BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THỤC
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA CƠ QUAN THANH TRA CHUYÊN NGÀNH
Ở NƢỚC TA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành: Luật hành chính
Mã số: 603820
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. BÙI THỊ ĐÀO
Hà nội - 2012
MỤC LỤC
1.1.
Mở đầu
Chƣơng 1. Một số vấn đề lí luận về tổ chức và hoạt động
của cơ quan thanh tra chuyên ngành
Khái niệm thanh tra và vai trò của thanh tra trong quản lý hành
chính nhà nước
22
25
25
27
Chƣơng 2. Thực trạng tổ chức và hoạt động của cơ quan
2.1.
2.1.1.
2.1.2.
2.1.3.
2.1.4.
2.2.
2.2.1.
2.2.2.
3.1.
thanh tra chuyên ngành
Khái quát sự ra đời và phát triển về tổ chức và hoạt động của cơ
32
quan thanh tra chuyên ngành
Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954
Giai đoạn từ năm 1955 đến năm 1975
Giai đoạn từ 1975 đến trước khi có Pháp lệnh thanh tra 1990
Giai đoạn từ khi có Pháp lệnh thanh tra 1990 đến nay
Thực trạng về tổ chức và hoạt động của cơ quan thanh tra
chuyên ngành trong giai đoạn hiện nay
Thực trạng về tổ chức của cơ quan thanh tra chuyên ngành
của thanh tra chuyên ngành
3.2.
Quan điểm, phương hướng đổi mới tổ chức và hoạt động của
55
cơ quan thanh tra chuyên ngành
3.2.1. Quan điểm của Đảng và nhà nước về công tác thanh tra
56
56
3.2.2. Về vị trí, vai trò của cơ quan thanh tra chuyên ngành
57
3.2.3. Về tổ chức của cơ quan thanh tra chuyên ngành
58
3.2.4. Về hoạt động của cơ quan thanh tra chuyên ngành
3.3.
Giải pháp cụ thể
3.3.1. Hoàn thiện hệ thống thanh tra nói chung và cơ quan thanh tra
59
60
chuyên ngành nói riêng
3.3.2. Đổi mới về hoạt động của cơ quan thanh tra chuyên ngành
thách, vừa là cơ hội mới cho các quốc gia cơ cấu lại nền kinh tế đất nước và để tạo
đà cho một giai đoạn phát triển mới.
Để nâng cao năng lực nhà nước, một trong các yêu cầu đặt ra là bộ máy nhà
nước phải được cải cách mạnh mẽ, tạo nên một sự thay đổi lớn trong tổ chức và
hoạt động để phù hợp, hiệu quả với đòi hỏi một nền kinh tế mới.
Một trong những giải pháp cải cách bộ máy nhà nước nói chung và bộ máy
hành chính nói riêng là cần tiếp tục xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực nhà
nước chống lại sự lạm quyền. Thanh tra là phương thức kiểm soát hữu hiệu trong
hoạt động quản lý hành chính nhà nước, “là phương thức đảm bảo pháp chế và kỷ
luật trong quản lý nhà nước” [9, tr.8].
Hoạt động thanh tra có vai trò rất quan trọng - Chức năng thiết yếu của quản
lý nhà nước vì vậy đổi mới tổ chức và hoạt động của thanh tra nhà nước, nhất là
thanh tra chuyên ngành nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong mọi mặt
của đời sống xã hội. Trong thời gian qua, thanh tra nhà nước đã ngày càng được
hoàn thiện về tổ chức và hoạt động, tuy nhiên hệ thống thanh tra, thanh tra chuyên
ngành trong thực tiễn còn nhiều bất cập.
Về tổ chức của thanh tra chuyên ngành không phù hợp với quy định của pháp
luật thanh tra. Trên thực tế tồn tại rất nhiều mô hình tổ chức thanh tra chuyền
ngành: (1) Mô hình tổ chức thanh tra ở Tổng cục, Cục thuộc Bộ; (2) Giao nhiệm
vụ thanh tra chuyên ngành cho chính cơ quan thực hiện chức năng quản lý về
4
ngành, lĩnh vực đó; (3) dạng biểu hiện khác của thanh tra chuyên ngành như:
thanh tra khu công nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất hoặc thanh tra xây dựng ở
các quận, huyện, xã, phường thị trấn.
