Nâng cao hiệu qủa hoạt động của Uỷ ban nhân dân cấp xã ở nước ta trong giai đoạn hiện nay - Pdf 28

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của khoá luận
Xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) là đơn vị hành chính cơ sở, là
cấp gần dân nhất và là nơi diễn ra mọi hoạt động kinh tế, chính trị, văn hoá, xã
hội của các tầng lớp nhân dân.
Uỷ ban nhân dân (UBND) cấp xã là cơ quan hành chính Nhà nước ở địa
phương, có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong hệ thống chính trị ở nước ta,
là cầu nối chuyển tải và tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với quảng đại quần chúng nhân dân. UBND
cấp xã thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực kinh
tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng, trật tự và an toàn xã hội ở địa
phương theo thẩm quyền; đảm bảo cho các chủ trương, chính sách của Đảng và
pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống.
Hoạt động của UBND cấp xã có ảnh hưởng lớn tới tính hiệu quả của các
chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, có ý nghĩa vô
cùng to lớn với việc củng cố sự phát triển bền vững của xã hội, đảm bảo dân
chủ và nâng cao đời sống nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Cấp xã
là cấp gần dân nhất, là nền tảng của hành chính. Cấp xã làm được việc thì mọi
việc đều xong xuôi”.[3, tr.371]
Tuy nhiên, trên thực tế hoạt động của Uỷ ban nhân dân cấp xã còn chưa
được chuyên sâu, thiếu ổn định về nhân sự; tình trạng lãng phí, hình thức trong
hoạt động quản lý vẫn phổ biến. Bên cạnh đó, trình độ quản lý, chuyên môn,
nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã còn nhiều hạn chế, luôn rơi
vào trạng thái lúng túng, ngỡ ngàng trước sự thay đổi và xu thế phát triển
chung của thời đại, dẫn đến hiệu quả hoạt động của Uỷ ban nhân dân cấp xã
chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội.
Khẳng định tầm quan trọng của Uỷ ban nhân dân cấp xã trong hệ thống
chính trị ở nước ta. Nghị quyết Trung ương 5 khoá IX đã đề ra phương hướng
“đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở ở xã, phường, thị
trấn”. Nghị quyết chỉ đạo: “Cần nâng cao hiệu lực của cơ quan hành chính
theo hướng đề cao trách nhiệm và thẩm quyền của cơ quan hành chính cấp xã”

Để giải quyết những vấn đề cơ bản đã được đặt ra ở trên, em đã sử dụng
phương pháp duy vật biện chứng của Triết học Mác- LêNin và những phương
pháp khác như: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp
lịch sử, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh nhằm làm sáng tỏ nội
dung và phạm vi nghiển cứu của khoá luận.
5. Kết cấu của khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khoá luận
gồm 3 chương:
Chương I: Một số vấn đề chung về UBND cấp xã.
Chương II: Hoạt động của UBND cấp xã ở nước ta trong giai đoạn hiện
nay.
Chương III: Nâng cao hiệu quả hoạt động của UBND cấp xã ở nước ta
trong giai đoạn hiện nay.
CHƯƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ UỶ BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ
1.1. Khái niệm về Uỷ ban nhân dân cấp xã
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Ủy ban nhân dân là cơ quan chính
quyền nhân dân của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, được lập ra ở
các cấp xã, phường, thị trấn trực thuộc huyện; huyện, quận, thị xã, thành phố
trực thuộc tỉnh; tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương”. [34, tr.759]
Theo từ điển luật học: “UBND là tên gọi của các cơ quan chấp hành của
cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương”. [33, tr.538]
Điều 123 Hiến pháp 1992 (sửa đổi năm 2001) quy định: “UBND do Hội
đồng nhân dân bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan
hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp,
luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng
nhân dân (HĐND)”.
Điều 2 Luật tổ chức của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm
2003 quy định: “UBND là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, do
HĐND bầu là cơ quan chấp hành của HĐND, chịu trách nhiệm trước HĐND

