BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
------
TRẦN THỊ THU THỦY
ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG NGHỀ NUÔI SÒ HUYẾT
(Anadara granosa Linnaeus, 1758) Ở HUYỆN AN BIÊN TỈNH
KIÊN GIANG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THEO
HƯỚNG BỀN VỮNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHÁNH HÒA – 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
------
TRẦN THỊ THU THỦY
ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG NGHỀ NUÔI SÒ HUYẾT
(Anadara granosa Linnaeus, 1758) Ở HUYỆN AN BIÊN TỈNH
KIÊN GIANG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THEO
HƯỚNG BỀN VỮNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Ngành:
iii
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp tôi đã nhận
được nhiều kiến thức bổ ích về chuyên môn cũng như nhiều sự giúp đỡ từ quý thầy cô
Viện Nuôi trồng Thủy Sản, Khoa Sau đại học – Trường Đại học Nha Trang, Uỷ ban
Nhân dân huyện An Biên, Chi cục Nuôi trồng Thủy sản Kiên Giang đã giúp tôi hoàn
thành đề tài tốt nghiệp này. Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc
đến thầy PGS. TS. Phạm Quốc Hùng đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ tôi
hoàn thành luận văn.
Tôi xin cảm ơn tới cơ quan, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong thời gian tôi
học tập cũng như thực hiên luận văn.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và các bạn đã giúp đỡ động viên
tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài tốt nghiệp.
Kiên Giang, ngày 12 tháng 10 năm 2017
Tác giả
Trần Thị Thu Thủy
iv
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ iii
LỜI CẢM ƠN.............................................................................................................. iv
MỤC LỤC .....................................................................................................................v
DANH MỤC BẢNG ................................................................................................. viii
DANH MỤC HÌNH..................................................................................................... ix
3.1.4. Kinh nghiệm nuôi .............................................................................................. 21
3.1.5. Quy mô của các hộ nuôi .................................................................................... 22
3.2. Hiện trạng kỹ thuật của nghề nuôi sò huyết .......................................................... 23
3.2.1. Nguồn giống ...................................................................................................... 24
3.2.2. Diện tích và sản lượng ....................................................................................... 25
3.2.3. Hình thức nuôi ................................................................................................... 26
3.2.4. Kỹ thuật nuôi ..................................................................................................... 27
3.2.4.1. Điều kiện bãi nuôi ........................................................................................... 27
3.2.4.2. Nguồn giống ................................................................................................... 28
3.2.4.3. Kỹ thuật thả giống........................................................................................... 29
3.2.4.4. Chăm sóc quản lý............................................................................................ 30
3.2.4.5. Thu hoạch ....................................................................................................... 30
3.2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến nghề nuôi sò huyết thương phẩm ............................. 32
3.2.6. Hiệu quả kinh tế ................................................................................................. 33
3.3. Khó khăn và giải pháp phát triển bền vững nghề nuôi sò huyết ............................ 34
3.3.1. Khó khăn ........................................................................................................... 34
3.3.2. Một số giải pháp phát triển bền vững nghề nuôi sò huyết .................................. 36
vi
3.3.2.1. Nhóm giải pháp về quy hoạch vùng nuôi ........................................................ 36
3.3.2.2. Nhóm giải pháp về khoa học công nghệ và khuyến ngư ................................. 36
3.3.2.3. Nhóm giải pháp về dịch vụ, hậu cần ............................................................... 37
3.3.2.4. Nhóm giải pháp về chính sách vốn ................................................................. 37
3.3.2.5. Nhóm giải pháp về thị trường ......................................................................... 38
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT ...................................................................39
4.1. Kết luận ................................................................................................................ 39
4.2. Đề xuất ................................................................................................................. 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...........................................................................................40
PHỤ LỤC 1: MỘT SỐ HÌNH ẢNH THỰC HIỆN LUẬN VĂN
Đề tài “Điều tra hiện trạng nghề nuôi sò huyết (Anadara granosa) ở huyện An
Biên tỉnh Kiên Giang và đề xuất giải pháp phát triển theo hướng bền vững” được thực
hiện từ tháng 10/2014 đến 11/2015 với mục tiêu đánh giá hiện trạng kỹ thuật và đề
xuất một số giải pháp nhằm phát triển bền vững nghề nuôi thương phẩm sò huyết tại
huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Nghiên cứu được thực hiện trên 95 hộ dân nuôi sò
huyết thương phẩm dựa trên phương pháp điều tra phỏng vấn, từ đó, đề xuất một số
giải pháp quản lý mang tính khả thi để hướng nghề sò huyết thương phẩm tại đây cũng
như trong toàn tỉnh Kiên Giang phát triển theo hướng bền vững.