Để khắc phục tình trạng này, Luật Thanh tra 2010 quy định hệ thống tổ chức
thanh tra chuyên ngành gồm thanh tra bộ, thanh tra sở và cơ quan được giao thực
hiện chức năng thanh tra chuyên ngành - tổng cục, cục thuộc bộ, chi cục thuộc sở
mà không thành lập cơ quan thanh tra chuyên ngành độc lập [14, điều 4]. Mặt
quan thanh tra chuyên ngành
Đề xuất phương hướng đổi mới về tổ chức và hoạt động cơ quan thanh tra
chuyên ngành; kiến nghị một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về
tổ chức và hoạt động thanh tra chuyên ngành nói chung, cơ quan thanh tra chuyên
ngành nói riêng.
Nhiệm vụ
Luận văn giải quyết 3 nhiệm vụ cụ thể:
Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về tổ chức và hoạt động thanh tra chuyên
ngành
Đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động thanh tra chuyên ngành
Đề xuất phương hướng và giải pháp đổi mới góp phần hoàn thiện pháp luật về
tổ chức và hoạt động thanh tra chuyên ngành
3. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian qua, việc nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của cơ quan
thanh tra chuyên ngành là một vấn đề mới, chưa được quan tâm nhiều trên cả
phương diện khoa học pháp lý cũng như thực tiễn vì tính chất phức tạp, đa dạng
trong quá trình tổ chức và thực hiện chức năng quản lý nhà nước, quản lý ngành,
lĩnh vực. Về vấn đề này đã có một số công trình nghiên cứu đề cập đến dưới các
góc độ khác nhau:
Đề tài khoa học cấp cơ sở: “Một số giải pháp nhằm hạn chế trùng lắp, chồng
chéo trong hoạt động thanh tra”. Đề tài làm rõ quan niệm về trùng lắp, chống
chéo, vai trò của công tác thanh tra, hoạt động thanh tra và các dạng chồng
chéo, trùng lắp trong hoạt động thanh tra; Kết quả hoạt động thanh tra từ khi có
luật thanh tra năm 2004, phân tích, đánh giá thực trạng và nguyên nhân dẫn
đến sự trùng lắp, chồng chéo trong hoạt động thanh tra; Quan điểm, phương
hướng khắc phục và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về thanh tra và tổ
chức thực hiện nhằm khắc phục chồng chéo, trùng lắp trong hoạt động thanh
7
tra.
Đề tài: “Tổ chức, hoạt động và mối quan hệ giữa Thanh tra Bộ và Thanh tra
chuyên ngành”, Nguyễn Khắc Hường. Nội dung đề tài đề cập đến: Cơ sở lý
luận về tổ chức hoạt động và mối quan hệ giữa Thanh tra bộ và Thanh tra
chuyên ngành; Thực trạng về tổ chức hoạt động và mối quan hệ giữa Thanh
tra bộ và Thanh tra chuyên ngành; Giải pháp, kiến nghị về hoàn thiện tổ chức
hoạt động và mối quan hệ giữa Thanh tra bộ và Thanh tra chuyên ngành.
Luận văn Thạc sĩ luật học: “Hoàn thiện tổ chức và hoạt động của thanh tra Bộ
ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, qua thực tiễn ngành giao thông vận tải”,
Trần Văn Trường; “Đổi mới tổ chức và hoạt động của thanh tra bộ, thanh tra
trong tổ chức và hoạt động của cơ quan thanh tra chuyên ngành, nêu lên những
kiến nghị, giải pháp cụ thể góp phần hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động
của cơ quan thanh tra chuyên ngành.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan thanh
tra chuyên ngành: thanh tra Bộ, thanh tra Sở; mối quan hệ giữa tổ chức và hoạt
động của các cơ quan thanh tra chuyên ngành.
