SKKN phương pháp sử dụng atlat địa lí VN trong dạy học địa lí 12 - Pdf 48

A. MỞ ĐẦU
1. Lí do viết sáng kiến.
Quá trình dạy - học là một hoạt động phức tạp, trong đó chất lượng, hiệu
quả cơ bản phụ thuộc vào chủ thể nhận thức - người học. Điều này lại phụ
thuộc vào nhiều yếu tố, như: năng lực nhận thức, động cơ học tập, sự quyết
tâm... (các yếu tố chủ quan); nó còn phụ thuộc vào: môi trường học tập, người
tổ chức quá trình dạy học, sự hứng thú trong học tập. Sự hứng thú học tập của
học sinh là một trong những yếu tố quyết định đến chất lượng dạy và học.
Nhìn chung người học có hứng thú học tập hay không là do mối quan hệ
tương tác của người dạy đối với người học.
Trong trường học hiện nay đa số các em học sinh ít quan tâm đến môn
địa lí vì các em nghĩ đây là môn học phụ, thuộc lĩnh vực khoa học xã hội
nhưng lại là môn khó thăng tiến trong xã hội và vì môn học thuộc lòng nên
dẫn đến học sinh ngại học. Điều đó làm cho học sinh không có hứng thú trong
học tập, ngại trau dồi kiến thức về địa lí. Việc học đối phó, miễn cưỡng học
sinh chỉ tiếp thu được lượng kiến thức rất ít, không bản chất, vì thế dễ quên.
Kết quả là điểm kiểm tra thấp, hiệu quả học tập chưa cao.
Khi có hứng thú say mê trong học tập thì việc lĩnh hội tri thức trở nên
dễ dàng hơn; ngược lại khi nắm bắt vấn đề nghĩa là hiểu được bài thì người
học lại có thêm hứng thú. Có nhiều cách để tạo hứng thú học tập cho học sinh
trong giờ học địa lí, riêng đối với bản thân tôi đã áp dụng một trong những
biện pháp để tạo hứng thú học tập cho học sinh đó là: sử dụng Atlat Địa lí
trong dạy học.
2. Mục tiêu của sáng kiến.
Thực tiễn dạy - học Địa lí ở trường THPT Sốp Cộp hiện nay còn nhiều
hạn chế như: Trong quá trình lên lớp giáo viên chưa phát huy được thế mạnh
của bộ môn, chưa chỉ cho các em xác định được đây là bộ môn khoa học cần
phải có sự học tập nghiên cứu nghiêm túc, trong giờ học còn nặng về truyền
thụ lí thuyết theo một chiều giáo viên giảng học sinh ghi bài, nên để học sinh

-1-

3.3. Về thời gian.
Tiến hành nghiên cứu từ tháng 8/2016 đến tháng 4/2017.
-2-


B. NỘI DUNG.
1. Cơ sở viết sáng kiến.
1.1. Cơ sở khoa học.
Atlat là phương tiện giảng dạy và học tập rất cần thiết và hữu ích đối
với môn địa lí ở nhà trường phổ thông. Cùng với SGK, atlat địa lí là nguồn
cung cấp kiến thức, thông tin tổng hợp và hệ thống giúp giáo viên đổi mới
phương pháp dạy học, hỗ trợ học sinh tự học, tự nghiên cứu.
Atlat địa lí Việt Nam do Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam xuất bản đã
được các thầy cô giáo và các học sinh trong cả nước sử dụng trong nhiều năm
qua.
Thực hiện đổi mới chương trình và SGK, Bộ giáo dục và Đào tạo đã
ban hành chương trình, SGK mới ; đến năm 2008 đã hoàn thành việc thay
SGK từ lớp 1 cho đến lớp 12. Để phục vụ thiết thực hơn nữa việc dạy và học
môn địa lí trong nhà trường. Công ty cổ phần Bản đồ và tranh ảnh giáo dục
cùng với các tác giả đã tiến hành bổ sung, chỉnh Atlat địa lí Việt Nam để phù
hợp với chương trình và SGK mới do Bộ giáo dục và Đào tạo ban hành.
Atlat địa lí Việt Nam là một hệ thống hoàn chỉnh các bản đồ có nội
dung liên quan hữu cơ đến nhau và bổ sung cho nhau, được sắp xếp theo trình
tự của chương trình và nội dung SGK với ba phần chính : địa lí tự nhiên, địa lí
kinh tế xã hội, địa lí các vùng.
1.2. Cơ sở chính trị,pháp lí.
Cơ sở pháp lý của đổi mới phương pháp dạy học đã được khẳng định ở
những văn bản của Đảng và nhà nước về chiến lược phát triển giáo dục 20012010 ghi rõ Đổi mới và hiện đại hoá phương pháp giáo dục. Chuyển từ việc
truyền thụ tri thức thụ động, thầy giảng, trò ghi song hướng dẫn người học
chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức, dạy cho người học phương