Kết quả điều tra cho thấy, độ tuổi trung bình của các chủ hộ nuôi sò huyết tại
An Biên, Kiên Giang là 34,6 ± 0,7 tuổi. Trình độ văn hóa của người dân nuôi sò
huyết chủ yếu là cấp 1 và cấp 2 chiếm 60,2%. Đa số các hộ nuôi sò huyết thương
phẩm theo kinh nghiệm truyền thống, không hoặc ít áp dụng các biện pháp kỹ thuật,
chỉ có 12,5% số người dân nuôi được các cơ quan chuyên môn tập huấn về các biện
pháp kỹ thuật trong quy trình nuôi. Tất cả các hộ dân đều nuôi theo 3 hình thức chủ
yếu là nuôi sò trong rừng phòng hộ, ao đầm và nuôi ngoài bãi triều, với diện tích nuôi
dao động từ 1 – 5 ha, chủ yếu là 1 – 2 ha. Nguồn giống sò huyết chủ yếu là khai thác
từ tự nhiên tại địa bàn trong Tỉnh; Thời gian nuôi 10 – 11 tháng với tỷ lệ sống của sò
trong ao đầm là 65,6 ± 2,2%, nuôi ngoài bãi là 61,6 ± 1,4%. Năng suất nuôi của sò
huyết trong ao đầm trung bình đạt 152,6 ± 9,6 con/m2, tương đương với khối lượng
trung bình 1,32 kg/m2. Đối với hình thức nuôi ngoài bãi năng suất trung bình đạt 160
± 6,5 con/m2, tương đương với 1,2 kg/m2. Tất cả các hộ dân nuôi sò huyết đều có lãi
với lợi nhuận dao động từ 335 - 350 triệu đồng/ha. Lợi nhuận biên đối với hình thức
nuôi trong ao đầm là 109,4% và 117,5% đối với hình thức nuôi ngoài bãi.
Kết quả điều tra cũng cho thấy hiệu quả của nghề nuôi thương phẩm sò huyết
tại An Biên, Kiên Giang chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố (tự nhiên và hoạt động
của con người). Đặc biệt, có nhiều yếu tố ảnh hưởng nghiêm trọng như ô nhiễm môi
trường (94,5%), dịch bệnh (92,0%), lũ lụt và bão (87,0%), độ mặn (83,5%), nuôi thủy
sản thiếu quy hoạch (65,5%), khai thác thủy sản quá mức và hủy diệt (67,0%), áp
dụng kỹ thuật chưa hiệu quả (69,0%). Năm nhóm giải pháp đã được đề xuất nhằm
x
sò huyết trên 2000 ha tập trung ở vùng Kiên Giang, Bến Tre, Quảng Ninh, Trà Vinh và
Ninh Thuận. Đến năm 1995, tổng sản lượng sò huyết nuôi đạt 12.520 tấn và được nuôi
chủ yếu là ở Kiên Giang (7.500 tấn). Tuy nhiên, trong vài năm gần đây mặc dù sò
huyết là một đối tượng nuôi mang lại lợi nhuận cao, chi phí thấp, tiềm năng nuôi trồng
còn rất lớn, nhưng hiện trạng nghề nuôi sò huyết tai phương pháp nuôi sò huyết chủ
yếu là truyền thống, kỹ thuật đơn giản, hình thức nuôi chủ yếu là quảng canh và bán
thâm canh ở vùng triều có nền đáy là bùn cát nên hiệu quả kinh tế thấp. Tại Kiên
Giang nghề nuôi sò huyết có ý nghĩa rất lớn, góp phần vào phát triển kinh tế – xã hội
của Tỉnh, đặc biệt là tại huyện An Biên, nghề nuôi sò huyết phát triển khá mạnh trong
vài năm trở lại đây. Tuy nhiên, tại đây sò huyết được nuôi thương phẩm chủ yếu là
nuôi ở bãi bồi và rừng phòng hộ, kỹ thuật nuôi chủ yếu dựa vào kinh nghiệm truyền
1
thống, chưa áp dụng kiến thức khoa học và đặc biệt địa phương chưa có quy hoạch
tổng thể cho phát triển đối tượng này.