Nghiên cứu thực trạng tổ chức và hoạt động của cơ quan thanh tra chuyên
ngành:
-
Sự phù hợp pháp luật thanh tra với thực tiễn về tổ chức và hoạt động của
cơ quan thanh tra chuyên ngành
-
Sự phù hợp giữa tổ chức bộ máy với hoạt động thanh tra của cơ quan thanh
tra chuyên ngành
-
Đánh giá chung thực tiễn về tổ chức và hoạt động của cơ quan thanh tra
chuyên ngành, rút ra những điểm còn vướng mắc, mâu thuẫn và hạn chế.
Luận văn được triển khai thực hiện trên cơ sở phương pháp luận và các
phương pháp nghiên cứu cụ thể, trong đó:
Phương pháp luận: Phương pháp luận Mác – Lênin về chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và
pháp luật.
-
Vận dụng quan điểm triết học về phép biện chứng : mối liên hệ phổ biến về
sự phát triển (khi nghiên cứu lược sử phát triển pháp luật thanh tra chuyên
ngành, mối quan hệ giữa tổ chức và hoạt động thanh tra chuyên ngành…),
mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng (khi nghiên cứu
thực trạng tổ chức và hoạt động thanh tra chuyên ngành); Về các cặp phạm
trù giữa cái chung và cái riêng (mối quan hệ thanh tra nhà nước và thanh
tra chuyên ngành), giữa hình thức và nội dung, bản chất và hiện tượng (khi
nghiên cứu giữa pháp luật và thực tiễn hoạt động…).
-
Vận dụng phương pháp luận duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lê nin,
đứng trên quan điểm của Đảng, nhà nước ta về nhà nước và pháp luật; xây
10
dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân và
vì dân.
hiệu lực và hiệu quả của thanh tra chuyên ngành.
8. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia thành 3 chương:
11
Chương 1: Những vấn đề lý luận về tổ chức và hoạt động của cơ quan thanh
tra chuyên ngành
Chương 2: Thực trạng về tổ chức và hoạt động của cơ quan thanh tra chuyên
ngành
Chương 3: Phương hướng và giải pháp cụ thể hoàn thiện tổ chức và hoạt động
cơ quan thanh tra chuyên ngành.
12
CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT
ĐỘNG CỦA CƠ QUAN THANH TRA CHUYÊN NGÀNH
1.1 Khái niệm thanh tra và vai trò của thanh tra trong quản lý hành chính
nhà nƣớc
1.1.1. Khái niệm thanh tra, thanh tra chuyên ngành
1.1.1.1. Khái niệm thanh tra
Theo tiếng Latinh, thanh tra có nghĩa là "nhìn vào bên trong", chỉ một sự kiểm
tra, xem xét từ bên ngoài đối với hoạt động của một đối tượng nhất định. Theo Từ
điển tiếng Việt, "Thanh tra là kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương,
cơ quan, xí nghiệp”[28]; Từ điển pháp luật Anh- Việt, thanh tra là "sự kiểm soát,
Khái niệm thanh tra nói chung và thanh tra chuyên ngành nói riêng thường
dùng để chỉ một hoạt động cụ thể nhân danh quyền lực công vì thanh tra là một
khâu của quản lý nhà nước và ở đâu có quản lý nhà nước thì ở đó có hoạt động
thanh tra.
Quan niệm về thanh tra, thanh tra chuyên ngành ở các quốc gia là khác nhau
vì cấu trúc nhà nước hoặc cơ cấu kinh tế, phương thức hoạt động cũng như các tổ
chức thanh tra khác nhau: có nước chỉ sử dụng thanh tra nhà nước (thanh tra của
Quốc hội); thanh tra của Chính phủ (thanh tra hành pháp); có nước sử dụng thanh
tra như một lực lượng cảnh sát (hoặc bán cảnh sát) hoặc phân về các ngành quản
lý để phục vụ quyền lực; có nước chỉ sử dụng thanh tra chuyên ngành. Nhưng bất
kỳ ở hình thức nào, thanh tra chuyên ngành là loại hoạt động nhân danh quyền lực
nhà nước tác động đến đối tượng quản lý để phát hiện sai phạm, bảo vệ pháp luật,
pháp luật chuyên ngành, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Ở Việt Nam, Luật
Thanh tra hiện hành quy định “Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức,
cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn,
kỹ thuật, quy tắc quản lý ngành, lĩnh vực đó” [14, Điều 3, khoản 3].
