y
o
c u -tr a c k
.c
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TRẦN TRÀ GIANG
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
TRÁCH NHIỆM BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI DO
NGUỒN NGUY HIỂM CAO ĐỘ GÂY RA
Chuyên ngành: Luật Dân sự
Mã số: 62 38 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. PHÙNG TRUNG TẬP
HÀ NỘI - 2011
.d o
m
w
w
N
O
W
!
h a n g e Vi
e
N
PD
!
XC
er
O
W
F-
w
– Trưởng bộ môn Luật Dân sự (Khoa Dân sự - Trường Đại học Luật Hà Nội),
người đã hướng dẫn tận tình cho tôi trong suốt thời gian qua. Tôi cũng xin
cảm ơn các thầy giáo, cô giáo khoa Sau Đại học – Trường Đại học Luật Hà
Nội đã quan tâm tạo điều kiện giúp đỡ, cảm ơn sự hỗ trợ, động viên của gia
đình và người thân đã giúp tôi hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
.d o
m
o
w
w
w
.d o
C
lic
k
to
bu
XC
er
O
W
F-
w
m
h a n g e Vi
e
w
PD
XC
er
F-
c u -tr a c k
.c
m
o
w
w
w
.d o
C
lic
k
to
bu
y
bu
to
k
lic
C
w
m
h a n g e Vi
e
w
PD
XC
er
F-
c u -tr a c k
.c
y
.c
.d o
m
w
w
w
N
O
W
!
h a n g e Vi
e
N
PD
!
XC
er
O
W
w
o
o
c u -tr a c k
w
w
.d o
C
lic
k
to
bu
y
bu
to
k
lic
F-
w
m
h a n g e Vi
e
w
PD
XC
er
F-
c u -tr a c k
.c
h a n g e Vi
e
N
y
thường thiệt hại ngoài hợp đồng) với 26 điều luật quy định và Nghị quyết số
03/2006/NQ-HĐTP ngày 08 tháng 07 năm 2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành do tính phức tạp của các quan hệ mà chế
định này điều chỉnh. Điều 623 BLDS 2005 về bồi thường thiệt hại do nguồn
nguy hiểm cao độ gây ra có một vị trí đặc biệt quan trọng, đây là quy định mang
tính nguyên tắc, liên quan tới bồi thường thiệt hại không cần chứng minh yếu tố
.d o
m
o
w
o
c u -tr a c k
w
to
Luận văn Thạc sỹ luật học
w
w
.d o
!
XC
er
O
W
F-
w
PD
h a n g e Vi
e
!
XC
er
PD
F-
c u -tr a c k
những quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ
gây ra nói riêng khi Bộ luật dân sự 2005 đang trong quá trình sửa đổi, bổ sung,
đáp ứng yêu cầu đặt ra của thực tiễn áp dụng pháp luật.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Các công trình nghiên cứu liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại
do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra có: luận án tiến sỹ luật học của Nguyễn
Thanh Hồng “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông
đường bộ”; luận văn tốt nghiệp của Đào Thị Thu An “Một số vấn đề về trách
nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ”, hai công
trình này đề cập đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại do một loại nguồn nguy
hiểm cao độ gây ra là phương tiện giao thông vận tải; luận văn thạc sỹ luật học
của Lê Thị Bích Lan “Một số vấn đề về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm
phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và uy tín” - là một trường hợp
của trách nhiệm này, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao
độ gây ra đã được luận văn phân tích, đánh giá khái quát.
.d o
m
o
w
o
c u -tr a c k
w
bu
y
N
O
W
!
XC
er
O
W
F-
w
PD
h a n g e Vi
e
!
dân sự do tài sản gây thiệt hại - Vấn đề lý luận và thực tiễn” năm 2009 do TS.
Trần Thị Huệ làm chủ nhiệm đề tài.
Ngoài ra, cũng có một số bài viết đăng trên các tạp chí khoa học như “Bàn
về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra” của TS.
