Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động khuyến mại ở việt nam - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LÊ ĐĂNG KHOA

PHÁP LUẬT CHỐNG CẠNH TRANH KHÔNG
LÀNH MẠNH TRONG HOẠT ĐỘNG
KHUYẾN MẠI Ở VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60 38 50

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS. NGUYỄN THỊ DUNG

HÀ NỘI – 2011


LỜI CẢM ƠN!
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này, tôi nhận được
nhiều sự giúp đỡ và sự hướng dẫn tận tình của các thầy, cô giáo. Tôi xin gửi
lời cảm ơn chân thành đến các thầy, cô giáo trong Trường Đại học Luật Hà
Nội và các thầy, cô giáo của Khoa Sau Đại học, Khoa Pháp luật Kinh tế nói
riêng, cũng như các thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp trong Trường Đào
tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát – VKSNDTC đã giúp đỡ tôi hoàn thành bản
luận văn này. Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo TS. Nguyễn
Thị Dung - Trưởng Bộ môn Luật Thương mại - đã tận tình hướng dẫn tôi trong

CHỐNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG HOẠT
ĐỘNG KHUYẾN MẠI…………………………………….
2.1.

Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động
khuyến mại………………………………………….…….….

2.2. Quy định về xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong
hoạt động khuyến mại…………………...……………
2.3.

Một số đánh giá về nguyên nhân của thực trạng cạnh tranh
không lành mạnh trong hoạt động khuyến mại…………....

CHƯƠNG 3. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT VỀ CHỐNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH
MẠNH TRONG HOẠT ĐỘNG KHUYẾN MẠI…….…………..
3.1.

3.2.

Định hướng hoàn thiện pháp luật chống cạnh tranh không
lành mạnh trong hoạt động khuyến mại……………….…..
Một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật chống

1
6
6
11
19

Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, nhân dân ta bắt tay ngay vào việc
xây dựng lại đất nước, đặc biệt là xây dựng lại nền kinh tế đã khủng hoảng
trầm trọng sau sự tàn phá ác liệt của chiến tranh. Đảng và Nhà nước ta, sau
quá trình nghiên cứu, kế thừa và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin,
đã khẳng định, cần phải xây dựng nền kinh tế thị trường gắn với định
hướng xã hội chủ nghĩa. Đại hội Đảng lần thứ IX (4- 2001) đã khẳng định:
“phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là đường lối
chiến lược nhất quán, là mô hình kinh tế tổng quát trong suốt thời kỳ quá
độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đây là kết quả sau nhiều năm
nghiên cứu, tìm tòi, tổng kết thực tiễn”[2]. Như vậy, nước ta, sau hơn 30
năm thực hiện công cuộc đổi mới, phát triển toàn diện nền kinh tế xã hội,
cơ chế kinh tế thị trường đã hình thành và phù hợp với quy luật khách quan
trong sự phát triển chung của đất nước. Trong sự phát triển chung đó, quy
luật cạnh tranh được coi là nền tảng cho các hoạt động trong nền kinh tế
thị trường. Chúng ta đã xây dựng nền kinh tế có môi trường cạnh tranh sôi
động với sự góp mặt của hàng nghìn doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần
kinh tế khác nhau. Những doanh nghiệp này đua nhau chiếm lĩnh thị
trường, cạnh tranh để phát triển, tạo ra nhiều lợi ích cho doanh nghiệp và
xã hội. Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường bản thân cũng đã chứa đựng rất
nhiều yếu tố tiêu cực ảnh hưởng đến lợi ích chung của xã hội mà cần phải
có sự điều chỉnh từ phía Nhà nước thông qua công cụ pháp luật. Luật cạnh
tranh năm 2004 được Quốc hội thông qua vào tháng 12/2004 và có hiệu
lực từ ngày 01/7/2005 nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý cạnh tranh trong nền
kinh tế, góp phần tạo ra môi trường kinh doanh bình đẳng, bảo vệ lợi ích
hợp pháp của các doanh nghiệp, quyền và lợi ích của người tiêu dùng và
lợi ích chung của toàn xã hội.


