗ,
kém hiệu quả của các tập đoàn kinh tế nhà nước.”

4


CHƯƠNG II

Tư cách pháp nhân: Tập đoàn kinh tế không có tư cách pháp nhân, không phải đăng
ký kinh doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp. Công ty mẹ và các doanh nghiệp thành
viên tập đoàn có tư cách pháp nhân; có vốn và tài sản riêng; có quyền chiếm hữu, sử dụng,
định đoạt tài sản của mình theo quy định của pháp luật và theo thỏa thuận chung của tập
đoàn. Nhà nước là chủ sở hữu vốn nhà nước trực tiếp đầu tư tại công ty mẹ. Công ty mẹ là
chủ sở hữu vốn nhà nước tại các công ty con, doanh nghiệp liên kết.
Áp dụng pháp luật có liên quan và điều ước quốc tế : Việc thành lập, tổ chức, hoạt
động, quản lý đối với tập đoàn kinh tế nhà nước áp dụng theo quy định của Nghị định 1012009-NĐ-CP , Luật Doanh nghiệp, Luật Cạnh tranh và các quy định khác của pháp luật có
liên quan. Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành
viên có quy định khác với quy định của Nghị định này thì áp dụng theo quy định của điều
ước quốc tế.
Nguyên tắc quản lý, điều hành tập đoàn kinh tế nhà nước
Quản lý, điều hành tập đoàn kinh tế nhà nước thực hiện theo một hoặc một số phương
thức sau đây:
1. Quản lý, điều hành thông qua công ty mẹ;
2. Quản lý, điều hành thông qua các hình thức đầu tư, liên kết;
3. Quản lý, điều hành thông qua thỏa thuận, hợp tác sử dụng dịch vụ chung trong toàn
tập đoàn; thực hiện các quy chế, tiêu chuẩn, định mức chung trong toàn tập đoàn không trái
với quy định pháp luật; sử dụng sản phẩm, dịch vụ của nhau theo nguyên tắc thị trường;

6


4. Phương thức khác theo quy định của pháp luật và phù hợp với Điều lệ của các
doanh nghiệp thành viên.
Hình thức huy động vốn:
Công ty mẹ: Huy động vốn để kinh doanh dưới hình thức phát hành trái phiếu, tín
phiếu, kỳ phiếu, cổ phiếu công ty; vay vốn của tổ chức tín dụng và các tổ chức tài chính
khác; vay vốn của người lao động.
Công ty con: huy động vốn theo hình thức tổ chức doanh nghiệp phù hợp với quy

thức công ty mẹ - công ty con, công ty liên doanh (trong trường hợp chưa đăng ký lại theo
Luật Doanh nghiệp), công ty con ở nước ngoài.
Công ty con của doanh nghiệp cấp II và các cấp tiếp theo
Ngoài các công ty mẹ, công ty con như trên mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước còn
bao gồm thêm các doanh nghiệp liên kết của tập đoàn : doanh nghiệp có vốn góp dưới mức
chi phối của công ty mẹ và của công ty con; doanh nghiệp không có vốn góp của công ty mẹ
và của công ty con, tự nguyện tham gia liên kết dưới hình thức hợp đồng liên kết hoặc không
có hợp đồng liên kết, nhưng có mối quan hệ gắn bó lâu dài về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị
trường và các dịch vụ kinh doanh khác với công ty mẹ hoặc doanh nghiệp thành viên trong
tập đoàn.
Mô hình của công ty mẹ:
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ

BAN KIỂM SOÁT

TỔNG GIÁM ĐỐC
PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC
BAN CHUYÊN MÔN 1