15
Để làm rõ khái niệm thanh tra chuyên ngành thì cũng cần xem xét khái niệm
ngành và quản lý ngành hiện nay. “Ngành” là khái niệm “chỉ tổng thể những đơn
vị, tổ chức sản xuất – kinh doanh có cùng cơ cấu kinh tế - kỹ thuật hay các tổ
chức, đơn vị hoạt động với mục đích giống nhau”. Xét từ thực tiễn còn có một
cách khái niệm về “ngành”, theo đó ngành là một “hệ thống cơ quan nhà nước từ
trung ương tới địa phương” [18, tr 100 - 101]. Như vậy, có sự phân chia các lĩnh
vực hoạt động trong xã hội thành các ngành thì cũng đòi hỏi phải có hoạt động
quản lý ngành. Sự phân chia các mặt hoạt động xã hội thành "ngành" là kết quả
phân công lao động xã hội xảy ra đồng thời với quá trình phát triển sản xuất và
quy định nó là một bộ phận của Thanh tra nhà nước (vì về lý thuyết, không có
khái niệm thanh tra nhà nước), chỉ có thanh tra (nhân danh quyền lực nhà nước
trong ngành, lĩnh vực) chứ không có "tổ chức thanh tra nhà nước". Tức là thanh
tra chuyên ngành mang tính chất nhà nước chứ không phải thanh tra chuyên
ngành của nhà nước nói chung; (ii) cần hiểu rõ tính chất nhà nước trong điều kiện
hiện nay, có thể do Nhà nước thành lập (các Bộ thành lập) như thanh tra chuyên
ngành ở một số bộ, ngành đang hiện hữu, nhưng cũng có thể không do Nhà nước
thành lập (mà uỷ quyền thành lập). Sự uỷ quyền ở đây lại được chia ra thành hai
phạm vi : (1) Bản thân cơ quan, bộ, ngành thành lập; (2) có thể uỷ quyền cho các
tổ chức xã hội hoặc hiệp hội gắn với chuyên ngành (Hội bảo vệ người tiêu dùng,
Hội quy chuẩn, tiêu chuẩn, Hiệp hội giao thông vận tải v.v…). Không nhất thiết
là, cứ có ngành nào thì cơ quan ngành đó lại thành lập thanh tra chuyên ngành
(nhằm khắc phục tính chất cục bộ, vừa đá bóng, vừa thổi còi).
Tuy nhiên, quan điểm này cần được đặt trong tương quan trình độ quản lý nhà
nước ở mỗi quốc gia. Ở Việt Nam hiện nay, việc quan niệm như Luật thanh tra là
phù hợp với điều kiện thực tiễn, thanh tra chuyên ngành là một loại thanh tra nhà
nước được thành lập theo ngành, lĩnh vực.
1.1.2. Vai trò của thanh tra, thanh tra chuyên ngành trong quản lí hành chính
nhà nước
Vai trò của thanh tra, của thanh tra chuyên ngành trong quản lý hành chính nhà
nước được đề cập trong mối quan hệ thanh tra, thanh tra chuyên ngành đối với
hoạt động quản lý hành chính nhà nước
17
1.1.2.1. Thanh tra trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước
Thanh tra là một phần tất yếu của hoạt động quản lý hành chính nhà nước vì
hoạt động quản lý hành chính nhà nước gồm hoạt động tác động tới đối tượng
quản lý nhằm mục đích định trước. Thanh tra, kiểm tra để [14, điều 2] phát hiện
chức thanh tra “tương đồng” với mô hình tổ chức hành chính. Hệ thống thanh tra
nhà nước gồm: Thanh tra Chính phủ, Thanh tra Bộ, thanh tra Tỉnh, thanh tra Sở,
thanh tra Huyện và cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên
ngành. Vấn đề cốt lõi ở đây, là cần có thiết chế và cơ chế hoạt động của thanh tra
để tăng cường tính độc lập thanh tra nhằm khắc phục sự can thiệp tùy tiện, thiếu
khách quan của chủ thể quản lý vào hoạt động thanh tra.