2



3

pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh theo pháp luật Việt Nam”
của ThS Lữ Lâm Uyên (ĐH Luật Thành phố Hồ Chí Minh, 2006); “Các
vấn đề pháp lý và thể chế về chính sách cạnh tranh và kiểm soát độc quyền
kinh doanh” của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương; “Cạnh tranh
không lành mạnh trong lĩnh vực xúc tiến thương mại theo quy định của
luật cạnh tranh năm 2004” của ThS Vũ Thị Cẩm Tú (ĐH Luật Hà Nội,
2004); “Xây dựng pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt
Nam hiện nay” của ThS Nguyễn Thị Thu Hiền (ĐH Luật Hà Nội, 2004);
“Pháp luật chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở
hữu công nghiệp ở Việt Nam – Lý luận và thực tiễn” của ThS Nguyễn Vũ
Quỳnh Lâm (ĐH Luật Hà Nội, 2006);“Pháp luật chống hành vi cạnh
tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo ở Việt Nam” của ThS
Trịnh Thị Liên Hương (ĐH Luật Hà Nội, 2010). Ngoài ra còn nhiều bài
viết, sách chuyên khảo, sách nghiên cứu của các tác giả Phạm Duy Nghĩa,
Đặng Vũ Huân, Nguyễn Như Phát, Nguyễn Ngọc Sơn…đề cập đến vấn đề
cạnh tranh và chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Vấn đề này còn
được đề cập đến trong các tạp chí khoa học, trong các hội thảo để tranh
luận, làm rõ hơn các khía cạnh khác nhau của pháp luật cạnh tranh. Mỗi
công trình nghiên cứu nói trên đều có những cách riêng để tiếp cận vấn đề
cạnh tranh và chống cạnh tranh không lành mạnh. Tuy nhiên, theo tìm hiểu
của tác giả, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách tổng thể, toàn
diện, chuyên sâu về pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong
hoạt động khuyến mại. Qua hơn 5 năm, kể từ khi Luật cạnh tranh năm
2004 được áp dụng, thực tiễn thi hành luật này nảy sinh nhiều vấn đề mà
đòi hỏi cần tập trung nghiên cứu, nhằm tạo cơ sở lí luận để hoàn thiện các
quy định điều chỉnh và cơ chế áp dụng pháp luật cạnh tranh. Kế thừa
những giá trị của các công trình nghiên cứu trước đây, tác giả luận văn đi

- Đánh giá thực trạng các biểu hiện cạnh tranh không lành mạnh trong
hoạt động khuyến mại và nhằm đưa ra những yêu cầu điều chỉnh pháp luật
đối với hoạt động này.


5

- Phân tích quy định về chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh
trong hoạt động khuyến mại của Luật cạnh tranh năm 2004 và các văn bản
hướng dẫn, từ đó đề xuất phương hướng hoàn thiện các quy định này và đề
xuất các giải pháp thực thi hiệu quả đối với hoạt động khuyến mại.

6. Những kết quả nghiên cứu mới của Luận văn
- Hoàn thiện khái niệm về cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt
động khuyến mại.
- Phân tích có hệ thống các quy định về cạnh tranh không lành mạnh
trong hoạt động khuyến mại thông qua các ví dụ cụ thể diễn ra trong thực
tế những năm gần đây, từ đó đưa ra những nhận xét, đánh giá, cách hiểu
đúng đắn về những quy định trên.
- Đánh giá thực trạng áp dụng các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt
động khuyến mại.
- Đề xuất giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật
chống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động khuyến mại và cơ chế
thực thi có hiệu quả.

7. Cơ cấu luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận, luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1. Những vấn đề lí luận về cạnh tranh không lành mạnh trong
hoạt động khuyến mại.
Chương 2. Thực trạng pháp luật Việt Nam về chống cạnh tranh không

chung nhất được hiểu là “giành nhau để chiếm lấy phần hơn”. Đây là cách
hiểu đơn giản, chung nhất về ý nghĩa của cạnh tranh.
Trong Luật cạnh tranh Thỗ Nhĩ Kỳ thì cạnh tranh được hiểu là: “sự
đấu tranh giữa các doanh nghiệp trên thị trường hàng hóa và dịch vụ để
quyết định các vấn đề kinh tế một cách độc lập”. Khái niệm về cạnh tranh