- Sự chênh lệch về quy mô dân số và diện tích ở xã, thị trấn và phường:
Cho đến nay, khu vực nông thôn ở nước ta vẫn chiếm khoảng trên 80% dân số
và diện tích cả nước trong khi đó con số này của khu vực đô thị là khoảng gần
20% dân số và diện tích cả nước. Mật độ dân số ở nông thôn không đồng đều,
các làng xã ở vùng đồng bằng thường đông đúc nhưng ngược lại ở khu vực
miền núi, vùng sâu, vùng xa thì dân cư lại thưa thớt mà đất đai lại rộng. Dân cư
ở nông thôn đơn giản, thuần nhất, gắn bó với nhau từ lâu đời, có tính truyền
thống và huyết thống cao tạo nên những bản sắc và phong tục tập quán riêng,
cuộc sống chủ yếu mang tính chất tự cấp, tự túc.
Ở địa hình thành phố, mật độ dân số cao, thành phần dân cư phức tạp,
không thuần nhất, có nguồn gốc, lối sống và tập quán khác nhau. Lối sống của
dân cư phường phần lớn phụ thuộc vào thị trường và chủ yếu thông qua
phương thức mua bán; sự liên kết dân cư rất lỏng lẻo.
- Về phương diện cơ cấu kinh tế: Ở nông thôn, kinh tế chủ đạo là kinh tế
nông nghiệp. Ở đô thị, kinh tế chủ đạo là kinh tế công nghiệp, dịch vụ, thương
mại.
- Về chức năng: UBND xã, thị trấn bên cạnh chức năng là cơ quan hành
chính nhà nước ở địa phương còn là cơ quan tự quản ở xã, đại diện cho cộng
đồng dân cư ở cơ sở, giải quyết những vấn đề nội bộ của địa phương.
Trong khi đó UBND phường chỉ thuần tuý là cơ quan hành chính nhà
nước ở địa phương, thực hiện một số công việc quản lý hành chính nhà nước theo
quy định của pháp luật và một số nhiệm vụ do cấp trên giao.
Chính các điểm khác nhau nêu trên mà pháp luật đã quy định cho
UBND xã, thị trấn các nhiệm vụ và quyền hạn khác với UBND phường. Cụ
thể như sau:
1.2.1. Nhiệm vụ quyền hạn của UBND xã, thị trấn
* Trong lĩnh vực kinh tế:
- Xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và tổ chức thực hiện kế
hoạch đó;
- Lập dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; tổ chức thực hiện ngân

định của pháp luật;
- Phối hợp với các cơ quan hữu quan chống buôn lậu, trốn thuế, sản xuất
và lưu hành hàng giả ở địa phương;
* Trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, xã hội và thể dục thể thao :
- Thực hiện kế hoạch phát triển sự nghiệp giáo dục ở địa phương;
- Tổ chức xây dựng và quản lý, kiểm tra hoạt động của nhà trẻ, lớp mẫu
giáo, trường mầm non ở địa phương;
- Tổ chức và quản lý trạm y tế xã, tổ chức, thực hiện các chương trình y tế
cơ sở, dân số, kế hoạch hoá gia đình được giao;
- Tổ chức thực hiện chính sách, chế độ đối với thương, bệnh binh, gia đình
liệt sĩ, gia đình có công với nước; thực hiện công tác cứu tế xã hội, hoạt động từ
thiện ở địa phương;
- Quản lý, bảo vệ, tu bổ nghĩa trang liệt sĩ, quy hoạch quản lý nghĩa địa ở
địa phương;
- Xây dựng phong trào và tổ chức các hoạt động văn thể; vận động nhân
dân xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá…
* Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội:
- Tổ chức huấn luyện quân sự phổ thông; tuyên truyền, giáo dục xây dựng
quốc phòng toàn dân;
- Thực hiện công tác nghĩa vụ quân sự và tuyển quân theo kế hoạch; thực
hiện nhiệm vụ hậu cần tại chỗ; thực hiện chính sách đối với các lực lượng vũ
trang nhân dân ở địa phương;
- Thực hiện các biện pháp bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
- Quản lý hộ khẩu; tổ chức việc đăng ký tạm trú, tạm vắng;
* Trong lĩnh vực thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo :
- Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn có nhiệm vụ tổ chức, hướng dẫn và bảo đảm
thực hiện chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo; quyền tự do tín ngưỡng, tôn
giáo của nhân dân ở địa phương theo quy định của pháp luật.
* Trong lĩnh vực thi hành pháp luật :
- Tổ chức thực hiện, kiểm tra việc thi hành các văn bản do chính UBND