Lê Đình Nghị (Trường Đại học Luật Hà Nội); “Bồi thường thiệt hại do nguồn
nguy hiểm cao độ gây ra theo điều 627 Bộ luật dân sự” của Đặng Văn Dũng
(Toà án nhân dân số 7/1998); “Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ
gây ra” của Lê Phước Ngưỡng (Tạp chí kiểm sát số 7, 2005).
Tuy nhiên các công trình trên đã không nghiên cứu riêng hoặc có hệ
thống về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra hoặc chỉ chọn
một khía cạnh nhất định của vấn đề. Nhận thức được vấn đề này, đề tài “Một số
vấn đề lý luận và thực tiễn về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy
hiểm cao độ gây ra” lần đầu tiên được nghiên cứu ở cấp độ luận văn thạc sỹ một
cách chuyên sâu, đầy đủ, đảm bảo tính lô gíc, hệ thống. Bên cạnh đó, tác giả luôn
có ý thức kế thừa, học hỏi những kết quả mà các công trình khoa học, luận án, luận
văn và các bài viết đã đạt được cũng như các kinh nghiệm thực tiễn có liên quan
đến đề tài đang nghiên cứu.
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Trong khuôn khổ nghiên cứu của luận văn thạc sỹ luật học, chúng tôi tập
trung nghiên cứu về một trường hợp cụ thể của bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng là bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. Với cách tiếp
cận theo hướng lược sử của chế định, luận văn có những so sánh, nhận định về
các quy định của pháp luật trong từng thời kỳ. Đồng thời, đi sâu tìm hiểu thực
trạng của việc bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra theo pháp
luật hiện hành, từ đó đưa ra một số kiến nghị, giải pháp góp phần hoàn thiện
.d o
m
Trần Trà Giang
w
w
w
C
bu
y
N
O
W
!
XC
er
O
W
F-
lic
.c
những quy định của pháp luật, góp phần nâng cao tính hiệu quả của việc giải
quyết trách nhiệm bồi thường trong thực tiễn.
Trong quá trình nghiên cứu, một số khái niệm pháp lý liên quan cũng
được đề cập đến như trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm bồi
thường trong hợp đồng để so sánh, phân tích và làm rõ tính riêng của trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.
4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ
Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật, luận văn sử dụng phương pháp duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử. Bên cạnh đó các phương pháp phân tích, so sánh,
liệt kê cũng được sử dụng để làm nổi bật vấn đề.
Một số vụ án thực tế được luận văn đưa ra một cách có chọn lọc để minh
họa cho những nhận định, đánh giá và sử dụng số liệu thống kê của các ngành
liên quan.
5. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ những vấn đề lý luận cũng như
nội dung, ý nghĩa các quy định của pháp luật hiện hành về trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, từ đó chỉ ra những điểm phù
hợp, những điểm cần sửa đổi bổ sung cho phù hợp với thực tiễn áp dụng. Đưa ra
hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại
do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, đồng thời góp phần vào việc giúp các cơ
quan áp dụng pháp luật, các nhà nghiên cứu nhận thức đúng đắn và toàn diện khi
giải quyết các tranh chấp về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây
ra.
Để đạt được mục đích trên, luận văn phải hoàn thành các nhiệm vụ:
- Luận văn trình bày một cách khái quát về bồi thường thiệt hại ngoài hợp
m
C
lic
k
to
Trần Trà Giang
w
w
w
C
bu
y
N
O
W
.c
h a n g e Vi
e
N
y
bu
k
lic
.c
- Đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật,
nâng cao hiệu quả trong việc bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ
gây ra.
6. Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn
Lần đầu tiên vấn đề bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây
ra được nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện cả về lý luận và thực tiễn.