7

trong Luật cạnh tranh Thỗ Nhĩ Kỳ đã thể hiện sự cạnh tranh được xem xét
dưới góc độ của kinh tế.
Theo từ điển Cornu của Pháp thì cạnh tranh được hiểu là: “Chạy
đua kinh tế; hành vi của các doanh nghiệp độc lập với nhau và là đối thủ
của nhau cung ứng hàng hóa, dịch vụ, nhằm làm thỏa mãn nhu cầu giống
nhau với sự may rủi của mỗi bên, thể hiện qua việc lôi kéo được hoặc để
mất đi một lượng khách hàng thường xuyên” [5, tr.11]. Như vậy, chúng ta
thấy được cạnh tranh bao gồm các yếu tố như khách hàng, các bên tham
gia cạnh tranh, thị trường liên quan, môi trường kinh doanh. Các yếu tố
này được phân tích như sau:
- Khách hàng thường xuyên: các bên tham gia cạnh tranh luôn coi đây
là đối tượng và mục tiêu để hướng tới thu hút. Khách hàng ở góc độ khác
là “người sử dụng” hay “người tiêu dùng” luôn được thu hút sử dụng hàng
hóa hay dịch vụ của các doanh nghiệp. Một doanh nghiệp muốn phát triển
tốt cần phải có số lượng khách hàng nhất định. Trong thị trường, doanh
nghiệp có quyền thực hiện các cách thức mà pháp luật không cấm để thu
hút khách hàng. Khách hàng được quyền lựa chọn những doanh nghiệp
mang lại cho mình nhiều lợi ích nhất. Điều này cũng là động lực để các
doanh nghiệp ngày càng hoàn thiện về sản phẩm và dịch vụ, nhằm tăng
tính cạnh tranh cho doanh nghiệp trên thị trường.
- Các bên tham gia cạnh tranh: Trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi

có cạnh tranh xảy ra. Vào thời điểm đó, Nhà nước nắm toàn bộ quyền lực
về kinh tế, không có nhiều thành phần kinh tế, quyền tự do kinh doanh là
một khái niệm không tồn tại, không có nền kinh tế thị trường và dẫn đến
không thể có cạnh tranh.
Dưới góc độ kinh tế, cạnh tranh là “sự ganh đua, sự kình địch giữa
các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài
nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”[15, tr.295].
Các quốc gia trên thế giới đều coi trọng cạnh tranh trong mọi hoạt động vì
cạnh tranh tạo ra môi trường và động lực của sự phát triển nói chung và
góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tăng năng suất lao động, tăng hiệu


9

quả của các doanh nghiệp. Như vậy, cạnh tranh, dưới góc độ kinh tế, được
hiểu chung nhất là sự ganh đua, đấu tranh giữa các chủ thể kinh tế trong
môi trường là nền kinh tế thị trường, nhằm mục tiêu là đạt được cho mình
những nguồn lợi nhất định. Theo Từ điển Black’ Law thì “cạnh tranh là sự
nỗ lực hoặc hành vi của hai hay nhiều thương nhân nhằm tranh giành
những lợi ích giống nhau từ chủ thể thứ ba” [8, tr.11].

1.1.2. Một số vấn đề về hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Căn cứ vào mục đích, tính chất của các phương thức cạnh tranh có
thể phân thành cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh trên
thị trường. Cạnh tranh lành mạnh là hình thức cạnh tranh trong sáng bằng
tiềm năng, năng lực vốn có của doanh nghiệp. Cạnh tranh lành mạnh là
“hình thức cạnh tranh công khai, công bằng và ngay thẳng giữa các đối thủ
cạnh tranh trong kinh doanh” [8, tr.23]. Các doanh nghiệp thực hiện những
hoạt động trong khuôn khổ pháp luật để thu hút khách hàng, chiếm lĩnh thị
trường, tạo thế đứng vững chắc cho doanh nghiệp phát triển. Ngược lại,

các mối quan hệ giữa họ với người tiêu dùng”.
Ở Việt Nam, hành vi cạnh tranh không lành mạnh được quy định tại
khoản 4 Điều 3 Luật cạnh tranh năm 2004: “Hành vi cạnh tranh không
lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh
doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây
thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích
hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng”.
Như vậy, có nhiều cách hiểu khác nhau về hành vi cạnh tranh không
lành mạnh. Tuy nhiên, những cách hiểu trên đều xuất phát từ bản chất của
hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Hành vi cạnh tranh không lành mạnh
là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh, trái với
các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có
thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích của doanh
nghiệp khác và người tiêu dùng.
Xét từ góc độ kinh tế, hành vi cạnh tranh không lành mạnh thể hiện
ở hành vi chiếm đoạt ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác một cách