- Thanh tra việc sử dụng đất đai của tổ chức, cá nhân trên địa bàn
phường theo quy định của pháp luật;
- Quản lý và bảo vệ cơ sở hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn phường theo
phân cấp
- Quản lý, kiểm tra giấy phép xây dựng của tổ chức, cá nhân trên địa bàn
phường; [12]
Căn cứ vào các nhiệm vụ, quyền hạn mà UBND cấp xã phải thực hiện,
chúng ta thấy UBND cấp xã vừa phải thực hiện những nhiệm vụ thuộc chức năng
quản lý nhà nước được Nhà nước phân cấp hoặc uỷ quyền vừa phải tổ chức thực
hiện các Nghị quyết của HĐND cấp xã về phát triển kinh tế- xã hội, nâng cao đời
sống vật chất và văn hoá của nhân dân trên địa bàn.
1.3. Cơ cấu, tổ chức, hoạt động của UBND cấp xã
Để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, UBND cấp
xã cần phải có một cơ cấu, tổ chức, hoạt động khoa học và hợp lý, phát huy vai
trò là nền móng của Bộ máy hành chính nhà nước.
1.3.1. Cơ cấu của UBND cấp xã
Điều 122 Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 quy định: UBND
cấp xã do HĐND xã bầu ra, có từ 03 đến 05 thành viên, gồm có Chủ tịch, Phó
chủ tịch và Uỷ viên.
Người đứng đầu UBND cấp xã là Chủ tịch UBND do HĐND cấp xã trực
tiếp bầu ra. Chủ tịch UBND cấp xã nhất thiết phải là đại biểu HĐND cấp xã,
còn các thành viên khác của UBND cấp xã thì không nhất thiết phải là đại biểu
HĐND. Kết quả bầu các thành viên của UBND cấp xã phải được Chủ tịch
UBND cấp huyện phê chuẩn.
Trong nhiệm kì, nếu khuyết Chủ tịch UBND cấp xã thì Chủ tịch HĐND
cùng cấp giới thiệu người ứng cử Chủ tịch UBND để HĐND bầu. Người được
bầu giữ chức Chủ tịch UBND cấp xã trong nhiệm kì không nhất thiết là đại
biểu HĐND. Quy định này nhằm tạo ra cơ chế linh hoạt và đảm bảo tính hiệu
quả trong việc thực hiện chức năng quản lý và điều hành của hệ thống hành
chính nhà nước, khắc phục tình trang cục bộ địa phương. Điều này có mục đích