BAN CHUYÊN MÔN 2

Đối với công ty mẹ hoạt động trong các ngành, lĩnh vực đặc biệt, cơ cấu tổ chức quản
lý của công ty mẹ do Thủ tướng Chính phủ quyết định.
Hội đồng quản trị
Hội đồng quản trị là cơ quan đại diện trực tiếp chủ sở hữu nhà nước tại công ty mẹ,
thực hiện các quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với các doanh nghiệp do công ty mẹ đầu
tư toàn bộ vốn điều lệ và của chủ sở hữu đối với phần vốn góp của công ty mẹ tại các doanh
nghiệp khác.
Hội đồng quản trị có quyền nhân danh công ty mẹ để quyết định mọi vấn đề liên quan
đến việc xác định và thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ và quyền lợi của công ty mẹ, trừ những

Tổng giám đốc do Hội đồng quản trị bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, ký hợp
đồng, chấm dứt hợp đồng, khen thưởng, kỷ luật sau khi được Thủ tướng Chính phủ chấp
9


thuận bằng văn bản. Điều lệ công ty mẹ quy định cụ thể tiêu chuẩn và điều kiện trở thành
Tổng giám đốc.
Tổng giám đốc được bổ nhiệm hoặc ký hợp đồng với nhiệm kỳ 05 năm. Hội đồng
quản trị quyết định việc bổ nhiệm lại hoặc ký tiếp hợp đồng đối với Tổng giám đốc sau khi
được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận.
Phó tổng giám đốc, bộ máy giúp việc và tham gia của người lao động vào quản lý
điều hành công ty mẹ
Công ty mẹ có các Phó tổng giám đốc và Kế toán trưởng, do Hội đồng quản trị bổ
nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, cách chức, khen thưởng, kỷ luật theo đề nghị của Tổng
giám đốc.
Phó tổng giám đốc giúp Tổng giám đốc trong việc điều hành; thực hiện nhiệm vụ và
quyền hạn do Tổng giám đốc giao; chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc và trước pháp luật
về nhiệm vụ và quyền hạn được giao.
Phó tổng giám đốc được bổ nhiệm với thời hạn tối đa là 05 năm và có thể được bổ
nhiệm lại. Chế độ lương, phụ cấp trách nhiệm, tiền thưởng của Phó tổng giám đốc, Kế toán
trưởng do Hội đồng quản trị quyết định theo đề nghị của Tổng giám đốc và theo quy định tại
khoản 9 Điều 30 Nghị định này.
Bộ máy giúp việc gồm Văn phòng và các Ban chuyên môn, nghiệp vụ có chức năng
tham mưu, giúp việc Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc trong quản lý, điều hành công ty mẹ
và tập đoàn kinh tế. Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của bộ máy giúp
việc do Tổng giám đốc quyết định sau khi được Hội đồng quản trị chấp thuận.
Mô hình của công ty con.
Tùy theo loại hình thành lập của công ty con mà chúng sẽ có mô hình tổ chức của loại
hình doanh nghiệp ấy.
Đánh giá mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước


11


Trong đó công ty mẹ là Tập đoàn Điện lực Việt Nam (tên giao dịch quốc tế
là Vietnam Electricity, viết tắt là EVN) là một doanh nghiệp nhà nước của Việt Nam kinh
doanh đa ngành. Trước tháng 9 năm 2006, tập đoàn này chính là Tổng công ty Điện lực Việt
Nam, một tổng công ty nhà nước do trung ương quản lý. Trụ sở chính của tập đoàn nằm tại
số 18 phố Trần Nguyên Hãn, phường Lý Thái Tổ, quận Hoàn Kiếm, TP Hà Nội.
3.1.1 Cơ cấu tổ chức quản lý và điều hành của EVN gồm:
a) Hội đồng thành viên.