Trước thực trạng trên, việc thực hiện đề tài “Điều tra hiện trạng nghề nuôi sò
huyết (Anadara granosa Linnaeus, 1758) ở huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang và đề
xuất biện pháp phát triển theo hướng bền vững” là cần thiết vào thời điểm hiện nay.
Đề tài sẽ đánh giá hiện trạng nghề nuôi thương phẩm sò huyết tại địa phương, từ đó đề
xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả và hướng sự phát triển của nghề nuôi sò huyết
ở huyện An Biên cũng như tỉnh Kiên Giang theo hướng bền vững.
Mục tiêu của đề tài:
Xác định được hiện trạng nghề nuôi sò huyết tại huyện An Biên, tỉnh Kiên
Giang để từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển bền vững và nâng cao hiệu quả
của nghề nuôi sò huyết ở địa phương.
Nội dung nghiên cứu:
1. Hiện trạng kinh tế - xã hội của các hộ nuôi sò huyết tại huyện An Biên.
2. Hiện trạng kỹ thuật của nghề nuôi sò huyết tại huyện An Biên.
3. Đề xuất một số giải pháp phát triển bền vững và nâng cao hiệu quả nghề nuôi
1.1.2. Đặc điểm phân bố
Sò huyết là loài động vật thân mềm hai mảnh vỏ có giá trị kinh tế cao được
nhiều nước trên thế giới khai thác tự nhiên và nuôi ở các bãi triều ven biển. Sò huyết
3
phân bố ở Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, tập trung nhiều ở Nam Trung Quốc,
Thái lan, Malaysia, Philippin, Úc, Ấn Độ, Việt Nam...
Ở Việt Nam, sò huyết phân bố trên tất cả các vùng triều ven biển, từ sát bờ đến
độ sâu 3 - 4 m nước, chất đáy bùn nhẹ hoặc bùn pha cát. Tổng diện tích sò phân bố
ước tính khoảng 50.000 ha. Sò huyết phân bố dọc ven biển nhưng tập trung ở Quảng
Ninh, Hải Phòng, Trà Vinh, Sóc Trăng, Cà Mau, Kiên Giang. Sò huyết phân bố tự
nhiên ở các bãi triều nông với thời gian phơi bãi từ 6 - 10 giờ/ngày đêm, có nền đáy là
bùn mịn hoặc bùn cát giàu chất hữu cơ, độ mặn từ 20-30‰, trong đó Kiên Giang được
xem là tỉnh có nguồn lợi sò huyết phong phú nhất trong cả nước [9].
Sò huyết không vùi sâu nên yêu cầu về chất đáy chỉ cần khoảng 15 cm bùn
mềm nhưng tốt nhất là nền đáy là bùn pha một ít cát mịn. Sò có thể sống ở vùng triều
(littoral) và vùng dưới triều (sublittoral) đến độ sâu vài mét. Nơi thích hợp nhất cho sò
là vùng hạ triều. Sò huyết có khả năng thích nghi với phạm vị biến đổi độ mặn rộng từ
10 - 30‰, khoảng thích hợp là từ 15 - 20‰. Khi độ mặn giảm thấp dưới 10‰, nhất là
trong mùa mưa lũ, sò sẽ vùi sâu xuống bùn. Nếu trong một thời gian ngắn độ mặn trở
lại thích hợp thì sò chui lên và tiếp tục sống bình thường, nếu tình trạng độ mặn thấp
kéo dài có thể làm sò chết. Phạm vi thích ứng nhiệt độ của sò huyết 20 - 30oC.