Với mong muốn đầu tiên là trang bị thêm kiến thức chuyên sâu cho bản
thân và sau đó là góp phần mình vào việc hoàn thiện những quy định về bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung và bồi thường do nguồn nguy hiểm
cao độ gây ra nói riêng, luận văn đã chỉ ra được những vướng mắc mà thực tế áp
dụng đang tồn tại về vấn đề nghiên cứu, hy vọng thêm vào hành trang kiến thức
cho mỗi người trong chúng ta biết tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
khi bị xâm hại.
7. Kết cấu của luận văn:
Luận văn gồm ba phần:
Phần 1: Lời mở đầu
.d o
5
m
C
lic
k
to
Trần Trà Giang
w
w
w
C
bu
y
N
F-
c u -tr a c k
.c
h a n g e Vi
e
N
y
bu
k
lic
.c
Chƣơng 1
KHÁI NIỆM VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI NGOÀI
HỢP ĐỒNG VÀ BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI DO NGUỒN NGUY HIỂM
CAO ĐỘ GÂY RA
1.1. Khái niệm trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng
Con người sống trong xã hội có nghĩa vụ phải tôn trọng quyền và lợi ích
hợp pháp của người khác, nếu vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình, xâm phạm
đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, gây thiệt hại thì phải bồi thường.
Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một chế định quan trọng trong
pháp luật dân sự. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một dạng
cụ thể của trách nhiệm dân sự nói chung. Đặc điểm của loại trách nhiệm pháp lý
này là quan hệ pháp luật mang tính chất “tư” giữa hai chủ thể độc lập có địa vị
c u -tr a c k
w
to
Luận văn Thạc sỹ luật học
w
w
.d o
6
m
C
lic
k
to
Trần Trà Giang
w
w
e
!
XC
er
PD
F-
c u -tr a c k
.c
h a n g e Vi
e
N
y
bu
k
lic
.c
trách nhiệm bồi thường thuộc về bên vi phạm hợp đồng đã không thực hiện,
thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ theo hợp đồng. Chủ thể chịu trách
m
o
w
o
c u -tr a c k
w
to
Luận văn Thạc sỹ luật học
w
w
.d o
7
m
C
lic
W
F-
w
PD
h a n g e Vi
e
!
XC
er
PD
F-
c u -tr a c k
.c
h a n g e Vi
e
N
coi, sử dụng tài sản có lỗi (lỗi vô ý) và do tài sản tự nó gây thiệt hại mà không
có sự tác động của người trông coi, quản lý. Nếu “người chịu trách nhiệm đó có
bằng chứng rằng cái việc sinh ra trách nhiệm ấy mình không thể ngăn cấm
được”, nghĩa là việc gây thiệt hại là bất khả kháng và người trông coi, quản lý
chứng minh được thì không phải bồi thường.
.d o
m
o
w
o
c u -tr a c k
w
to
Luận văn Thạc sỹ luật học
w
w
.d o
8
!
XC
er
O
W
F-
w
PD
h a n g e Vi
e
!
XC
er
PD
F-
c u -tr a c k
Như vậy, theo Điều 623 và Nghị quyết 03, để xác định được đâu là nguồn
nguy hiểm cao độ, cần phải làm rõ các khái niệm “phương tiện vận tải cơ giới,
hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất
cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ” nghĩa là phải nắm được những quy định
cụ thể trong các văn bản pháp luật liên quan.
Khái niệm “phương tiện vận tải cơ giới” được quy định trong luật Giao
thông đường bộ, nhưng đây cũng là một khái niệm chưa hoàn chỉnh. Luật Giao
thông đường bộ năm 2008 chỉ quy định: “Phương tiện vận tải cơ giới đường bộ
gồm: xe ôtô, máy kéo, xe môtô hai bánh, ba bánh, xe gắn máy và các loại xe
tương tự kể cả xe cơ giới dành cho người tàn tật”, theo tinh thần của khoản 1
Điều 623 thì phương tiện vận tải cơ giới gồm phương tiện vận tải hoạt động trên
đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường hàng không, được trang bị và hoạt
động bằng máy móc”. Phương tiện giao thông cơ giới đường thủy, đường biển
được quy định tại khoản 7 Điều 3 luật Giao thông đường thủy 2004 và Điều 11
Luật Hàng Hải 2005 gồm tàu, thuyền và các cấu trúc nổi khác có động cơ
chuyên hoạt động trên đường thủy nội địa, đường biển; phương tiện vận tải
đường sắt gồm có đầu máy, toa xe động lực, phương tiện động lực chuyên dùng
.d o
m
o
w
o
c u -tr a c k
y
N
O
W
!