12


b) Tổng Giám đốc.
c) Các Phó Tổng Giám đốc và Kế toán trưởng.
d) Bộ máy giúp việc, Ban Kiểm soát nội bộ.
* Hội đồng thành viên EVN
- Hội đồng thành viên EVN là cơ quan đại diện theo ủy quyền của chủ sở hữu nhà
nước tại EVN; thực hiện các quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với cổ phần, vốn góp của
EVN tại các công ty con, công ty liên kết.
-Hội đồng thành viên EVN có quyền nhân danh EVN để quyết định mọi vấn đề liên
quan đến việc xác định và thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ và quyền lợi của EVN, trừ những
vấn đề thuộc thẩm quyền, trách nhiệm của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ hoặc phân cấp
cho các cơ quan, tổ chức khác là đại diện chủ sở hữu thực hiện.
- Hội đồng thành viên EVN chịu trách nhiệm trực tiếp trước Thủ tướng Chính phủ và
trước pháp luật về mọi hoạt động của EVN.
- Hội đồng thành viên EVN có từ 05 đến 09 thành viên do Thủ tướng Chính phủ bổ
nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm hoặc thay thế, cách chức, khen thưởng, kỷ luật theo đề

+ Không trung thực trong thực thi các quyền hạn hoặc lạm dụng địa vị, quyền hạn để
thu lợi cho bản thân hoặc cho người khác; báo cáo không trung thực tình hình tài chính của
EVN.
+ Bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
+ Bị Tòa án kết án bằng bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật.
- Tổng Giám đốc EVN được thay thế trong các trường hợp sau:
+ Tự nguyện xin từ chức và được cấp có thẩm quyền chuấn thuận bằng văn bản theo
đúng trình tự pháp luật.
+ Khi có quyết định điều chuyển, nghỉ hưu hoặc được bố trí công việc khác.
* Phó Tổng Giám đốc, Kế toán trưởng, bộ máy giúp việc

14


- EVN có các Phó Tổng Giám đốc và Kế toán trưởng, do Hội đồng thành viên EVN
bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, cách chức, khen thưởng, kỷ luật theo đề nghị của Tổng
Giám đốc EVN.
- Phó Tổng Giám đốc giúp Tổng Giám đốc EVN trong việc điều hành; thực hiện
nhiệm vụ và quyền hạn do Tổng Giám đốc giao; chịu trách nhiệm trước Tổng Giám đốc và
trước pháp luật về nhiệm vụ và quyền hạn được giao.
- Kế toán trưởng EVN có nhiệm vụ tổ chức thực hiện công tác kế toán của EVN; giúp
Tổng Giám đốc giám sát tài chính tại EVN theo quy định của pháp luật về tài chính, kế toán;
chịu trách nhiệm trước Tổng Giám đốc và trước pháp luật về nhiệm vụ được phân công hoặc
ủy quyền.
- Phó Tổng Giám đốc và Kế toán trưởng EVN được bổ nhiệm với thời hạn tối đa là
05 năm và có thể được bổ nhiệm lại. Chế độ lương, phụ cấp trách nhiệm, tiền thưởng của
Phó Tổng Giám đốc, Kế toán trưởng do Hội đồng thành viên EVN quyết định theo đề nghị
của Tổng Giám đốc và theo quy định tại Điều 33 Điều lệ này.
- Bộ máy giúp việc gồm Văn phòng và các Ban chuyên môn, nghiệp vụ có chức năng
tham mưu, giúp việc Hội đồng thành viên, Tổng Giám đốc EVN trong quản lý, điều hành

+ Hình thành, quản lý và sử dụng các quỹ tập trung của Tập đoàn Điện lực Quốc gia
Việt Nam.
+ Quản lý, sử dụng đất đai, tài nguyên khoáng sản.
+ Công tác lao động, tiền lương, y tế, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực.
+ Công tác an toàn lao động, phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường.
+ Công tác ứng dụng khoa học, công nghệ.
+ Đặt tên các đơn vị trong Tập đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam; sử dụng tên gọi,
nhãn hiệu, thương hiệu của EVN.
+ Thực hiện công tác hành chính, công tác đối ngoại của Tập đoàn Điện lực Quốc gia
Việt Nam.