Nhìn chung, các nghiên cứu cho thấy đặc điểm phân bố của sò huyết đã được
nghiên cứu khá đầy đủ như địa lý phân bố, chất đáy, độ mặn và nhiệt độ thích nghi cho
sò huyết. Tuy nhiên, nghiên cứu về đặc điểm phân bố của sò huyết tại Kiên Giang thì
còn hạn chế.
Khi nghiên cứu sự phân bố tự nhiên của sò huyết ở vùng ven biển Selangor
Malaysia, Broom (1982) cho biết chúng chiếm tới 55 - 65% ở nơi có chất đáy bùn
mềm và gần rừng ngập mặn [25]. Oon (1986) cũng thấy sò huyết xuất hiện trong tự
loài trong giống Anadara là rất lớn [42]. Thí nghiệm của Davenport và Wong (1986)
về khả năng chịu đựng của sò huyết khi để ngoài không khí: sò có khả năng hô hấp khi
đem lên khỏi mặt nước, tuy nhiên tỷ lệ sống thấp và yếu đi sau 24 giờ, sau 48 giờ thì
sò bắt đầu chết [28]. Ngô Trọng Lư (1996) cho biết do đặc điểm tiêu hao oxy rất nhỏ
nên việc vận chuyển sò dễ dàng. Sò có thể trộn với một ít bùn rồi được vận chuyển
trong điều kiện bán khô trong các loại bao túi thông thường [7]. Theo Narasimham
(1980) lượng oxy hòa tan từ 4,9 - 7,0 mg/l, sò huyết có thể sinh trưởng và phát triển tốt
[38]. Sò huyết phân bố ở các bãi bùn mềm, ít sóng gió và nước lưu thông. Các bãi sò
thường gần các cửa sông có dòng nước ngọt đổ vào, độ mặn tương đối thấp. Sò nhỏ
5
sống trên mặt bùn, sò lớn vùi sâu trong bùn khoảng 1 – 3 cm. Chúng dùng mép vỏ và
màng áo ngoài thải nước làm thành lỗ ở mặt bùn để hô hấp và bắt mồi.
1.1.3. Đặc điểm sinh trưởng
Theo Broom (1982) thì sò huyết trong tự nhiên phải mất khoảng 6 tháng mới
tăng được từ 4 - 5 mm về chiều dài, và khi nuôi từ nguồn giống nhân tạo phải hơn 1
năm mới đạt cỡ 30 mm. Tuy nhiên điều này còn phụ thuộc nhiều vào các điều kiện
từng nơi [25]. Thí nghiệm của Pathansali (1966) cho thấy những nơi có mật độ nhỏ
hơn 10,5 con/m2 sau 10 - 12 tháng mới đạt khích thước 18 - 32 mm. Thông thường
sang năm thứ 2, tốc độ sinh trưởng của sò chậm hơn năm thứ nhất nhiều [41].
Narasimham (1980) khi nghiên cứu sinh trưởng của sò huyết tại Vịnh Kakinada ở
vùng biển Ấn Độ cho rằng năm đầu tiên sò từ 4,5 mm tăng đến 31,5 mm, trong năm
thứ 2 từ 31,5 tăng lên 49,5 mm và ông cũng thiết lập phương trình về mối quan hệ giữa
chiều dài L (mm) và khối lượng W (g) cho nhóm kích thước từ 20 - 93 mm là: W=
0,0013 L2,645 [38]. Kích cỡ lớn nhất mà Narasimham tìm thấy của sò huyết dài 63
mm, nhưng Cahn (1951) đã tìm thấy cá thể dài tới 70 mm tại Nhật Bản [28].