XC
er
O
W
F-
w
PD
h a n g e Vi
e
!
XC
chuyển nhượng, cho thuê, cho mượn, thế chấp, bảo đảm thực hiện các nghĩa vụ
dân sự. Trong các vụ tai nạn do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra thì tai nạn do
phương tiện vận tải cơ giới chiếm số lượng lớn và có mức độ thiệt hại cao nhất.
Như vậy, khái niệm “phương tiện vận tải cơ giới” không bao gồm các loại
xe máy chuyên dùng (xe máy thi công, xe máy nông nghiệp, lâm nghiệp) và các
loại xe không vận tải. Vấn đề đặt ra là khi các loại xe này tham gia giao thông và
gây thiệt hại thì cơ sở pháp lý nào được áp dụng để giải quyết vấn đề bồi
thường? Nếu áp dụng Điều 623 thì có hơi gượng ép hay không? Xe máy chuyên
dùng thi công hiện nay được sử dụng rất nhiều, nhất là với việc các công trường
xây dựng mọc lên ở khắp nơi. Nên chăng cần phải mở rộng khái niệm “phương
tiện vận tải cơ giới” bằng cách thay bằng cụm từ “phương tiện vận tải cơ giới và
xe máy chuyên dùng”?
Hệ thống tải điện được hiểu là dây chuyền dẫn điện, công tơ, máy phát
điện, cầu dao.
Nhà máy công nghiệp gồm nhà máy công nghiệp nhẹ, nhà máy công
nghiệp nặng.
Phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công
nghiệp được coi là nguồn nguy hiểm cao độ khi chúng “đang hoạt động”, nếu
chúng ở trạng thái “tĩnh”, chúng sẽ không gây nguy hiểm cho những người xung
quanh.
.d o
m
o
w
o
w
w
C
bu
y
N
O
W
!
XC
er
O
W
F-
w
PD
sơ (Quy chế quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ ban hành kèm theo
nghị định 47/CP ngày 12 tháng 08 năm 1996). Cụ thể:
- Vũ khí quân dụng: các loại súng ngắn, súng trường, súng liên thanh, các
loại pháo, dàn phóng, bệ phóng tên lửa, súng cối, các loại đạn, bom, mìn, lựu
đạn, ngư lôi, thủy lôi, vật liệu nổ quân dụng và các vũ khí khác phục vụ cho
quốc phòng an ninh.
- Vũ khí thể thao gồm: các loại súng trường, súng ngắn thể thao chuyên
dùng các cỡ; các loại súng hơi, các loại vũ khí khác dùng trong luyện tập, thi
đấu thể thao và các loại đạn dùng cho các loại súng thể thao nói trên.
- Súng săn gồm: các loại súng săn một nòng, nhiều nòng các cỡ, tự động
hoặc không tự động, súng hơi các cỡ, súng hỏa mai, súng kíp, súng tự chế và
các loại đạn, thuốc đạn dùng cho các loại súng kể trên.
- Vũ khí thô sơ gồm: dao găm, kiếm, giáo, mác, đinh ba, đại đao, mã
tấu…
Tuy nhiên cần lưu ý rằng, không phải tất cả các loại vũ khí kể trên đều là
nguồn nguy hiểm cao độ. Một số loại vũ khí thô sơ như: dao găm, đinh ba…là
tư liệu sản xuất, tư liệu sinh hoạt thì không phải là nguồn nguy hiểm cao độ.