viên và được phân công phụ trách công việc như sau:
Một chủ tịch phụ trách chung, khối nội chính, quản lý công tác quy
hoạch đô thị.
Hai phó chủ tịch: Một phó chủ tịch phú trách khối kinh tế- tài chính xây
dựng cơ sở hạ tầng, khoa học công nghệ, nhà đất và tài nguyên môi trường.
Một phó chủ tịch phụ trách khối văn hoá xã hội và các lĩnh vực xã hội khác.
Hai uỷ viên: Một uỷ viên phụ trách công an. Một uỷ viên phụ trách
quân sự. [32, tr.45- 47]
1.3.2. Tổ chức của UBND cấp xã
UBND cấp xã tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ.
Trong đó:
Chủ tịch UBND cấp xã là người lãnh đạo và điều hành công việc của
UBND, chịu trách nhiệm cá nhân về việc thực hiện nhiệm vụ quyền hạn của
mình và cùng với tập thể UBND chịu trách nhiệm về hoạt động của UBND
trước HĐND cùng cấp và cơ quan nhà nước cấp trên.
Phó chủ tịch UBND cấp xã là người giúp việc cho Chủ tịch UBND cấp
xã, được Chủ tịch phân công phụ trách, thực hiện những công việc nhất định
và chịu trách nhiệm trước Chủ tịch UBND cấp xã về phần công việc được
giao.
Các thành viên của UBND cấp xã được Chủ tịch UBND phân công,
phụ trách những lĩnh vực chuyên môn nhất định. Đặc biệt với những lĩnh vực
quan trọng như: tài chính, công an, quân sự…Chủ tịch UBND cấp xã phải
phân công cho các thành viên UBND phụ trách, làm thủ trưởng. Mỗi thành
viên của UBND cấp xã chịu trách nhiệm cá nhân về lĩnh vực được phân công
phụ trách trước Chủ tịch UBND cấp xã.
1.3.3. Hoạt động của UBND cấp xã
Theo Điều 8 Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003, hoạt động của
UBND cấp xã được đảm bảo bằng hiệu quả hoạt động của:
- Tập thể Uỷ ban nhân dân;
- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân;

đổi mới và phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân.
Là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, UBND cấp xã tiến hành
hoạt động quản lý hành chính trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội như: tài
chính và ngân sách; nông- lâm- ngư nghiệp; thuỷ lợi, tiểu thủ công nghiệp; an
ninh quốc phòng; trật tự an toàn xã hội; giao thông vận tải; đất đai; chứng
thực, hộ tịch;…nhưng trong khuôn khổ của khoá luận tốt nghiệp em chỉ đề cập
đến hoạt động của một số lĩnh vực điển hình sau: hoạt động tài chính và ngân
sách, hoạt động quản lý đất đai, hoạt động chứng thực, hoạt động đăng ký hộ
tịch và một số vấn đề ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của UBND cấp xã như
hoạt động điều hành của UBND cấp xã và chất lượng đội ngũ cán bộ, công
chức của UBND cấp xã thừa hành nhiệm vụ theo quy định của pháp luật.
Thời gian qua, hoạt động của UBND cấp xã ở nước ta đã từng bước đổi
mới và nâng cao song cũng không tránh khỏi những hạn chế nhất định. Dưới
đây là những kết quả đã đạt được và những tồn tại, hạn chế trong hoạt động
của UBND cấp xã ở nước ta trong giai đoạn hiện nay trên một số lĩnh vực điển
hình.
2.1. Những kết quả đạt được
* Trong hoạt động tài chính và ngân sách
Điều 4 Luật Ngân sách nhà nước năm 2002 quy định: “Cấp xã là một cấp
ngân sách, có nhiệm vụ thu- chi và thanh quyết toán”. [13] .Theo đó, UBND
cấp xã có nhiệm vụ quản lý thu, chi ngân sách theo kế hoạch của địa phương,
chỉ đạo tận thu các nguồn thu theo phân cấp và thực hiện các nội dung chi theo
đúng quy định.
Trên thực tế, công tác chấp hành quản lý thu- chi đã được UBND cấp xã
coi trọng, tích cực chỉ đạo tận thu các nguồn thu theo phân cấp và thực hiện
các nội dung chi theo đúng quy định, không có tình trạng toạ chi hoặc thu
ngoài ngân sách. Giám sát chặt chẽ các nguồn thu từ thuế, phí và lệ phí…tránh
thất thoát cho ngân sách Nhà nước.
Công tác lập dự toán ngân sách hàng năm của UBND cấp xã cơ bản đã
được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, chất lượng dự toán ngày một