Mật độ và thời gian phơi bãi là những nhân tố ảnh hưởng tới tốc độ sinh trưởng
của sò. Broom (1980) đã thiết lập phương trình về mối quan hệ giữa chiều dài L (mm)
Kích cỡ thức ăn phụ thuộc vào kích thước của sò. Sò nhỏ lọc cỡ mồi dưới 10 µm, sò
lớn loại lọc mồi từ 10 ÷ 100 µm [25]. Theo Hà Quang Hiến (1964) cho biết thành phần
thức ăn thay đổi tùy theo ngoại cảnh và từng mùa, từng nơi. Nhưng nói chung chúng
thường sử dụng tảo si líc như Navicula, Nitzschia, Pleurosigma, Thalasiosira,
Melosira, Chaetoceros… [4].
1.1.5. Đặc điểm sinh sản
Giới tính, kích cỡ thành thục và tỷ lệ đực cái:
Các loài thuộc giống Anadara có thể lưỡng tính hoặc phân tính. Broom (1983)
khi nghiên cứu về giới tính của sò huyết đã cho thấy chúng là đực cái phân biệt và
trong 300 mẫu thu được chỉ gặp có 1 cá thể lưỡng tính [26].
Các nghiên cứu về đặc điểm sinh học sinh sản sò huyết của Broom (1983) cho
thấy tuyến sinh dục của sò chưa phát triển cho đến khi kích thước sò đạt 17,5 mm [26].
Pathansali (1996) ở Malaysia khẳng định: sò đạt kích cỡ thành thục khoảng 18 - 20
mm, tương đương với 6 tháng tuổi. Sò đẻ trứng lần đầu tiên khi có chiều dài vỏ
khoảng 24 - 25 mm, tỷ lệ đực cái là 1:1 ở bất kỳ nhóm kích thước nghiên cứu nào [41].
Tuy nhiên theo Yankson (1982) khi nghiên cứu ở Ghana đã cho thấy vào mùa khô,
7
nhiệt độ từ 32 - 34oC, độ mặn có thể đạt tới 50‰ tỷ lệ đực cái là 1:2 [46]. Tuyến sinh
dục có thể nhìn thấy bằng mắt thường khi sò đạt kích cỡ trên 20 mm và phát triển đầy
đủ nhất ở kích cỡ 21 mm trở đi [34].
Khi nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản của sò huyết sống ở vùng ven biển
Trà Vinh, Trương Sỹ Kỳ (1996) đi đến nhận xét kích thước thành thục lần đầu tiên ở
nhóm chiều cao lớn hơn 22 mm. Tỷ lệ đực cái của sò huyết trong vùng điều tra là 59,5
: 40,5 và sức sinh sản tuyệt đối của sò huyết khá cao, dao động từ 518.473 - 2.412.213
trứng [5]. Hoàng Thị Bích Đào (2005) khi thu mẫu sò huyết tại đầm Nha Phu (Khánh
Hòa) cho biết tỷ lệ đực cái trong quần đàn tự nhiên biến động theo tháng (1:2,1) và
nhóm kích thước lớn (1:2,3). Sức sinh sản tuyệt đối của sò dao động từ 232.500 1.298.000 trứng [3].
Mùa vụ sinh sản:
Tương quan thành thục sinh dục; Kích thước thành thục lần đầu; Chu kỳ và mùa vụ
sinh sản; Sức sinh sản của sò huyết. Nêu một số đặc điểm sinh thái trong quá trình
ương nuôi ấu trùng sò huyết như: Giai đoạn ấu trùng sống nổi; Giai đoạn ấu trùng và
hậu ấu trùng sống đáy [17]. Đến năm 2005, Hoàng Thị Bích Đào tiếp tục nghiên cứu
về đặc điểm sinh học sinh sản và thành công trong sản xuất giống nhân tạo sò huyết tại
Khánh Hòa [3].
1.1.6. Một số nghiên cứu khác
Các loài sò rất giàu protein, gluxit và các chất khoáng. Một nghiên cứu của
Ibrahim (1995) về hàm lượng các nguyên tố vi lượng trong sò huyết đã thực hiện và
kết quả cho thấy có 12 nguyên tố vi lượng có mặt trong thịt sò. Đó là nguyên tố: Mg,
Cl, Mn, K, As, Se, Br, Zn, Co, Fe, Rb và Cr. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, hàm
lượng các kim loại có quan hệ tỷ lệ thuận với khối lượng của sò. Khối lượng sò càng
lớn thì hàm lượng các kim loại có trong sò càng cao.