Xuất phát từ đặc thù của loại nguồn nguy hiểm cao độ này mà có chế độ
quản lý sử dụng đặc biệt.
Chất cháy, chất nổ là chất lỏng, khí, rắn dễ xảy ra cháy, nổ (Luật Phòng
cháy, chữa cháy). Chất cháy với đặc tính tự bốc cháy khi tiếp xúc với oxy trong
không khí, nước hoặc dưới tác động của các yếu tố khác ở nhiệt độ nhất định (ví
dụ diêm tiêu, phốtpho, xăng, dầu); Chất nổ là “loại hoá chất hoặc hỗn hợp hoá
chất đặc biệt mà khi có tác động lý, hoá học hoặc nhiệt năng đủ liều lượng sẽ
gây phản ứng hoá học biến hoá hoặc hỗn hợp chất đặc biệt đó thành năng
lượng nổ và phá huỷ môi trường xung quanh” (TTLT số 01/TTLT-CN-NV ngày
13 tháng 11 năm 1998 của Bộ Công nghiệp và Bộ Nội vụ hướng dẫn về quản lý
kinh doanh, cung ứng vật liệu nổ công nghiệp).
.d o
k
to
Trần Trà Giang
w
w
w
C
bu
y
N
O
W
!
XC
er
O
y
bu
k
lic
.c
Chất độc là những chất có độc tính cao, rất nguy hiểm cho sức khoẻ, tính
mạng của con người, động vật cũng như đối với môi trường xung quanh. Khoản
4, 5 Điều 4 Luật Hoá chất năm 2007 quy định: hoá chất độc là hoá chất nguy
hiểm có ít nhất một trong những đặc tính nguy hiểm sau: a) dễ nổ; b) oxy hoá
mạnh; c) ăn mòn mạnh; d) dễ cháy; đ) độc cấp tính; e) độc mãn tính; g) gây kích
ứng đối với con người; f) gây ung thư hoặc có nguy cơ gây ung thư; i) gây biến
đổi gen; k) độc với sinh sản; l) tích luỹ sinh học; m) ô nhiễm hữu cơ khó phân
huỷ; n) độc hại với môi trường. Có nghĩa là theo quy định này, chất thải công
nghiệp có hoá chất độc hại được thải ra môi trường mà phá hoại môi sinh và ảnh
hưởng đến sức khoẻ con người là thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ (chất
độc) gây ra và chủ thể có trách nhiệm bồi thường thiệt hại là chủ sở hữu, quản lý
nguồn chất thải đó. Nhưng từ trước đến nay, thiệt hại này không được áp dụng
trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra mà chỉ được
truy cứu trách nhiệm hình sự nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo các điều
182, 182a và 182b của Bộ luật Hình sự năm 1999.
Mặc dù luật quy định khá cụ thể chất độc là nguồn nguy hiểm cao độ,
nhưng khi xảy ra thiệt hại, nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì chủ thể gây
thiệt hại bị truy tố trách nhiệm hình sự. Trong những vụ việc đó, hình như người
ta quên mất trách nhiệm dân sự theo Điều 623 BLDS. Đây là một trong những
vấn đề cần đặt ra khi tìm hiểu về thực tiễn áp dụng pháp luật về trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.
Chất phóng xạ là chất ở thể rắn, lỏng hoặc khí có hoạt động phóng xạ trên
70 kilo Becoren trên kilogam (70Kbo/kg) (Pháp lệnh An toàn và kiểm soát bức
12
m
C
lic
k
to
Trần Trà Giang
w
w
w
C
bu
y
N
O
W
.c
h a n g e Vi
e
N
y
bu
k
lic
.c
Những nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định là nguồn
nguy hiểm cao độ được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật khác.