16


+ Quản lý công tác thi đua khen thưởng, văn hóa, thể thao và các công tác xã hội.
+ Các nội dung khác theo thỏa thuận của các doanh nghiệp thành viên.
a/ Quan hệ giữa EVN và các đơn vị trực thuộc EVN:
- Đơn vị trực thuộc EVN thực hiện chế độ phân cấp theo quy định tại Điều lệ hoặc
Quy chế tổ chức và hoạt động của đơn vị hạch toán phụ thuộc; được tạo nguồn thu từ việc
thực hiện các hợp đồng cung cấp hàng hóa, dịch vụ với các đơn vị trong và ngoài EVN;
được hạch toán chi phí hoạt động vào chi phí của EVN.
- Thủ trưởng đơn vị trực thuộc EVN được quyết định các dự án đầu tư, các hợp đồng
mua, bán tài sản, hợp đồng thuê, cho thuê, hợp đồng vay, cho vay và các hợp đồng khác theo
Quy chế phân cấp hoặc ủy quyền của Hội đồng thành viên EVN và các quy định của pháp
luật.
b/. Quan hệ giữa EVN với các công ty con :
* Quan hệ giữa EVN với các công ty con do EVN nắm giữ 100% vốn điều lệ
- Hội đồng thành viên EVN thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với công
ty con do EVN nắm giữ 100% vốn điều lệ các quy định dưới đây:
+ Quyết định điều chỉnh vốn điều lệ theo đề nghị của Hội đồng thành viên hoặc

đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam và quy định pháp luật có liên quan.
+ Có nghĩa vụ thực hiện thỏa thuận chung của Tập đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam;
các cam kết hợp đồng với EVN và doanh nghiệp thành viên Tập đoàn Điện lực Quốc gia
Việt Nam; triển khai thực hiện các quyết định hợp pháp thuộc thẩm quyền chủ sở hữu của
EVN đối với doanh nghiệp; có trách nhiệm tham gia kế hoạch phối hợp kinh doanh với EVN
và các doanh nghiệp thành viên Tập đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam.
- Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty con do EVN nắm giữ 100% vốn điều lệ
quyết định các dự án đầu tư, các hợp đồng mua, bán tài sản, hợp đồng thuê, cho thuê, hợp
đồng vay, cho vay và các hợp đồng khác theo Quy chế phân cấp, ủy quyền của Hội đồng
thành viên EVN, Điều lệ của công ty và quy định của pháp luật.
* Quan hệ giữa EVN với các công ty con do EVN giữ quyền chi phối
18


- EVN có các quyền và nghĩa vụ của cổ đông, thành viên góp vốn đối với các công ty
con do EVN giữ cổ phần, vốn góp chi phối (sau đây gọi là công ty bị chi phối) theo quy định
pháp luật có liên quan. Hội đồng thành viên EVN trực tiếp thực hiện các quyền và nghĩa vụ
sau:
+ Thực hiện quyền, nghĩa vụ của cổ đông, thành viên góp vốn thông qua người đại
diện tại công ty bị chi phối theo quy định của pháp luật và Điều lệ của công ty bị chi phối.
+ Cử, thay đổi, bãi miễn, khen thưởng, kỷ luật, quyết định phụ cấp và lợi ích của
người đại diện.
+ Yêu cầu người đại diện báo cáo định kỳ hoặc đột xuất về tình hình tài chính, kết
quả kinh doanh và các nội dung khác của công ty bị chi phối.
+ Chỉ đạo người đại diện sử dụng quyền chi phối hoặc phủ quyết trong việc quyết
định phê duyệt Điều lệ, sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty bị chi phối; mục tiêu, định hướng,
chiến lược phát triển, kế hoạch dài hạn, việc bổ sung ngành, nghề kinh doanh, các dự án đầu
tư, hợp đồng mua, bán, vay, cho vay và hợp đồng khác thuộc thẩm quyền quyết định của Hội
đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên công ty bị chi phối; huy động thêm cổ phần, vốn
góp; phê duyệt báo cáo quyết toán, phương án sử dụng lợi nhuận sau thuế hàng năm của

