Chức năng giáo dục của gia đình theo pháp luật hôn nhân và gia đình việt nam và thực hiện trong xã hội hiện đại - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

TRẦN THỊ HUYỀN TRANG

CHỨC NĂNG GIÁO DỤC CỦA GIA ĐÌNH THEO
PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM
VÀ THỰC HIỆN TRONG XÃ HỘI HIỆN ĐẠI
Chuyên ngành: Luật Dân sự
Mã số: 60 38 30

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Hà Thị Mai Hiên

HÀ NỘI - 2011


LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn, em đã được PGS.
TS. Hà Thị Mai Hiên hướng dẫn tận tình, động viên và quan tâm sâu sắc. Em
xin được bảy tỏ lòng biết ơn sâu sắc về sự giúp đỡ quý báu này.
Đồng thời, em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa
Luật Dân sự và khoa Sau đại học trường Đại học Luật Hà Nội cùng gia đình,
bạn bè đã luôn khuyến khích, tạo điều kiện để em hoàn thành tốt luận văn của
mình.



2

MỤC LỤC
3
Lời mở đầu
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LÝ VỀ CHỨC NĂNG GIÁO
DỤC CỦA GIA ĐÌNH
8
1.1. Khái niệm chức năng giáo dục của gia đình và vấn đề điều chỉnh của pháp
luật
1.2. Phương pháp, hình thức thể hiện chức năng giáo dục của gia đình trong
luật hôn nhân và gia đình Việt Nam
1.3. Các yếu tố tác động tới việc thực hiện chức năng giáo dục trong gia đình

16
19

1.4. Pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam và pháp luật một số nước về điều
chỉnh chức năng giáo dục của gia đình

24

8

Chương 2: NỘI DUNG CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ ĐIỀU CHỈNH
VIỆC THỰC HIỆN CHỨC NĂNG GIÁO DỤC CỦA GIA ĐÌNH
38
2.1. Điều chỉnh thực hiện chức năng giáo dục của gia đình trong Hiến pháp và
Bộ Luật dân sự

3

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đối với mỗi người, gia đình là nơi để lại nhiều dấu ấn nhất. Dù là
những kỷ niệm vui hay buồn thì những ảnh hưởng của gia đình luôn theo
mỗi chúng ta trong suốt cuộc đời. Trong môi trường gia đình, cha mẹ
chính là những thầy đầu tiên dạy ta điều hay, lẽ phải. Sự giáo dục đó là
bước khởi đầu và mang ý nghĩa rất quan trọng trong việc hình thành và
phát triển nhân cách của mỗi con người.
Trong thời đại ngày nay, chúng ta không thể phủ nhận những thành
quả về kinh tế, khoa học, công nghệ trong xã hội cùng những đóng góp
tích cực của chúng tới cuộc sống hiện đại. Tuy nhiên, bên cạnh những
thuận lợi trong điều kiện sống của xã hội hiện đại, vẫn có một thực tế là sự
xuất hiện không ngừng của nhiều tệ nạn, tình trạng sa sút đạo đức, lối
sống xa lạ với các giá trị truyền thống dân tộc... và làm nên thực trạng đó
là sự góp mặt không nhỏ của những cá nhân ở lứa tuổi thanh thiếu niên.
Điều này đã và đang làm các bậc phụ huynh rất lo lắng và hiện có nhiều
gia đình đang rơi vào tình trạng bế tắc.
Tìm hiểu nguyên nhân về các hiện tượng trên đây, có thể thấy một
phần thuộc về việc trách nhiệm của gia đình trong việc trông nom, giáo
dục con cái. Bởi cách giáo dục, nuôi dưỡng sai lạc có thể để lại những hậu
quả đáng tiếc cho cả đời người, ngược lại, cách giáo dục và nuôi dưỡng
đúng đắn chính là nền tảng của hạnh phúc an vui cho mỗi cá nhân, gia
đình và xã hội. Điều đó đã cho ta thấy ý nghĩa sâu sắc của việc giáo dục
tại gia đình. Việc giáo dục tại gia đình cũng chính là một trong các chức
năng cơ bản của gia đình ở mọi xã hội, mọi thời đại. Thực hiện có hiệu
quả chức năng giáo dục của gia đình, chúng ta sẽ khắc phục được phần
nào những lo lắng, vướng mắc, bế tắc của các bậc phụ huynh; đồng thời sẽ