Tuy nhiên ngoài các loại nguồn nguy hiểm cao độ được quy định tại khoản 1
Điều 623, cho đến nay chưa có văn bản pháp luật nào quy định thêm về vấn đề
này. Với việc liệt kê các nguồn nguy hiểm cao độ như luật hiện hành đã nảy sinh
rất nhiều những hạn chế, khó khăn trong việc áp dụng luật. Bởi để biết được một
sự vật có phải nguồn nguy hiểm cao độ hay không phải xem ở nhiều văn bản
luật khác nhau, điều này dẫn đến việc lúng túng và áp dụng đôi khi khá tùy tiện
của tòa án là điều dễ hiểu.
Theo Từ điển luật học - Trường Đại học Luật Hà Nội - NXB CAND,
nguồn nguy hiểm cao độ là “vật mà khi bảo quản, sản xuất, vận hành, dịch
chuyển có tiềm năng gây ra thiệt hại cho môi trường và người xung quanh”.
Như vậy, nguồn nguy hiểm cao độ là những vật trong thế giới tự nhiên
hay hoạt động của máy móc, phương tiện khoa học, kỹ thuật mà hoạt động sản
xuất, vận chuyển, bảo quản có tiềm năng gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe,
to
Luận văn Thạc sỹ luật học
w
w
.d o
13
m
C
lic
k
to
Trần Trà Giang
w
w
w
C
XC
er
PD
F-
c u -tr a c k
.c
h a n g e Vi
e
N
y
bu
k
lic
.c
thông có thể đạt vận tốc lớn (xe đạp điện có vận tốc tối đa là 30km/h; xe máy có
dung tích xi lanh dưới 50 cm3 có vận tốc tối đa là 60km/h), có khả năng gây
nguy hiểm đến tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người khác, cần phải coi chúng
là nguồn nguy hiểm cao độ; ong bò vẽ, rắn độc chưa được Điều 623 quy định là
“thú dữ” nhưng bản thân chúng là những động vật hoang dã, chưa được thuần
hoá, có tính nguy hiểm lớn, như vậy chúng cũng phải được coi là nguồn nguy
o
c u -tr a c k
w
to
Luận văn Thạc sỹ luật học
w
w
.d o
14
m
C
lic
k
to
Trần Trà Giang
PD
h a n g e Vi
e
!
XC
er
PD
F-
c u -tr a c k
.c
h a n g e Vi
e
N
y
bu
k
lic
.c
.d o
m
o
w
o
c u -tr a c k
w
to
Luận văn Thạc sỹ luật học
w
w
.d o
15
m
C
O
W
F-
w
PD
h a n g e Vi
e
!
XC
er
PD
F-
c u -tr a c k
.c
h a n g e Vi
e
hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là do “tự thân” nguồn nguy hiểm cao độ,
không phải do sự tác động trái pháp luật của con người vào nó.
Nghiên cứu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao
độ gây ra, cần phải làm sáng tỏ những điều kiện phát sinh trách nhiệm, chủ thể
có trách nhiệm bồi thường, chủ thể được hưởng bồi thường, vai trò của yếu tố
lỗi… Từng vấn đề này sẽ được trình bày trong các phần sau của luận văn.
1.3. Đặc điểm của trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại do nguồn nguy
hiểm cao độ gây ra
.d o
m
o
w
o
c u -tr a c k
w
to
Luận văn Thạc sỹ luật học
w
w
O
W
!
XC
er
O
W
F-
w
PD
h a n g e Vi
e
!
XC
er
PD
F-
nguồn nguy hiểm cao độ gây ra phát sinh trên cơ sở những điều kiện do pháp
luật quy định, đó là: có thiệt hại xảy ra, có việc gây thiệt hại trái pháp luật, có
mối quan hệ nhân quả giữa sự hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ và thiệt
hại xảy ra. Nghĩa là sự “tự thân” gây thiệt hại của nguồn nguy hiểm cao độ là
điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại không phải hành vi vi phạm
nghĩa vụ mà các bên đã cam kết thực hiện.