phường, thị trấn là công chức Địa chính.
Thực tế trong những năm vừa qua, UBND cấp xã đã từng bước tổ chức,
thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình trong quản lý đất đai theo đúng thẩm
quyền, giúp cho cơ quan nhà nước cấp trên trong việc quản lý và sử dụng đất
đai có hiệu quả. Đặc biệt, trong hoạt động hoà giải tranh chấp đất đai, giải
quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai, UBND cấp xã đã phối hợp với Uỷ ban Mặt
trận tổ quốc và các tổ chức thành viên, các tổ chức xã hội giải quyết dứt điểm
các tranh chấp đất đai phát sinh trên địa bàn, tạo tâm lý phấn khởi trong nhân
dân, hạn chế tình trạng khiếu nại vượt cấp, khiếu kiện đông người gây mất ổn
định chính trị trên địa bàn.
* Trong hoạt động chứng thực
Chứng thực là việc UBND cấp huyện, cấp xã xác nhận sao y giấy tờ,
hợp đồng, giao dịch và chữ ký của cá nhân trong các giấy tờ phục vụ cho các
giao dịch của họ.
Điều 5 Nghị định 79/2007/NĐ-CP ngày 18/05/2007 về cấp bản sao từ sổ
gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký quy định: “UBND
cấp xã có thẩm quyền chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ văn bản
bằng tiếng Việt; chứng thực chữ ký trong các giấy tờ văn bản bằng tiếng Việt.
Chủ tịch hoặc phó chủ tịch UBND cấp xã thực hiện chứng thực các việc
các việc trên và đóng dấu của UBND cấp xã”.
Hoạt động chứng thực do công chức Tư pháp- Hộ tịch thực hiện dưới sự
chỉ đạo điều hành của Chủ tịch hoặc phó chủ tịch UBND cấp xã. Nhiệm vụ của
công chức Tư pháp- Hộ tịch là giúp Chủ tịch hoặc phó chủ tịch UBND cấp xã
chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ văn bản bằng tiếng Việt; chứng
thực chữ ký trong các giấy tờ văn bản bằng tiếng Việt. Trước khi Chính phủ
ban hành NĐ 79/2007/NĐ- CP, hành vi này do UBND cấp huyện thực hiện
theo NĐ 75/2000/NĐ-CP về công chứng, chứng thực.
Việc chuyển giao thẩm quyền chức thực bản sao từ bản chính trong các
giấy tờ giao dịch bằng tiếng Việt cho UBND cấp xã nhằm giải quyết tốt hơn
các yêu cầu của công dân, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân được cấp bản