chức năng giáo dục gia đình, nội dung, phương pháp giáo dục gia đình,


5
điều kiện giải pháp nhằm phát huy chức năng giáo dục gia đình… Tuy
nhiên, việc tiếp cận và giải quyết các vấn đề liên quan tới chức năng giáo
dục của gia đình chỉ trong một phạm vi nhất định như: lứa tuổi THCS
hoặc trong gia đình nông dân; đồng thời các giải pháp mà các tác giả đưa
ra đều mang tính xã hội theo đặc trưng của chuyên ngành, chứ không
hướng tới lĩnh vực pháp luật. Dưới góc độ Luật học, có thể thấy chưa có
công trình nào nghiên cứu về sự phát triển của các quy phạm pháp luật về
chức năng giáo dục của gia đình theo pháp luật HN&GĐ và tình hình thực
hiện chức năng này ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Mục đích:
Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ một cách có hệ thống những
nội dung cơ bản về chức năng giáo dục của gia đình, các quy định về việc
thực hiện chức năng giáo dục của gia đình trong pháp luật Việt Nam hiện
hành, xác định những thành tựu và bất cập trong quy định của pháp luật và
thực tiễn thực hiện chức năng giáo dục của gia đình, từ đó đề xuất những
giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật trong thời gian tới.
- Nhiệm vụ:
Về mặt lý luận: Trên cơ sở nghiên cứu sự phát triển của pháp luật
Hôn nhân và gia đình Việt Nam về các quy định liên quan tới chức năng
giáo dục trong gia đình, đồng thời làm sáng tỏ bản chất của việc thực hiện
chức năng giáo dục của gia đình trong mỗi giai đoạn lịch sử.
Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu việc áp dụng các quy phạm pháp luật
trong việc thực hiện chức năng giáo dục của gia đình trên thực tiễn. Trên
cơ sở phân tích những thiếu sót, khuyết điểm và những vướng mắc của
việc áp dụng pháp luật HN&GĐ, đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm

rõ cơ sở pháp lý về chức năng giáo dục của gia đình. Từ đó, đưa ra khái
niệm chức năng giáo dục của gia đình theo những quy định của pháp luật
Hôn nhân và gia đình.


7
Thứ hai, luận văn đã phân tích và làm rõ các hình thức, phương
pháp thể hiện chức năng giáo dục của gia đình trong pháp luật Hôn nhân
và gia đình Việt Nam. Cùng với đó, luận văn đã đánh giá thực trạng của pháp
luật hiện hành về điều chỉnh việc thực hiện chức năng giáo dục của gia đình.
Thứ ba, bên cạnh việc tìm hiểu các quy định của pháp luật, luận văn còn
đi vào tìm hiểu thực tiễn của việc thực hiện chức năng giáo dục của gia đình
trong giai đoạn hiện nay, luận văn đã chỉ ra những thành công và những tồn tại
trong thực hiện chức năng giáo dục của gia đình hiện đại. Từ đó, có những đề
xuất về phương hướng hoàn thiện pháp luật trong giai đoạn tới.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận: Luận văn nghiên cứu có hệ thống những nội dung cơ bản
của chức năng giáo dục của gia đình, các quy định điều chỉnh việc thực hiện
chức năng giáo dục của gia đình trong pháp luật HN&GĐ Việt Nam, đặc biệt là
pháp luật hiện hành.
Về mặt thực tiễn: Luận văn góp phần vào việc xác định đúng đắn vấn đề
giáo dục trong gia đình, đặc biệt trong xã hội hiện nay, từ đó góp phần nâng cao
hiệu quả của việc xây dựng gia đình văn hóa, tạo điều kiện để cá nhân phát triển
và hạn chế sự gia tăng tội phạm vị thành niên ở nước ta.
Ngoài ra, luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong việc
nghiên cứu, học tập tại các cơ sở nghiên cứu và đào tạo chuyên ngành luật ở
nước ta.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn gồm 3 chương:

gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thông hoặc do quan hệ nuôi
dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy
định của luật này” (Khoản 10, Điều 4). Như vậy có thể thấy, dưới góc độ
luật học, gia đình được nhấn mạnh tới nguồn gốc hình thành quan hệ gia
đình (từ hôn nhân, huyết thống hay nuôi dưỡng); đồng thời khái niệm chú


9
ý tới quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các thành viên trong gia đình với
nhau.
Từ những khái niệm trên đây, có thể thấy, gia đình mặc dù được
nhìn nhận, nghiên cứu, đánh giá dưới các góc độ khác nhau, trong các
ngành khoa học khác nhau nhưng có một điều không thể phủ nhận đó là
những giá trị mà gia đình mang lại đối với mỗi cá nhân và xã hội.
* Khái niệm chức năng của gia đình
Theo nghĩa rộng, chức năng được hiểu là “nhiệm vụ, công dụng và
vai trò” [15, tr.314]. Lịch sử phát triển các hình thức gia đình chỉ ra rằng, ở bất
cứ một thời đại nào, gia đình cũng thực hiện các chức năng (nhiệm vụ) cơ
bản: chức năng kinh tế, chức năng giáo dục, chức năng tái sản xuất xã hội
(chức năng sinh sản), chức năng thỏa mãn nhu cầu tình cảm giữa các
thành viên trong gia đình.
Chức năng kinh tế: là chức năng cơ bản quan trọng của gia đình
nhằm tạo ra của cải vật chất, đảm bảo cho gia đình được ấm no, giàu có,
từ đó góp phần làm cho đời sống của mỗi gia đình phồn vinh, hạnh phúc,
đất nước giàu mạnh; Chức năng giáo dục của gia đình: đây là chức năng
xã hội quan trọng của gia đình nhằm tạo ra người con hiếu thảo, người
công dân có ích cho xã hội bởi gia đình là trường học đầu tiên, cha mẹ là
những người thầy cô giáo đầu tiên trong cuộc đời của mỗi người. Do đó,
nội dung của giáo dục gia đình cũng phải chú ý giáo dục toàn diện bao
gồm cả tri thức, kinh nghiệm, đạo đức, lối sống, ý thức cộng đồng, cách


[15, tr. 627]

.Từ khái niệm này, có thể thấy, giáo dục là một

phương tiện thực hiện các mục tiêu xã hội. Việt Nam là một trong nhiều
quốc gia trên thế giới coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp
chung của toàn xã hội. Trong mỗi gia đình, giáo dục là quyền và nghĩa vụ
của mỗi thành viên. Giáo dục tại gia đình là bước đầu tiên và quan trọng
để hình thành nhân cách, đồng thời tạo cơ sở ban đầu cho quá trình tiếp
nhận sự giáo dục tại nhà trường và xã hội của mỗi cá nhân.
Ở mỗi giai đoạn lịch sử, giáo dục có vị trí, vai trò khác nhau đối với
mỗi cá nhân và xã hội. Nhưng nhìn chung, có thể thấy giáo dục là một lĩnh
vực luôn được Nhà nước coi trọng, được chú ý đầu tư. Trước đây, do ảnh