Về chủ thể chịu trách nhiệm: Về nguyên tắc, thiệt hại do nguồn nguy
hiểm cao độ gây ra do chủ sở hữu hoặc người được giao chiếm hữu, sử dụng
nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường.
Về mức bồi thường: Mức bồi thường do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
theo quy định của pháp luật phải được bồi thường toàn bộ, tuy nhiên có những
trường hợp mức bồi thường theo quy định của pháp luật thấp hơn thiệt hại thực
tế. Còn đối với bồi thường thiệt hại theo hợp đồng, nếu các bên có thỏa thuận
trước, mức bồi thường thiệt hại sẽ được xác định theo thỏa thuận đó, do đó có
thể thấp hơn, bằng hoặc lớn hơn thiệt hại xảy ra. Trong trách nhiệm bồi thường
thiệt hậu do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, việc bồi thường thiệt hại sẽ chấm
dứt nghĩa vụ của chủ thể gây thiệt hại, còn đối với trách nhiệm bồi thường thiệt
hại trong hợp đồng, chỉ chấm dứt trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà không
làm chấm dứt nghĩa vụ thực hiện hợp đồng.
.d o
m
o
w
o
bu
y
N
O
W
!
XC
er
O
W
F-
w
PD
h a n g e Vi
e
!
trách nhiệm này phát sinh khi thỏa mãn ba điều kiện: (i) Có thiệt hại xảy ra; (ii)
Có việc gây thiệt hại trái pháp luật; (iii) Có mối quan hệ nhân quả giữa sự oạt
động của nguồn nguy hiể cao độ và thiệt hại.
1.3.3. Thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra không có thiệt hại về
danh dự, nhân phẩm, uy tín
Thiệt hại là tiền đề để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn
nguy hiểm cao độ gây ra. Thiệt hại đó do „phương tiện giao thông vận tải cơ
giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất độc,
chất cháy, thú dữ” gây ra và là những thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe.
Danh dự, nhân phẩm, uy tín là những giá trị nhân thân gắn liền với một cá nhân,
tổ chức cụ thể, chúng chỉ có thể bị thiệt hại bởi con người (thông qua hành động,
lời nói, chữ viết) nhằm xuyên tạc, bôi nhọ làm tổn thất về tinh thần cho chủ thể
bị thiệt hại.
1.4. Sự phát triển của những quy định về bồi thƣờng thiệt hại do
nguồn nguy hiểm cao độ gây ra trong pháp luật Việt Nam
1.4.1. Trước khi có bộ luật dân sự
Trong xã hội cổ đại, tranh chấp giữa các cá nhân với nhau chưa có nhiều
định chế để giải quyết, chủ yếu được thực hiện bằng việc tự ý trừng phạt lẫn
nhau, được gọi là chế độ phục cừu.
Tại Việt Nam, khi nghiên cứu bộ luật Hồng Đức và bộ luật Gia Long,
thấy đã xuất hiện chế độ phục cừu. Đây là manh nha của chế độ trách nhiệm dân
sự dù không có điều khoản cụ thể nào của hai bộ luật quy định về trách nhiệm
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng như về trách nhiệm bồi thường thiệt
.d o
m
o
w
w
w
C
bu
y
N
O
W
!
XC
er
O
W
F-
w
.c
hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. Tuy nhiên hai bộ luật này vẫn có những
quy định nhất định về bồi thường thiệt hại khi xâm phạm về tính mạng, sức
khoẻ, dù chưa có sự phân biệt giữa trách nhiệm dân sự và trách nhiệm hình sự.