11

bất hợp pháp, hoặc là hành vi hủy hoại ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp
khác, hoặc là hành vi tạo ra ưu thế cạnh tranh giả tạo.
Hành vi chiếm đoạt ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác thể
hiện qua các hành vi như chiếm đoạt bí mật thương mại, hành vi nhái lại
kiểu dáng, nhãn mác, thương hiệu.v.v..tạo ra sự nhầm lẫn của khách hàng,
gây thiệt hại cho khách hàng và cho chính doanh nghiệp bị cạnh tranh
không lành mạnh.
Hành vi hủy hoại ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác thể hiện
qua một số hành vi ép buộc trong kinh doanh, gièm pha đối thủ cạnh tranh,
gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác.v.v. làm ảnh hưởng

khích phát triển thương mại [16, tr.127]. Xúc tiến thương mại là hoạt động
của thương nhân nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội kinh doanh thương mại
thông qua các hình thức như quảng cáo thương mại, khuyến mại, hội trợ
triển lãm..v.v...Từ góc độ kinh tế, có thể khẳng định xúc tiến thương mại
không chỉ là hoạt động nhằm mục tiêu thúc đẩy phát triển thương mại của
thương nhân mà còn bao gồm hoạt động thúc đẩy phát triển thương mại
của Chính phủ và các tổ chức xúc tiến thương mại [15, tr.128]. Xúc tiến
thương mại làm cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng, tác động trực tiếp hay
gián tiếp đến hành vi mua hàng hay cung ứng dịch vụ thông qua các hoạt
động cung cấp thông tin, thuyết phục, nhắc nhở, khuyến mại. Khuyến mại
cũng được hiểu theo nghĩa là một trong những hình thức xúc tiến thương
mại biểu hiện qua việc dành cho khách hàng những lợi ích nhất định nhằm
để tăng sự nhận biết của khách hàng, kích thích khách hàng mua sản phẩm
và các trung gian nỗ lực bán hàng, cung ứng dịch vụ. Hiểu theo khía cạnh
kinh tế, khuyến mại là biện pháp xúc tiến bán hàng, cung ứng dịch vụ tập
trung tác động kích thích nhu cầu mua hàng, nhu cầu sử dụng dịch vụ
thông qua việc dành cho khách hàng những lợi ích nhất định từ việc mua
sản phẩm hay sử dụng dịch vụ.
Khuyến mại được xem xét như một chu trình để đưa đến cho khách
hàng những lợi ích nhất định, nhằm thu hút khách hàng quan tâm đến sản
phẩm của doanh nghiệp và khuyến khích khách hàng tiêu thụ sản phẩm đó.
Khuyến mại là một quá trình, bao gồm nhiều hoạt động tiếp diễn mà


13

thương nhân phải thực hiện như sau: xác định mục tiêu; lựa chọn công cụ
khuyến mại; lập kế hoạch chương trình khuyến mại; thử nghiệm chương
trình khuyến mại; thực hiện chương trình khuyến mại.v.v..
Dưới góc độ pháp lí, khuyến mại là một khái niệm đã được pháp

động thương mại để thông qua hoạt động đó thương nhân thu lợi nhuận.
Xúc tiến thương mại không phải là hành vi trực tiếp trao đổi hàng hóa,
dịch vụ mà xúc tiến thương mại là hành vi nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội
mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ. Hành vi này được thể hiện dưới
nhiều hình thức khác nhau, trong đó có hình thức khuyến mại. Khuyến mại
là cách thức thực hiện xúc tiến thương mại, tạo ra những điều kiện thuận
lợi để thúc đẩy mạnh mẽ việc bán hàng và cung ứng dịch vụ bằng cách
dành cho khách hàng những lợi ích nhất định. Nội dung này được coi là
dấu hiệu nhằm phân biệt hành vi khuyến mại với các hành vi xúc tiến
thương mại khác. Tuy vậy, hình thức khuyến mại cũng có những đặc điểm
riêng:
- Chủ thể khuyến mại là thương nhân. Thương nhân có thể tự mình
tổ chức khuyến mại hoặc có thể ký hợp đồng dịch vụ thông qua thương
nhân khác để thực hiện hoạt động khuyến mại để phục vụ cho mục đích
kinh doanh của mình.
- Cách thức thực hiện việc xúc tiến thương mại: Đó là cách dành cho
khách hàng những lợi ích nhất định. Khi thực hiện khuyến mại, thương
nhân tùy thuộc vào mục tiêu của đợt khuyến mại, sự cạnh tranh của đối
thủ, kinh phí dành cho khuyến mại…để thương nhân dành cho khách hàng
những lợi ích nhất định, những lợi ích này có thể là hàng mẫu, quà tặng,
giảm giá hàng hóa…hoặc những lợi ích vật chất khác… thông qua đó tạo
điều kiện thúc đẩy việc mua, bán hàng hóa của doanh nghiệp. Người được
hưởng khuyến mại có thể là người tiêu dùng trực tiếp, có thể là các trung
gian phân phối như các đại lí bán hàng.
- Mục đích của khuyến mại: Nhằm xúc tiến bán hàng và cung ứng
dịch vụ. Thương nhân thực hiện khuyến mại nhằm giới thiệu sản phẩm
mới, tác động lôi kéo hành vi mua sắm của khách hàng, tăng lượng khách
hàng tiềm năng…từ đó tăng thị phần của doanh nghiệp trên thị trường.