11
hưởng của lễ giáo phong kiến, trong xã hội rất coi nặng việc giáo dục tại
gia đình theo các quy tắc, chuẩn mực: “tam cương”, “ngũ thường”, “công
dung ngôn hạnh”… Bên cạnh đó, do ảnh hưởng của tư tưởng trọng nam
khinh nữ nên việc tiếp cận quyền được giáo dục, được học tập còn hạn chế
đối với nữ giới. Ngày nay, quyền được hưởng sự giáo dục là bình đẳng
giữa các công dân trong xã hội, không phân biệt dân tộc, giới tính, văn
hóa…Điều này tạo điều kiện để mỗi chúng ta có thể tiếp cận tốt hơn với
những thành tựu của nền giáo dục hiện đại.
Khái niệm giáo dục cho thấy sự tác động một cách toàn diện của
việc giáo dục tới mỗi cá nhân, về cả mặt vật chất và tinh thần. Bởi vậy, ở
bất cứ môi trường nào, khi thực hiện hoạt động giáo dục, chúng ta đều cần
quan tâm tới chủ thể, hình thức, phương pháp thực hiện nhằm nâng cao
hiệu quả và hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực từ những thiếu sót trong

Như vậy, qua tìm hiểu các khái niệm trên đây, dưới góc độ luật học,
khái niệm chức năng giáo dục của gia đình có thể được hiểu là nhiệm vụ,
vai trò của gia đình thông qua việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các
thành viên nhằm hoàn thiện nhân cách, năng lực của mỗi cá nhân là
thành viên của gia đình.
Từ khái niệm chức năng giáo dục của gia đình, ta thấy những đặc
điểm về mặt chủ thể, cách thức, mục tiêu hướng tới của việc thực hiện
chức năng này… Để thấy rõ những đặc điểm trong chức năng giáo dục
của gia đình, chúng ta có thể so sánh với quá trình giáo dục tại nhà trường.
Thứ nhất, có thể thấy, về mặt chủ thể, thực hiện chức năng giáo dục
của gia đình là các cá nhân có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi
dưỡng, đó thường là những người sống chung một mái nhà và việc tạo
dựng quan hệ gia đình dựa trên các căn cứ pháp lý. Trong khi đó, chủ thể
thực hiện việc giáo dục ở nhà trường là các giáo viên đối với các học sinh
của mình - đó thường là những chủ thể không có mối quan hệ gia đình
(hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng).
Bên cạnh đó, cần phải nói thêm rằng, hầu hết các chủ thể trong gia
đình hiện đại đều tham gia thực hiện chức năng giáo dục, trong đó: người


13
lớn tuổi bảo ban người trẻ, thế hệ đi trước bảo ban thế hệ đi sau, người có
kiến thức chỉ bảo người không có kiến thức… Bởi vậy, có thể thấy sự
tham gia của cả ông, bà, vợ, chồng, anh, chị, em… trong hoạt động giáo
dục tại gia đình hiện nay.
Thứ hai, mục tiêu của việc thực hiện chức năng giáo dục trong gia
đình là nhằm định hướng, nâng cao nhận thức về mặt đạo đức, lối sống mà
không nhấn mạnh tới các kiến thức văn hóa như giáo dục tại nhà trường.
Tuy nhiên, trong giai đoạn con còn nhỏ, bố mẹ thường trực tiếp hướng dẫn
con học tập cùng với việc uốn nắn thói quen, nếp sống cho trẻ. Mặc dù

chức năng này của gia đình về mặt chủ thể, phương thức thực hiện, mục
tiêu hướng tới… Những nội dung này sẽ giúp chúng ta có những hoạt
động phù hợp nhằm thực hiện một cách hiệu quả nhất chức năng giáo dục
tại gia đình trong giai đoạn hiện nay.