Bộ luật Hồng Đức có những quy định khá rõ ràng về trách nhiệm bồi thường do
tài sản gây ra, ví dụ: Điều 581 quy định: “người thả trâu, ngựa dày xéo, ăn lúa,
dâu của người ta thì biếm một tư và đền gấp đôi sự thiệt hại. Theo Điều 29 thì
tiền đền mạng được ấn định tuỳ theo phẩm trật của người bị chết, trường hợp
gây thương tích thì ngoài hình phạt bị đánh roi còn phải bồi thường cho nạn
nhân theo mức được quy định tại Điều 466: “Sưng phù thì phải đền tiền tổn
thương ba tiền, chảy máu thì phải một quan, gãy một ngón tay, một răng thì
phải mười quan, đâm chém bị thương thì 15 quan. Đoạ thai chưa thành hình thì
30 quan, đã thành hình thì 50 quan, đứt lưỡi, hỏng âm, dương vật thì đền 100
quan. Về người quyền quý thì xử khác”. Bộ luật Gia Long thì chỉ quy định về
tiền bồi thường cho gia đình nạn nhân trong trường hợp phạm tội giết người,
phạm nhân bị phạm tội chiếu theo điều luật cố ý đả thương chí tử nhưng cho
chuộc tội, tiền chuộc thì giao cho gia đình nạn nhân lo chôn cất, chủ yếu quy
định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của con người gây ra, là
những thiệt hại đối với tài sản của vua, chúa, quan lại. Bộ luật này không đề cập
đến vấn đề bồi thường cụ thể như trong bộ luật Hồng Đức thời Lê.
Nói chung cả hai bộ luật mới có những quy định ban đầu về bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng, bắt đầu có sự tách ra giữa trách nhiệm dân sự và trách
nhiệm hình sự nhưng chưa có một quy định nào về bồi thường thiệt hại do
nguồn nguy hiểm cao độ gây ra trong cổ luật Việt Nam.
Thời kỳ Pháp thuộc, nước ta tồn tại song song hai bộ Dân luật, bộ Dân
luật Bắc kỳ được áp dụng tại miền Bắc, bộ Dân luật Trung kỳ (Hoàng Việt
Trung Kỳ hộ luật) áp dụng tại miền Trung. Sau năm 1959, Tòa án nhân dân tối
cao tổng kết kinh nghiệm xét xử hàng năm và ra các văn bản hướng dẫn xét xử
cho các tòa án cấp dưới.
C
lic
k
to
Trần Trà Giang
w
w
w
C
bu
y
N
O
W
!
XC
h a n g e Vi
e
N
y
bu
k
lic
.c
thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra đã hình thành và phát triển
trong thời gian khá dài. Đánh dấu một mốc quan trọng trong quá trình hình
thành và phát triển này là Thông tư số 173/1972/UBTP của Uỷ ban thẩm phán
Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn xét xử về bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng trong đó có phần hướng dẫn về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm
cao độ gây ra. Dù ra đời trong hoàn cảnh nền lập pháp nước nhà đang trong giai
đoạn mới hình thành, chưa phát triển, điều kiện vô cùng khó khăn, hạn chế rất
nhiều đến nhận thức của các nhà làm luật cũng như những người có chức năng
giải thích luật, nhưng Thông tư có nội dung tương đối đầy đủ, hướng dẫn đường
lối giải quyết về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung và trách nhiệm
bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ nói chung với những quy định
khá sát với pháp luật hiện hành.
Thông tư quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát
sinh khi có đủ 4 điều kiện:
(i) Phải có thiệt hại xảy ra: Là những thiệt hại về vật chất, cụ thể là thiệt
hại về tài sản hoặc là những giảm sút về chi phí do thiệt hại về tính mạng, sức
khỏe. Thiệt hại này phải đã xảy ra và có thể tính toán được. Những thiệt hại về
tài sản trong tương lai như hoa màu sắp tới ngày thu hoạch bị phá, súc vật sắp
tới ngày sinh con mà bi làm chết thì cần xem xét khách quan và thích đáng để
w
.d o
20
m
C
lic
k
to
Trần Trà Giang
w
w
w
C
bu
y
PD
F-
c u -tr a c k
.c