làm quà tặng cho khách hàng không thu tiền. Hàng hóa, dịch vụ làm quà


16

tặng cho khách hàng có thể là hàng hóa, dịch vụ mà thương nhân đang
kinh doanh hoặc hàng hóa, dịch vụ của thương nhân khác. Việc pháp luật
cho phép sử dụng hàng hóa, dịch vụ của thương nhân khác để phát tặng
khuyến khích sự liên kết xúc tiến thương mại của các thương nhân nhằm
khai thác lợi ích tối đa [3, tr.94]. Thương nhân có thể sử dụng hình thức
tặng quà cho khách hàng khi họ mua hàng, sử dụng dịch vụ của thương
nhân đó, nhưng cũng có thể không cần gắn liền với hành vi mua bán, sử
dụng dịch vụ. Trên thực tế, việc phân biệt giữa hai hình thức hàng mẫu và
tặng quà là rất khó nếu trong trường hợp thương nhân dùng hàng hóa, dịch
vụ do mình kinh doanh để khuyến mại.
Thứ ba, giảm giá là hành vi bán hàng, cung ứng dịch vụ trong thời
gian khuyến mại với giá thấp hơn giá bán, giá cung ứng dịch vụ bình
thường trước đó, được áp dụng trong thời gian khuyến mại mà thương
nhân đã đăng ký và thông báo. Trong trường hợp hàng hóa, dịch vụ thuộc
diện Nhà nước quản lý giá thì việc khuyến mại theo hình thức này được
thực hiện theo quy định của Chính phủ.
Quy định về hạn mức giảm giá phải được tính theo đơn giá, tức là
mức giảm giá tối đa đối với hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại không
được vượt quá 50% giá hàng hóa, dịch vụ đó ngay trước thời gian khuyến
mại (Điều 6 và khoản 1 Điều 9 Nghị định số 37/2006/NĐ-CP). Nếu hàng
hóa, dịch vụ thuộc diện Nhà nước quản lý giá thì việc khuyến mại theo
hình thức này được thực hiện theo quy định của Chính phủ, cụ thể là:
không được giảm giá đối với hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước quy định giá
cụ thể, không được giảm giá xuống thấp hơn mức giá tối thiểu đối với
hàng hóa, dịch vụ Nhà nước quy định khung giá hoặc giá tối thiểu.

phải tuân theo quy định tổng giá trị của hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến
mại trong một chương trình không được vượt quá 50% tổng giá trị của
hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại.
Thứ sáu, các hình thức khuyến mại mang tính may rủi như bốc thăm,
cào số trúng thưởng, bóc, mở sản phẩm trúng thưởng, vé số trúng