Như vậy, yêu cầu của thời đại mới đã đặt ra cho giáo dục và đào tạo
vấn đề: Làm thế nào, làm gì để nâng cao chất lượng, hiệu quả của giáo dục,
đào tạo?
Một trong những yếu tố góp phần nâng cao chất lượng dạy học là đa dạng hóa
các nguồn thông tin cho học sinh bằng nhiều phương tiện, tài liệu tham khảo
trong đó việc phát huy các nguồn tài liệu sẵn có trong các môn khoa học cơ
bản mà học sinh đã, đang và sẽ được học vừa là những minh chứng hiệu quả
-4-


nhất vừa là biện pháp để liên kết kiến thức tạo nên tính khoa học và thiết thực
của tri thức.
Như chúng ta đã biết các tri thức của môn địa lí mà đặc biệt là trong
chương trình địa lí 12 mang tính thực tế cao, nghiên cứu những vấn đề chung
nhất, phổ biến nhất đặc điểm, sự phát triển của nước ta, vì vậy mà kiến thức
trong các bài học cũng liên quan mật thiết đến kiến thức trong Atlat. Việc sử
dụng kiến thức của việc khai thác atlat vào quá trình dạy học môn địa lí không
những tạo ra hứng thú cho học sinh trong quá trình học mà mặt khác còn giúp
học sinh khó ghi nhớ kiến thức học thuộc có thể khai thác được kiến thức
trong atlat.
Luật giáo dục, điều 28.2 đã ghi rõ ‘‘Phương pháp giáo dục phổ thông phải
phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc
điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ
năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm
vui, hứng thú học tập cho HS’’
Yêu cầu của việc đổi mới phương pháp dạy học nên GV cần vận dụng
các phương pháp soạn giảng cho phù hợp để đem lại niềm vui, hứng thú học
tập cho HS, từ đó có thể phát huy tính tự giác tích cực của học sinh.
Một trong những yếu tố góp phần nâng cao chất lượng dạy học là đa
dạng hóa các nguồn thông tin cho học sinh bằng nhiều phương tiện, tài liệu

Sự hứng thú biểu hiện trước hết ở sự tập trung chú ý cao độ, sự say mê
của người học sinh. Trong bất cứ lúc nào nếu có hứng thú học tập học sinh sẽ
có cảm giác dễ chịu với hoạt động học của mình, làm nảy sinh sự mong muốn
hoạt động một cách sáng tạo. Ngược lại nếu không có hứng thú dù có “ Dắt
con Ngựa tới hồ nước thì cũng không thể bắt nó uống nước”. Đối với hoạt
động nhận thức sáng tạo, hoạt động học tập khi không có hứng thú kết quả sẽ
không có gì cả, thậm chí xuất hiện cảm xúc tiêu cực (chán học, không muốn
học, sợ học…)
Việc hình thành hứng thú học tập cho học sinh đặc biệt là hứng thú học
tập môn Địa lý là yêu cầu quan trọng của giáo viên Địa lý. Khi hỏi các em
nhân tố quan trọng chủ yếu tạo nên hứng thú học tập cho học sinh phụ thuộc
vào người dạy hay người học, đa số các em cho rằng do người dạy (chiếm
88,5% ý kiến). Khi các em có nhận thức đúng thì các em có những mong đợi
đối với giáo viên thật hợp lý để bài học được phong phú, lôi cuốn.

-6-


Atlat Địa lí Việt Nam giúp rèn luyện các kĩ năng địa lí, phương pháp
học tập và năng lực nghiên cứu. Học sinh nghiên cứu Atlat để xây dựng các
đối tượng địa lí và tự đặt ra câu hỏi, các vấn đề cần giải quyết để so sánh, đối
chiếu, tìm hiểu các mối liên hệ bản chất, các quy luật vận động, phát triển của
sự vật, hiện tượng địa lí.
Học sinh lớp 12 là học sinh cuối bậc THPT, các em đang ở độ tuổi phát
triển nhanh chóng về thể chất cũng như tư duy, năng lực quan sát tốt hơn, có
tư duy nhạy bén hơn, có khả năng phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái
quát hóa. Từ đặc điểm tâm lí trên đòi hỏi quá trình dạy học địa lí phải cải tiến
cho phù hợp, tránh tình trạng học sinh cảm thấy nhàm chán, nặng nề mỗi khi
đến giờ học môn địa lí. Việc sử dụng Atlat vào chương trình dạy học địa lí lớp
12, trung học phổ thông là điều kiện tốt để lôi cuốn các em vào bài giảng.