1.1.2. Vấn đề điều chỉnh của pháp luật về việc thực hiện chức năng
giáo dục của gia đình
Từ khái niệm chức năng giáo dục của gia đình như đã đề cập ở nội
dung trên đây, ta thấy vị trí, vai trò và những ảnh hưởng của việc thực
hiện chức năng này tới mỗi cá nhân, gia đình và xã hội. Đối với cá nhân,
việc thực hiện chức năng giáo dục của gia đình sẽ trang bị cho mỗi chúng
ta những nền tảng cơ bản ban đầu cho sự phát triển về thể chất và tinh
thần. Đối với gia đình, điều đó góp phần duy trì và phát triển văn hóa gia
đình, sự hòa hợp và yên vui của mỗi mái ấm… Đối với xã hội, nó cống
hiến một nguồn nhân lực có chất lượng cao, tạo động lực, sức mạnh cho
sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước. Như chúng ta đã biết,
chức năng giáo dục của gia đình được xuất phát một cách tự nhiên. Nó tồn
tại và phát triển cùng với sự tồn tại và phát triển của các hình thái gia đình
trong lịch sử. Tuy nhiên, nếu để chức năng này diễn ra tự nhiên như nó
vốn có thì chúng ta sẽ mất nhiều thời gian để trải nghiệm và đúc rút kinh
nghiệm; đồng thời, trong quá trình đó có thể gặp những sai lầm đáng tiếc.


15
Vì vậy, cần có sự điều chỉnh của pháp luật để việc thực hiện chức năng
giáo dục của gia đình diễn ra ổn định, khoa học và đạt hiệu quả cao.
Có thể thấy, pháp luật không chỉ tác động tới mỗi cá nhân với tư
cách một chủ thể riêng biệt mà còn tác động lên mối quan hệ giữa các chủ
thể trong những hoàn cảnh nhất định. Trong việc thực hiện chức năng giáo
dục của gia đình, pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ của các thành viên

lập pháp và xã hội. Trong việc thực hiện chức năng giáo dục của gia đình,
để đạt được hiệu quả, thỏa mãn nhu cầu của phụ huynh và đáp ứng yêu
cầu của xã hội thì việc chỉ thực hiện các quy định của pháp luật là chưa
đủ. Bởi nếu chỉ áp dụng các quy định của pháp luật vào trong giáo dục tại
gia đình, nhà trường và xã hội thì sự giáo dục không sinh động và thiếu sự
phong phú; trong khi đó sự tiếp nhận của các đối tượng có phần hạn chế,
hiệu quả đạt được không cao. Tuy nhiên, không thể phủ nhận những mặt
tích cực mà các quy định pháp luật mang lại cho quá trình thực hiện chức
năng giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội. Trong đó, các văn bản pháp
luật đã đưa ra những phương pháp, hình thức nhằm đảm bảo sự thực hiện
chức năng giáo dục của gia đình.
Các quy định trong pháp luật Hôn nhân và gia đình luôn nhấn mạnh
tới phương pháp giáo dục bằng cách nêu gương, trong đó ông bà, cha, mẹ,
anh, chị là những người đi trước bằng hành vi, thói quen, lối sống của
mình để làm gương cho các thế hệ đi sau. Phương pháp giáo dục này được
ghi nhận trong Luật HN&GĐ, Luật Bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em
2004, Luật Giáo dục 2005… của nước ta. Đây là một phương pháp giáo
dục quen thuộc và mang lại hiệu quả cao. Tuy nhiên, việc áp dụng phương
pháp này trong các gia đình là điều không đơn giản, bởi khi đó, chủ thể
thực hiện việc giáo dục cần phải mẫu mực trong mọi không gian và thời
gian. Để thực hiện điều này một cách thuận lợi, mỗi người cần tự tu


17
dưỡng, rèn luyện để các hành vi tốt, lối sống đẹp được xuất phát từ chính
bản thân mình. Từ đó, việc nêu gương sẽ tự nhiên mà không gượng ép,
hiệu quả giáo dục sẽ được nâng cao.
Bên cạnh đó, các nhà lập pháp còn ghi nhận cha mẹ giáo dục con
qua sự“thương yêu, nuôi nấng, giáo dục con cái” (Điều 17, Luật HN&GĐ
1959). Đây chính là một trách nhiệm của cha mẹ đối với con em mình,