18

thưởng..v.v…được thực hiện gắn liền với việc mua bán hàng hóa hay sử
dụng dịch vụ. Hình thức khuyến mại này có yếu tố thụ động, may rủi đối
với khách hàng. Khách hàng có thể nhận được những lợi ích từ thương
nhân nhưng thương nhân lại rất chủ động trong việc chuẩn bị cơ cấu giải
thưởng, số lượng, giá trị giải thưởng, thời gian tổ chức, địa điểm tổ chức
trao thưởng. Yếu tố may rủi cũng có thể bị thương nhân lợi dụng để gian
lận về giải thưởng.
Thứ bảy, tổ chức chương trình khách hàng thường xuyên, theo đó,
việc tặng thưởng cho khách hàng căn cứ trên số lượng hoặc trị giá mua
hàng hóa, dịch vụ mà khách hàng thực hiện dưới hình thức thẻ khách hàng,
phiếu ghi nhận sự mua hàng hóa, dịch vụ hoặc các hình thức khác. Đây
cũng là một hình thức khuyến mại nhằm thúc đẩy việc mua bán hàng hóa
giữa người sản xuất và người tiêu dùng. Việc khuyến mại theo hình thức
này, cần sự phối hợp chặt chẽ giữa thương nhân và khách hàng. Thương
nhân phải ghi nhận đầy đủ thông tin cá nhân của khách hàng, việc mua
hàng, sử dụng dịch vụ của khách hàng…để làm căn cứ thực hiện hoạt động
khuyến mại.
Thứ tám, tổ chức cho khách hàng tham gia các chương trình văn
hóa, nghệ thuật, giải trí và các sự kiện khác vì mục đích khuyến mại.
Đây cũng là một hình thức khuyến mại phổ biến, thông qua các
chương trình văn nghệ, giải trí lành mạnh mà thương nhân có thể quảng bá

nhân thực hiện hoạt động khuyến mại nhằm mục đích giành lấy sự quan
tâm của khách hàng đến sản phẩm của mình so với sản phẩm khác. Hoạt
động khuyến mại tạo cho khách hàng từng bước tiếp cận sản phẩm, dịch
vụ của doanh nghiệp từ việc biết đến sản phẩm, dịch vụ, cho đến việc yêu
thích sử dụng sản phẩm, dịch vụ và hình thành thói quen sử dụng sản
phẩm, dịch vụ đó. Hoạt động khuyến mại là khâu trung gian để đưa khách
hàng đến với sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp. Thương nhân thực hiện
hoạt động khuyến mại với mục đích để sản phẩm, dịch vụ của mình được
biết đến nhiều hơn, được tiêu dùng nhiều hơn. Từ đó, tạo ra sự đua tranh
quyết liệt trong việc thu hút khách hàng, mở rộng thị trường sản phẩm,


20

dịch vụ mà thương nhân đó cung cấp. Thông qua hoạt động khuyến mại,
thương nhân mong muốn sản phẩm, dịch vụ của mình cạnh tranh được với
sản phẩm dịch vụ của các đối thủ. Trong thực tế, hoạt động khuyến mại
cũng làm nâng cao tính cạnh tranh cho sản phẩm, dịch vụ của doanh
nghiệp trên thị trường. Như vậy, hoạt động khuyến mại luôn ẩn chứa tính
chất cạnh tranh của các doanh nghiệp trong thương trường.
Bên cạnh đó, chúng ta cũng thấy rõ ràng rằng, khuyến mại cũng là
một công cụ hữu ích để cạnh tranh. Khi doanh nghiệp có sản phẩm, dịch
vụ phù hợp với nhu cầu của khách hàng và thực hiện được những chương
trình khuyến mại hợp lý sẽ thu hút được nhiều khách hàng sử dụng sản
phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp đó. Vì vậy, doanh nghiệp có thể chiếm
lĩnh thị trường, đánh bật đối thủ ra khỏi cuộc đua tranh giành thị phần và
thu về lợi nhuận cho mình. Hoạt động khuyến mại cũng là cách thức để
thương nhân tác động lên đối thủ cạnh tranh, gây ảnh hưởng đến lợi ích
của đối thủ cạnh tranh, tranh giành những lợi ích trong cuộc ganh đua trên
thị trường.

động khuyến mại ở Việt Nam.
Trước khi Luật cạnh tranh năm 2004 ra đời hoạt động khuyến mại
đã được điều chỉnh trong một số văn bản như:
- Luật Thương mại 1997.
- Nghị định 32/1999/NĐ-CP ngày 05/5/1999 của Chính phủ về
khuyến mại, quảng cáo thương mại và hội chợ, triển lãm thương
mại.
Sau khi Luật cạnh tranh ra đời năm 2004, Pháp luật cạnh tranh điều
chỉnh hoạt động khuyến mại một cách trực tiếp bao gồm:
- Luật cạnh tranh năm 2004;
- Luật Thương mại năm 2005;
- Nghị định số 116/2005/NĐ-CP ngày 15 tháng 09 năm 2005 của
Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật cạnh
tranh;



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status