Nghiên cứu về thành phần sinh hóa của sò ở nước ra còn rất ít, mới chỉ có
nghiên cứu của Lâm Ngọc Trâm (1996) [18]. Báo cáo cho biết hàm lượng nước và
tổng lượng khoáng ở sò huyết thấp hơn các đối tượng cùng được nghiên cứu (sò lông,
nghêu). Trong khi đó hầu hết các chất hữu cơ (protein, lipit, gluxit) ở sò huyết lại cao
hơn, đặc biệt là protein chiếm tới 17,13% (tính theo khối lượng tươi) có thể sánh
ngang với các đối tượng xuất khẩu có giá trị như mực, cá thu, tôm biển. Ngoài ra các
nguyên tố như Fe (48,30 µg/g); Mn (0,90 µg/g); N (5,99 mg/g); P (0,51 mg/g); K (1,73
9
mg/g)… có hàm lượng khá cao (gấp 10 lần ở cá) [43]. Điều đó càng khẳng định giá trị
dinh dưỡng cao của sò huyết. Một nghiên cứu khác gần đây của Nguyễn Thị Vĩnh và
Nguyễn Tài Lương (2001) khi nghiên cứu thành phần hóa học của sò huyết, trai ngọc
nữ và hến hồng ở vùng biển Nha Trang. Vì vậy việc nghiên cứu sò huyết phục vụ cho
nhu cầu thực phẩm của con người cần được quan tâm hơn nữa [23].
Sò huyết là một trong những nguồn thức ăn khá phổ biến của người dân nhiều
nước Châu Á. Họ thường sử dụng chúng ở dạng thức ăn không được nấu chín hoàn
và nuôi với diện tích lớn. Trung Quốc là một trong những nước nuôi sò huyết lớn trên
thế giới với sản lượng 200 nghìn tấn năm 1999 chiếm 64% sản lượng thế giới.
Ở khu vực Đông Nam Á, Malaysia là nước dẫn đầu về sản lượng sò huyết.
Theo FAO (2013) thì tổng sản lượng sò huyết của thế giới là 393.000 tấn, trong đó,
Maylaysia là nước đóng góp nhiều nhất [31]. Sò huyết chiếm đến 94% sản lượng động
vật thân mềm xuất khẩu tại quốc gia này. Trong giai đoạn 1975 - 1985, tổng sản lượng
sò khai thác trung bình khoảng 55.000 tấn/năm. Năm 1994 diện tích nuôi sò ở
Malaysia tăng lên đạt khoảng 4.640 ha với tổng sản lượng đạt 82.335 tấn. Tuy nhiên,
trong những năm gần đây, sản lượng sò huyết của Malaysia có xu hướng giảm dần.
Năm 2010, mặc dù diện tích nuôi tăng lên 100.000 ha nhưng sản lượng chỉ đạt 78.000
tấn. Năng suất ban đầu khoảng 21 tấn/ha nay giảm xuống còn 10 tấn/ha (Ramli and
Hasan, 2013). Tại Malaysia, sinh trưởng của sò huyết trong nuôi thương phẩm chịu
ảnh hưởng của 3 yếu tố là: thành phần chất đáy, độ mặn và độ dốc của nền đáy. Vùng
thích hợp cho nuôi sò là vùng triều, đáy bùn mịn, mềm, ít sóng gió, gần cửa sông, độ
mặn từ 10 - 30‰, mật độ sò huyết thả nuôi phụ thuộc vào kích thước; cụ thể cỡ sò
huyết giống nuôi thích hợp từ 4 - 10 mm tương ứng với mật độ 5.000 con/kg [30].
Từ năm 1980, Philippines tiến hành nhiều nghiên cứu về sản xuất giống và nuôi
thương phẩm sò huyết từ quy mô thí nghiệm đến các bãi nuôi tự nhiên. Kết quả đã sản
xuất giống nhân tạo thành công tuy nhiên con giống tự nhiên vẫn được ưa chuộng hơn.