Hai là, độc lập tương đối về hoạt động, hoạt động thanh tra không đồng nhất
với hoạt động quản lý, điều hành vì hoạt động thanh tra thể hiện sự tác động của
chủ thể quản lý - chủ thể mang quyền lực hành chính nhà nước tác động lên đối
tượng quản lý nhưng kết quả của hoạt động thanh tra (mục đích) là mang lại cho
chủ thể quản lý những thông tin khách quan, kiểm soát hoạt động điều hành - chấp
hành, nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến
nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục. Hơn nữa, hoạt
động thanh tra không chỉ xem xét tính hợp pháp trong quá trình thực hiện các
quyết định quản lý, mà còn xem xét tính hợp lý trong hành vi của đối tượng bị
quản lý, do đó hoạt động thanh tra phải phản ánh trung thực, khách quan hoạt
động chấp hành – điều hành. Tính độc lập về hoạt động thanh tra thể hiện trong
quá trình chuẩn bị thanh tra, tổ chức thực hiện hoạt động thanh tra và cả hoạt
động sau thanh tra. Trình tự, thủ tục này là “một trình tự hành vi công vụ” được
pháp luật hóa tạo thành “thể chế”, “tính chuyên nghiệp” của hoạt động thanh tra.
Giữa thanh tra và quản lý, thì quản lý là yếu tố có trước, nó quyết định mục đích,
chức năng, nội dung đối với hoạt động thanh tra, do đó, mối một lĩnh vực quản lý
đặc thù nhất định đòi hỏi phải có cơ chế tổ chức và hoạt động thanh tra phù hợp.
Ngược lại, hoạt động thanh tra có tác động tích cực trở lại đối với quản lý, “điều
chỉnh các sai lệnh chính là chức năng mà qua đó thanh tra được thấy rõ như là một
phần của toàn bộ hoạt động quản lý” [27, tr 589]. Nếu hoạt động thanh tra có hiệu
quả sẽ góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý và pháp luật. Vì vậy, khi
đánh giá hiệu lực, hiệu quả của hoạt động thanh tra, không chỉ đánh giá trên chính
19
ngành như hiện nay.
20
Thanh tra chuyên ngành trở thành cần thiết trong hoạt động quản lý vì:
Những chính sách, pháp luật, quyết định quản lý dù có đúng đắn và phù hợp
với thực tiễn cũng có thể không được thực hiện một cách nghiêm chỉnh nếu
không có thanh tra, kiểm tra; Hơn nữa, nhà quản lý và các đối tượng thừa hành
đều có thể mắc sai lầm và vì vậy, hoạt động thanh tra chuyên ngành giúp phát
hiện và xử lý kịp thời các vi phạm trước khi nó trở thành nghiêm trọng.
Thanh tra chuyên ngành phát hiện những sai sót, chưa phù hợp của những
chính sách, pháp luật và biện pháp quản lý đang được thực hiện, qua đó các
chủ thể quản lý cũng có điều kiện để đánh giá lại các quyết định quản lý của
mình nhằm tìm ra cơ chế, chính sách, biện pháp quản lý cho phù hợp. Như
vậy, thanh tra, kiểm tra giúp cho hoạt động quản lý luôn luôn được đổi mới,
chất lượng hoạt động quản lý được tăng lên.