Trong thời gian qua, UBND cấp xã cũng đã có những đổi mới căn bản
về phong cách điều hành và chỉ đạo, từ sự chỉ đạo theo cách đối phó tình thế
từng bước đã chuyển sang sự chỉ đạo theo quy chế trong đó nổi bật là trách
nhiệm của chức danh Chủ tịch UBND cấp xã. Chế độ trách nhiệm đã được xây
dựng, cán bộ, công chức cấp xã có năng lực hơn, trẻ hơn, năng động hơn, biết
cách tổ chức quản lý, xử lý tốt và kịp thời các tình huống phát sinh trong công
việc trên cơ sở pháp luật.
* Hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức
Cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn là những người đại diện cho
quyền lực nhà nước ở cơ sở, trực tiếp lãnh đạo nhân dân thực hiện các chủ
trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, tiến hành vận động và
tổ chức quần chúng, huy động các nguồn lực và áp dụng những biện pháp cần
thiết để thực hiện những mục tiêu, nhiệm vụ được giao.
Số lượng công chức làm công tác chuyên môn thuộc UBND cấp xã hiện
nay là 81.314 người chiếm 42,25% trong tổng số 192.438 cán bộ, công chức
trực tiếp làm công tác quản lý ở 10.987 xã, phường, thị trấn ( trong đó có 9106
xã, 1271 phường, 610 thị trấn, 125.710 thôn bản, tổ dân phố) [28], có trách
nhiệm giúp UBND cấp xã quản lý Nhà nước về lĩnh vực công tác (tài chính, tư
pháp, địa chính, văn phòng, văn hoá- xã hội, công an, quân sự) và thực hiện các
nhiệm vụ theo sự phân công của chủ tịch UBND cấp xã: Đó là một lực lượng
khá đông đảo trong tổ chức bộ máy hành chính của chúng ta.
Những năm qua, đội ngũ cán bộ, công chức của UBND cấp xã đã có
những đổi mới tích cực theo hướng trẻ hoá, tạo động lực, nâng cao và phát huy
năng lực sáng tạo. Nhìn chung đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã vẫn giữ vững
được phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống tốt và lành mạnh, hoàn thành tốt
nhiệm vụ được giao.
Về chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã hiện nay đã có
những bước tiến đáng kể so với giai đoạn trước đó
- Về cán bộ, công chức là nữ chiếm 16.21%.
- Về cán bộ công chức là Đảng viên chiếm 84,67%.

trấn được hưởng tối thiểu 70% các khoản thu thuế chuyển quyền sử dụng đất;
thuế nhà, đất; thuế môn bài thu từ cá nhân, hộ kinh doanh; thuế sử dụng đất
nông nghiệp thu từ hộ gia đình; lệ phí trước bạ nhà, đất” [13]. Nhưng ở một số
nơi, UBND cấp xã lại sử dụng kinh phí sai mục đích, làm hao hụt ngân sách.
Bên cạnh đó, một số xã, phường, thị trấn còn chưa quan tâm, chú trọng đến
việc đầu tư, nuôi dưỡng các nguồn thu, sử dụng lãng phí hoặc thả nổi công tác
quản lý đất đai, tài nguyên, bến bãi… để cá nhân chiếm dụng, khai thác, từ đó
dẫn tới việc vừa không đảm bảo được nguồn thu, vừa gây thắc mắc, khiếu nại
trong nhân dân. Đặc biệt một số UBND cấp xã còn tự ý đặt ra những khoản thu
trái pháp luật như việc thu thêm một số loại phí và lệ phí, thu vượt mức so với
quy định... gây bất bình trong nhân dân.
* Hoạt động quản lý đất đai.
Quản lý đất đai là một nhiệm vụ rất quan trọng của UBND cấp xã.
Nhưng tại một số nơi, UBND cấp xã đã lơi lỏng trong việc quản lý đất đai,
nhất là đối với đất chưa được sử dụng, đất hành lang… dẫn đến tình trạng lấn
chiếm đất đai, sử dụng đất không đúng mục đích. Ví dụ: Tại tỉnh Thái Nguyên,
trên tuyến đường Cách mạng tháng Tám dài hơn 7 km đã có tới 135 trường
hợp lấn chiếm đất hành lang để phục vụ cho mục đích cá nhân gây mất mĩ quan
đô thị.
Trong hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai, do các quyết
định thu hồi đất, phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng, thực hiện quyết
định sau thanh tra, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng quy
định và không đảm bảo thời gian nên đã xảy ra tình trạng khiếu tố đông người
như vụ: 05 công dân khu dân cư số 08- Bắc cầu Tam Giang- phường Trần
Hưng Đạo, 05 công dân khu Bình Minh- phường Phạm Ngũ Lão khiếu tố về
việc thu hồi đất không thuộc diện quy hoạch của các hộ gia đình hay vụ việc
các hộ gia đình thôn Tứ Thông- xã Xuân Dương, thôn Đỗ Xá- xã Tứ Minh về
việc thực hiện chính sách bồi thường khi thu hồi đất, giải phóng mặt bằng khu
công nghiệp Đại An…[35]
Trình độ năng lực của một số cán bộ, công chức có thẩm quyền giải