còn được ghi nhận tại Điều lệ của trường theo quy định của Luật giáo dục
2005. Điều này đã nhắc nhở chúng ta về sự phối kết hợp của toàn xã hội
nhằm chung tay xây dựng và phát triển sự nghiệp giáo dục của nước nhà
trong giai đoạn hiện nay.
Hình thức thực hiện chức năng giáo dục của gia đình được thể hiện
qua các quy định về: các nguyên tắc của Luật HN&GĐ, các chủ thể trong
quan hệ gia đình, quyền và nghĩa vụ giữa các thành viên trong gia đình,
các chế tài. Trước hết, có thể thấy trong quy định của pháp Luật HN&GĐ,
giáo dục đã được ghi nhận như một nguyên tắc (Điều 2, Luật HN&GĐ
2000). Bên cạnh đó, về mặt chủ thể, qua lịch sử phát triển của pháp luật
Hôn nhân và gia đình, có thể thấy các chủ thể là thành viên của gia đình
ngày càng được mở rộng. Nếu ở Luật HN&GĐ 1959 quy định gia đình chỉ
bao gồm cha, mẹ, con (được thể hiện trong quy định tại Điều 1 và chế
định “Nghĩa vụ và quyền lợi của vợ chồng” - chương 3) thì đến Luật
HN&GĐ 1986 phạm vi gia đình đã bao gồm cả ông, bà (“ông bà có nghĩa
vụ nuôi dưỡng, giáo dục cháu chưa thành niên trong trường hợp không
còn cha mẹ”, Điều 27) và đến Luật HN&GĐ 2000 gia đình được xác định
bao gồm cả bố dượng, mẹ kế (Điều 38). Cùng với các quy định trên đây,
các văn bản pháp luật ra đời sau luôn được mở rộng về các chế định, các
nguyên tắc và các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quá trình xây
dựng, phát triển gia đình. Nhờ những quy định đó, chúng ta ngày càng có
cơ sở pháp lý vững chắc để đạt được các mục tiêu xã hội đã được đặt ra.
Bên cạnh đó, các quy định mang tính chất chế tài trong luật Hôn nhân và
gia đình cũng góp phần không nhỏ để hiện thực hóa các quy định của pháp
luật điều chỉnh việc thực hiện chức năng giáo dục của gia đình.


19
Như vậy, có thể thấy, việc quy định phương pháp, hình thức thực
hiện chức năng giáo dục của gia đình trong pháp luật Hôn nhân và gia

thiết cho việc thực hiện giáo dục tại gia đình. Có thể thấy, những cố gắng
qua các cuộc cách mạng xã hội đã có kết quả đáng khích lệ, sự mong đợi
của các thế hệ đi trước giờ đây đã trở thành hiện thực trong xã hội chúng
ta, tạo bình đẳng cho cả nam và nữ được thụ hưởng sự giáo dục từ gia
đình, nhà trường và có cơ hội thực hiện quyền học tập của mình.
Sự phát triển của khoa học, công nghệ đã tạo điều kiện để con
người có cơ hội tiếp xúc với các ứng dụng mới. Sự phổ biến của Internet,
điện thoại di động… đã có những tác động không nhỏ tới việc giáo dục
nói chung và giáo dục tại gia đình nói riêng. Ngày nay, trẻ được tiếp xúc
nhiều với mạng Internet, máy tính, điện thoại, từ điển điện tử… Nhờ đó,
chúng có thêm một kênh để trao đổi, học hỏi. Điều này đã góp phần tiết
kiệm thời gian, chi phí và mở rộng tầm hiểu biết cho mỗi cá nhân, bởi dù
chúng ta đang ngồi ở bất cứ địa điểm nào nhưng vẫn có thể trao đổi, cập
nhật thông tin, học hành… Tuy nhiên, trong các gia đình, sự ảnh hưởng –
chi phối của các sản phẩm có ứng dụng khoa học, công nghệ cũng là một
nỗi lo đối với các bậc phụ huynh. Trong nhiều trường hợp, trẻ đã lạm
dụng các ứng dụng này để phục vụ nhu cầu không chính đáng, gây lãng
phí và ảnh hưởng tới sức khỏe, tâm lý của mình (như việc chơi điện tử quá
mức, quên ăn, quên học… dẫn tới kết quả học tập giảm sút, sức khỏe bị
ảnh hưởng, tâm lý mất cân bằng). Ở nhiều gia đình, sức “hấp dẫn” và sự
chi phối của các sản phẩm, các công nghệ hiện đại đã đẩy xa cha mẹ và
con cái. Điều này đã gây những khó khăn không nhỏ cho việc thực hiện
chức năng giáo dục của gia đình bởi thời gian các thành viên bên nhau
ngày càng hạn hẹp, sự gắn bó giữa các cá nhân bị suy giảm đáng kể.
Về mặt chính trị, có thể thấy sự ổn định của của môi trường chính
trị là một yếu tố góp phần phát triển mọi mặt của xã hội. Khi môi trường
sống có sự trật tự, ổn định thì việc thực hiện các chức năng của gia đình,
trong đó có chức năng giáo dục sẽ được đầu tư hơn về mặt thời gian, công
sức. Nhờ đó, chúng ta sẽ thu được những hiệu quả như mong đợi. Ngược