Trong nền kinh tế thị trường, các yếu tố cấu thành thị trường, các quan hệ kinh
tế luôn luôn vận động và phát triển, nhiều quan hệ kinh tế được hình thành với
tính chất phức tạp hơn, đòi hỏi trình độ quản lý nhà nước về kinh tế - xã hội
phải được nâng lên. Thanh tra chuyên ngành là biểu hiện, vừa thúc đẩy sự
phân công và chuyên môn hóa công tác quản lý nhà nước đáp ứng những yêu
giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; tiến hành thanh tra, giải
quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật;
Cơ quan thanh tra chuyên ngành còn có đặc điểm riêng:
Sự tác động bằng quyền lực của cơ quan thanh tra chuyên ngành phải hướng
tới tất cả các lĩnh vực của quản lý nhà nước ( cơ quan thanh tra chuyên ngành
này gắn liền với các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chuyên môn).
Tính chất nghiệp vụ của các cơ quan thanh tra chuyên ngành mang màu sắc
chuyên môn của ngành, lĩnh vực (cơ quan thanh tra chuyên ngành này gắn liền
với các cơ quan quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực).
1.2.2. Tổ chức của hệ thống thanh tra chuyên ngành
Hệ thống cơ quan có chức năng thanh tra chuyên ngành bao gồm:
Thanh tra Bộ là cơ quan của bộ, giúp Bộ trưởng quản lý nhà nước về công tác
thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; tiến hành
thanh tra hành chính đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý
22
của bộ; tiến hành thanh tra chuyên ngành đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân
thuộc phạm vi quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực của bộ; giải quyết khiếu
nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật.
Thanh tra bộ là đơn vị của bộ, có chức năng thanh tra hành chính và chức
Trong thanh tra bộ và thanh tra sở đều có thanh tra viên, thanh tra viên là
công chức nhà nước được bổ nhiệm vào ngạch thanh tra viên để thực hiện
nhiệm vụ thanh tra và các nhiệm vụ khác của cơ quan thanh tra nhà nước theo
sự phân công của Thủ trưởng cơ quan thanh tra. Thanh tra viên phải có các
tiêu chuẩn chung như sau: trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; có phẩm chất đạo đức tốt, có ý thức trách
nhiệm, liêm khiết, trung thực, công minh, khách quan; tốt nghiệp đại học, có
kiến thức quản lý nhà nước và kiến thức pháp luật; đối với Thanh tra viên
chuyên ngành còn phải có kiến thức chuyên môn về chuyên ngành đó; có
nghiệp vụ thanh tra; có ít nhất hai năm làm công tác thanh tra đối với người
mới được tuyển dụng vào ngành thanh tra (không kể thời gian tập sự); nếu là
cán bộ, công chức công tác ở cơ quan, tổ chức khác chuyển sang cơ quan
thanh tra nhà nước thì phải có ít nhất một năm làm công tác thanh tra. Thanh
tra viên có các ngạch sau: Thanh tra viên; Thanh tra viên chính; Thanh tra viên
cao cấp.
Tóm lại: Nằm trong hệ thống cơ quan thanh tra nói chung, các cơ quan thanh
tra chuyên ngành có tính độc lập tương đối với cơ quan thanh tra chỉ thực hiện
chức năng thanh tra hành chính và các cơ quan thanh tra chuyên ngành có mối
liên hệ với nhau tạo thành một tiểu hệ thống trong hệ thống cơ quan thanh tra.
Cơ quan thanh tra nhà nước nói chung và cơ quan thanh tra chuyên ngành
được tổ chức tại các cơ quan quản lý nhà nước, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ
trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp; đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra,
hướng dẫn về công tác, tổ chức và nghiệp vụ của Thanh tra Chính phủ; chịu sự
hướng dẫn về công tác, nghiệp vụ của cơ quan thanh tra cấp trên. Quy định này
tạo cơ sở pháp lý cho việc thành lập các cơ quan thanh tra, đồng thời làm rõ mối
quan hệ giữa các cơ quan thanh tra trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ
của mình.
24
25