- EVN quản lý cổ phần, vốn góp thông qua người đại diện; thực hiện quyền, nghĩa vụ
và trách nhiệm của cổ đông, bên góp vốn theo quy định của pháp luật và Điều lệ của công ty
liên kết.
- EVN quan hệ với công ty liên kết thông qua hợp đồng hoặc thỏa thuận về: định
hướng và lựa chọn công nghệ; nghiên cứu và phát triển nguồn điện, hệ thống điện, hệ thống
truyền dẫn viễn thông công cộng; phát triển công nghệ sửa chữa và chế tạo thiết bị điện,
thiết bị viễn thông; phát triển ngân hàng, bảo hiểm; liên kết về nghiên cứu khoa học công
nghệ và phát triển nguồn nhân lực; sử dụng nhãn hiệu, thương hiệu EVN trong kinh doanh
và các hoạt động khác.

20


3.2. Phân tích Mô hình tập đoàn điện lực Việt Nam :
Thực tiễn hoạt động tập đoàn điện lực Việt Nam cũng mang lại hiệu quả nhưng thật
sự kết quả sản xuất, kinh doanh chưa tương xứng với đầu tư của Nhà nước, hiệu quả hoạt
động chưa cao, năng suất lao động còn thấp. Bên cạnh đó mô hình Tập đoàn kinh tế ở Việt
Nam còn quá mới mẻ, vì vậy Tập đoàn điện lực cũng bộc lộ một số vấn đề cần được tiếp tục
nghiên cứu và hoàn thiện, đó là:
- Được thành lập, liên kết bằng quyết định hành chính, là biến thể của mô hình
Tổng công ty cũ, chưa thực hiện được mục tiêu đề ra là trở thành Tập đoàn kinh tế mạnh.
- Tổ chức và hoạt động chưa có đổi mới nhiều so với Tổng công ty nhà nước
trước đây, chưa tạo được sự đột phá mạnh mẽ cho mô hình Tập đoàn kinh tế.
- Chưa tách bạch rõ chức năng quản lý hành chính nhà nước với chức năng của
Chủ sở hữu nhà nước đối với Tập đoàn điện lực; cơ chế quản lý Tập đoàn còn nhiều bất cập.
Chi phối theo tỷ lệ vốn là phương thức chi phối chủ yếu trong các tập đoàn kinh tế. Tuy
nhiên, việc này cũng đặt ra một thực tế là nếu chỉ thuần túy dựa trên nguyên tắc đối vốn thì
Công ty mẹ (nắm giữ 51% vốn điều lệ) gặp khó khăn để chi phối được các công ty con trong
những quyết định quan trọng, nhất là những công ty con hoạt động ở những lĩnh vực then
chốt của tập đoàn.