thốn nên nhiều địa phương đã rơi vào thế “bị động” khi bắt tay vào triển khai
NĐ 79/2007/NĐ- CP.
Đó là những vấn đề mà chúng ta cần sớm có giải pháp thật đồng bộ từ
phía cơ quan nhà nước có thẩm quyền để mau chóng khắc phục tình trạng trên.
* Trong hoạt động đăng ký hộ tịch.
Trong thời gian qua, hoạt động đăng ký hộ tịch ở một số nơi, đặc biệt là ở
một số xã vùng sâu, vùng xã, vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫn chưa được
thực hiện triệt để. Do nhận thức của người dân về vấn đề này còn hạn chế, bên
cạnh đó các công chức Tư pháp- Hộ tịch cũng chưa tích cực tuyên truyền để
nhân dân thấy được tầm quan trọng của việc đăng ký hộ tịch và tự giác đi đăng
ký, đặc biệt là đối với sự kiện khai tử: do tâm lý người dân cho rằng “việc gì
mà không mang lại quyền lợi cho mình thì không làm”. Trên thực tế, công chức
Hộ tịch cũng không thường xuyên đôn đốc nhân dân thực hiện, phải đến khi có
sự kiểm tra, rà soát của các cơ quan có thẩm quyền thì mới phát hiện ra được
sự thiếu sót đó. Ví dụ: tại Thái Nguyên trong năm 2007, UBND cấp xã đã
đăng ký quá hạn 3354 sự kiện sinh và đăng ký lại cho 6802 sự kiện sinh; đăng
ký khai tử quá hạn cho 1950 sự kiện và đăng ký lại cho 510 sự kiện tử. [25]
Đăng ký và quản lý hộ tịch là một nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên
của UBND các cấp trong đó có UBND cấp xã. Để làm tốt điều này, công chức
Hộ tịch phải được trang bị kỹ năng, chuyên môn nhất định thì mới thực hiện
tốt nhiệm vụ được giao, đồng thời góp phần tuyên truyền, phổ biến sâu rộng về
pháp luật hộ tịch trong nhân dân.
* Hoạt động điều hành của UBND cấp xã.
Hoạt động điều hành của UBND cấp xã hiện nay vẫn chưa thực sự đi vào
nề nếp, nhiều nơi còn vi phạm pháp luật. Việc ban hành các văn bản quản lý,
áp dụng pháp luật còn nhiều sai trái, gây tổn thất không nhỏ cho Nhà nước và
nhân dân.
Một vấn đề đang làm giảm sức mạnh trong hoạt động điều hành của
UBND cấp xã đó là tình trạng không phân biệt được khi nào là ý kiến của cá
nhân Chủ tịch UBND cấp xã, khi nào là ý kiến của thành viên UBND và ý kiến

Chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức cấp xã trong thời gian qua
còn có nhiều quy định chưa thống nhất. Hiện nay Nghị định 159/2005/NĐ- CP
về việc phân loại đơn vị hành chính cấp xã đã được thực hiện, theo số liệu tính
đến ngày 30/12/2006 có 2981 xã loại I, 5657 xã loại II, 2292 xã loại III [28],
nhưng hiện tại vẫn chưa có một quy định cụ thể nào về chế độ, chính sách cho
cán bộ, công chức ở các xã loại I, II, III, cũng không tăng thêm số lượng cán
bộ, công chức ở các xã này mà vẫn thực hiện theo NĐ 121/2003/ NĐ- CP quy

Trích đoạn Hoàn thiện các quy định của pháp luật về UBND các cấp trong Thực hiện cải cách tổ chức bộ máy của UBND cấp xã Đổi mới công tác tuyển chọn, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status