Theo Narasimham (1980), thời gian nuôi thương phẩm sò huyết từ cỡ 23,0 mm và 5,5
g/con là khoảng 5 – 6 tháng ở mật độ 175 con/m2, sò sẽ đạt kích cỡ 39,2 mm và 28,5
g/con, tương ứng với tốc độ tăng trưởng 2,9 mm/tháng và tỷ lệ sống đạt 83,4% [38].
Ở Indonesia, sò là đối tượng động vật thân mềm quan trọng nhất và nghề nuôi
sò huyết phổ biến từ năm 1965 và chủ yếu dựa vào con giống tự nhiên. Nuôi sò huyết
ở Java phổ biến từ năm 1965 – 1969 và chủ yếu dựa vào con giống tự nhiên. Sò được
khai thác quanh năm, mùa cao điểm thường từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau. Kích
thước sò khai thác từ 1 - 5 cm. Vùng khai thác giống có độ mặn 25‰, sâu từ 1,4 m,
đáy bùn nhão dày 25 cm, độ trong 2 m. Trong giai đoạn từ năm 1978 – 1983, sản
11
đường thủy. Tuy nhiên, việc thu dọn sân sò có thể phải kéo dài đến cuối tháng 6, sau
khi người dân thu hoạch xong. Kênh, rạch tại hàng chục xã ven biển khác của tỉnh
12
cũng bị lấn chiếm để nuôi sò huyết, do giá loại đặc sản này cao kỷ lục vào năm 2011
(khoảng 50.000 đồng/kg).
Tại Tiền Giang, mô hình sò – tôm trong ao nuôi tôm quảng canh cải tiến tại Gò
Công Đông, làm tăng thu nhập và làm sạch môi trường, sò huyết giống tự nhiên có
khối lượng 4,3 g/con được thả nuôi với mật độ 120 con/m2, sau 6 tháng đạt khối lượng
75 – 80 con/kg, lợi nhuận khoảng 22 triệu đồng/ha/năm.
Tại Kiên Giang, Võ Minh Thế (2012) đã phân tích đặc điểm kỹ thuật và hiệu
quả tài chính các mô hình nuôi sò huyết ở tỉnh Kiên Giang [16]. Theo đó, tại Kiên
Giang mô hình nuôi sò huyết trong rừng phòng hộ ven biển được thực hiện từ năm
2010, mô hình đã mang lại hiệu quả cao cho người nuôi và đang được nhân rộng mô
hình. Tại An Biên, các mô hình nuôi tôm sú thả ghép sò huyết trong ao dưới tán rừng
phòng hộ ở khu vực ven biển thường được triển khai với diện tích khoảng 1ha, sau 12
tháng nuôi sò phát triển tốt tỷ lệ sống đạt trên 65% năng suất từ 6.600 – 6.842 kg/ha,
năng suất tôm sú 200 kg/ha. Lợi nhuận bình quân từ 100 – 120 triệu đồng/ha. Hiệu quả
của mô hình đã góp phần ổn định kinh tế cho những hộ dân sinh sống ở vùng ven rừng
phòng hộ. Mô hình nuôi ghép tôm - cua - sò huyết trong cùng diện tích canh tác ở các
xã vùng ven biển của huyện An Biên đã giúp nhiều hộ dân có thu nhập ổn định, vươn
lên làm giàu. Tại Bình Định, sò huyết được nuôi từ năm 1997 chủ yếu tại đầm Nại,
phát triển mạnh vào năm 1998, sau đó giảm dần (17,4 ha với sản lượng 83,5 tấn năm
1998 giảm xuống 2 ha với 3 tấn năm 2005). Nuôi sò huyết trong ao tôm và nuôi đăng
chắn ở bãi triều là 2 loại hình nuôi chủ yếu.
Nhìn chung hiện nay, nghề nuôi sò huyết ở Việt Nam nói chung và Kiên Giang
nói riêng phát triển khá mạnh. Tuy nhiên nguồn giống cung cấp cho nghề nuôi chủ yếu
từ khai thác tự nhiên và người dân sử dụng mặt nước cho nghề nuôi này tự phát chưa