Mô hình tập đoàn kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay có thể vận dụng các quy định
có liên quan của Nghị định số 101/2009/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết về tập đoàn kinh tế nhà
nước ( phần I), Nghị định số 102/2010/NĐ-CP, luật Doanh nghiệp 2005 mô hình về nhóm
công ty để tổ chức và hoạt động.
Theo điều 38 Nghị định số 102/2010/NĐ-CP hướng dẫn bổ sung về tập đoàn kinh tế
qui định: Tập đoàn kinh tế bao gồm nhóm các công ty có quy mô lớn, có tư cách pháp nhân
độc lập, được hình thành trên cơ sở tập hợp, liên kết thông qua đầu tư, góp vốn, sáp nhập,
mua lại, tổ chức lại hoặc các hình thức liên kết khác; gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh
tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác tạo thành tổ hợp kinh doanh có từ
hai cấp doanh nghiệp trở lên dưới hình thức công ty mẹ - công ty con.
Đối với tập đoàn kinh tế tư nhân, đó là sự liên kết tự nguyện của các thế mạnh về vốn,
thương hiệu, kỹ thuật, công nghệ, thị trường, đối tác quốc tế, trình độ quản lý... giữa các
doanh nghiệp độc lập. Tập đoàn có thể nắm giữ 100% vốn hoặc giữ cổ phần, vốn góp chi
phối tại các công ty con.
Công ty mẹ, công ty con và các công ty khác hợp thành tập đoàn kinh tế có các
quyền, nghĩa vụ, cơ cấu tổ chức quản lý và hoạt động phù hợp với hình thức tổ chức doanh
nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp, pháp luật liên quan và Điều lệ công ty.
Từ thực tiễn Việt Nam, đối chiếu thực tiễn Pháp lý đầu tư, các tập đoàn kinh tế tư
nhân được hình thành chủ yếu thông qua 2 cách:
Theo hướng liên kết chặt chẽ góp vốn, mua cổ phần, thành lập Công ty con theo mô
hình tập đoàn.Ví dụ: Tập đoàn FPT, Tập đoàn Hoà Phát;
Hoặc tổ chức Công ty cổ phần mang tên Tập đoàn. Ví dụ: Tập đoàn Phú Thái, Việt á,
Mai Linh, Kim Đỉnh, Vinamilk...

23


Tư cách pháp nhân: Tập đoàn kinh tế không có tư cách pháp nhân, không phải đăng
ký kinh doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp. Việc tổ chức hoạt động của tập đoàn
do các công ty lập thành tập đoàn tự thỏa thuận quyết định.

Hiện nay, chưa có khung Pháp lý rõ ràng về các yêu cầu và tiêu chí cụ thể qui định
qui mô, phương pháp tổ chức, các hệ thống quản lý, đội ngũ cán bộ, số vốn pháp định, các
chỉ tiêu kinh tế tối thiểu, tính liên kết các sản phẩm và ngành nghề… đối với việc thành lập
các tập đoàn kinh tế tư nhân ở Việt Nam. Điều này đã gây 1 số khó khăn cho 1 số Doanh
Nghiệp trên con đường hình thành tập đoàn kinh tế.
Theo Nghị định số 153/2004/NĐ-CP ngày 09/08/2004 của Chính phủ về Tổ chức,
Quản lý Tổng Công ty Nhà nước và chuyển đổi tổng Công ty Nhà nước, Công ty Nhà nước
độc lập theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con. Đối với cả khu vực nhà nước và tư nhân,
các tập đoàn hiện nay thực chất mới chỉ là cái tên, còn hoạt động theo mô hình cụ thể nào thì
vẫn chưa có lời giải đáp thỏa đáng. nhất là chưa được pháp luật thừa nhận một cách đầy đủ.
Các tập đoàn vẫn phải mang một cái tên không "chính danh" như "Công ty cổ phần tập
đoàn" hoặc "Công ty TNHH tập đoàn. các tập đoàn đều phải được hình thành từ quá trình và
phương thức vận động phát triển của thị trường chứ không phải từ các quyết định hành
chính.
2. Phân tích mô hình Công ty cổ phần tập đoàn Hoa sen ( Hoa Sen Group).
Giới thiệu
- Tên doanh nghiệp (tiếng Việt): CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN HOA SEN
- Tên doanh nghiệp (tiếng Anh): HOA SEN GROUP
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Phước Vũ – Chủ tịch Hội đồng Quản trị
- Vốn điều lệ của công ty là: 1.007.907.900.000
- CTCP Tập đoàn Hoa Sen có vị thế số 1 về sản xuất kinh doanh Tôn - Thép ở Việt
Nam, chiếm trên 40% thị phần cả nước (theo số liệu của Hiệp hội thép Việt Nam tháng
6/2012)
Mô hình tổ chức Công ty cổ phần tập đoàn Hoa sen:
Cơ cấu tổ chức:
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status