đầu về mặt đạo đức và văn hóa.


22
Ngày nay, trong mỗi gia đình, cha mẹ không chỉ là chủ thể thực
hiện việc giáo dục mà trong nhiều trường hợp họ còn là chủ thể chủ động
tiếp nhận những kiến thức, thông tin từ phía con cái của mình, qua đó học
hỏi, mở rộng thêm vốn hiểu biết của mình để hỗ trợ cho công việc, cũng
như cuộc sống. Sự tích cực, chủ động học hỏi của cha mẹ từ con cái thể
hiện mối quan hệ gần gũi, gắn bó trong gia đình. Điều này đặc biệt phổ
biến trong xã hội ngày nay, khi con trẻ có cơ hội tiếp xúc với những thành
tựu khoa học tiên tiến, đồng thời, chúng có khả năng nắm bắt nhanh và
được học hỏi bài bản tại trường. Do đó, chúng thường “đi trước” các phụ
huynh về kiến thức trong một số lĩnh vực, từ đó chúng có cơ hội hướng
dẫn, chia sẻ lại cho cha mẹ mình. Như vậy, có thể thấy tính hai chiều trong
việc thực hiện chức năng giáo dục của gia đình hiện đại mà không đơn
thuần chỉ một chiều như trong hoạt động giáo dục ở thời kỳ phong kiến
hay trong cách giáo dục tại nhà trường. Đây chính là một biểu hiện của sự
ảnh hưởng từ yếu tố văn hóa – xã hội trong việc thực hiện chức năng giáo
dục của gia đình trong giai đoạn hiện nay.
Một yếu tố tác động mạnh mẽ tới việc thực hiện chức năng giáo dục
trong gia đình đó là pháp luật. Việc pháp luật ghi nhận trách nhiệm giáo
dục con cái của cha mẹ và quyền lợi của trẻ em trong gia đình sẽ tạo cơ sở
pháp lý cho việc đảm bảo việc thực hiện chức năng giáo dục của gia đình.
Tuy nhiên, có thể thấy trong các văn bản pháp luật không ghi nhận một
cách trực tiếp thuật ngữ chức năng giáo dục của gia đình, nhưng qua các
quy định trong Hiến pháp, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Bảo vệ, chăm
sóc và giáo dục trẻ em, Luật Giáo dục… có thể thấy mối quan hệ giữa gia
đình và pháp luật về việc giáo dục mỗi cá nhân - công dân. Nói cách
khác, việc thực hiện các quy định của pháp luật về giáo dục trong gia đình

nguồn lực rất giá trị (nhân lực); đồng thời, với một tập thể công dân có tư
cách tốt sẽ củng cố trật tự xã hội và mở rộng lối sống lành mạnh, văn
minh.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status