Nội dung kiến thức trong môn địa lí khối 12 có thể nói là khó đối với
học sinh mà vừa là kiến thức sẽ có trong nội dung thi THPT Quốc gia.
Một vấn đề nữa là thời lượng dành cho môn học còn ít ( 1,5 tiết trên
tuần) sách mới hiện nay rất cô đọng xúc tích nhưng nó cũng mang tính thời
sự . Vì vậy, nếu giáo viên dạy bộ môn không có sự đầu tư thì giờ học sẽ rất
nhàm chán, học sinh không hứng thú lắng nghe.
Một số giáo viên Địa lý vẫn chưa thực sự thấm nhuần tích cấp thiết,
tầm quan trọng, bản chất phương hướng và cách thức đổi mới phương pháp
dạy học Địa lý, hiểu biết về cơ sở lý luận, thực tiễn của đổi mới phương pháp
dạy học còn chưa sâu sắc.
Đa số giáo viên vẫn chú trọng truyền thụ kiến thức theo kiểu thuyết
trình xen kẽ với hỏi đáp, nặng về thông báo, giảng giải kiến thức, nhẹ về phát
huy tính tích cực và phát triển tư duy học sinh, học sinh tiếp thu kiến thức một
cách thụ động.
Hình thức tổ chức dạy học con đơn điệu, dạy theo lớp là chủ yếu. Các
hình tức dạy học cá nhân, ngoài trời chưa được thực hiện, hoặc thực hiện chưa
có hiệu quả.
Cơ sở vật chất phục vụ dạy học, các phương tiện dạy học còn thiếu và
chưa đồng bộ.

-8-


Việc tạo động cơ học tập đúng đắn cho học sinh và các hình thức khen
thưởng, động viên người học chưa được giáo viên quan tâm một cách thích
đáng.
Việc đổi mới phương pháp dạy học địa lí diễn ra còn chậm chạp, chưa
đáp ứng những yêu cầu của cải cách giáo dục và làm cho chất lượng của dạy
học địa lí vẫn chưa được nâng cao một cách đáng kể. Bức tranh chung về dạy
học địa lí ở các trường THPT hiện nay là:

Nhìn chung giờ học Địa lý chưa mang lại nhiều hứng thú cho học sinh.
Có thể nói cách dạy và học Địa lý như trên đã gây ảnh hưởng không nhỏ đối
với chất lượng dạy học, đồng thời hạn chế việc phát triển trí tuệ của học sinh
khi học môn Địa lý. Vì vậy tiếp tục đổi mới một cách mạnh mẽ, có hiệu quả
các phương pháp dạy học Địa lý là một trong những vấn đề quan trọng nhất
cần phải được tiếp tục quan tâm và tìm cách giải quyết.
Xác định được ý nghĩa của việc sử dụng Atlat Địa lí trong dạy học địa lí
nên ngay từ tiết học đầu tiên tôi đã tìm hiểu về việc trang bị Atlat của các em.
Kết quả thật khiêm tốn, mỗi lớp chỉ khoảng 3 – 4 học sinh có Atlat Địa lí Việt
Nam. Trong số các em có Atlat, khi được hỏi: Các em có thường xuyên sử
dụng Atlat trong giờ học và làm bài tập địa lí không? Thì số học sinh thường
xuyên sử dụng Atlat quá ít, chỉ có một vài em, các em chủ yếu sử dụng Atlat
trong việc làm bài thực hành, bài tập chứ không biết kết hợp nội dung kiến
thức trong sách giáo khoa và bản đồ trong Atlat để chứng minh, phân tích,
giải thích cho một hiện tượng, đối tượng địa lí. Đặc biệt có một số bộ phận
học sinh mặc dù trang bị Atlat nhưng chưa bao giờ sử dụng đến.
Khi hỏi học sinh lựa chọn giữa làm đề thi khai thác kiến thức từ Atlat
và kiến thức học thuộc thì phần đa các em chọn đề sử dụng kiến thức học
thuộc (chiếm 90%).
Nguyên nhân do đâu mà học sinh ít sử dụng Atlat Địa lí như vậy? Có
nhiều nguyên nhân, trước hết là do giáo viên sử dụng Atlat trong dạy học địa
lí còn quá ít (ngay từ những lớp học dưới), hầu như chưa chú ý đến việc khai
thác kênh hình trong sách giáo khoa nên học sinh ít có dịp được tiếp xúc, sử
dụng Atlat, không tạo được nhu cầu sử dụng Atlat cho các em nên khi yêu cầu
học sinh sử dụng Atlat thì các em còn lúng túng, việc khai thác kiến thức
trong Atlat còn rất mông lung, vì vậy các em không thích sử dụng Atlat, và
khả năng sử dụng Atlat của học sinh còn thấp.
- 10 -



- 11 -


tạo ban hành. Nội dung chính của Atlat Địa lí Việt Nam được thành lập dựa
trên chương trình Địa lí Việt Nam ở trường phổ thông. Bao gồm 28 trang (tính
từ trang 3“ Kí hiệu chung” cho đến hết trang 30: “Các vùng kinh tế trọng
điểm”) và được chia thành ba phần, lần lượt từ cái chung cho đến cái riêng, từ
Địa lí tự nhiên đến Địa lí kinh tế - xã hội… Phù hợp với nội dung chương
trình sách giáo khoa địa lí 12.
Phần thứ nhất: Hành chính (giới thiệu về các đơn vị hành chính cấp
tỉnh, thành phố của nước ta tính đến năm 2008)
Phần thứ hai: Địa lí tự nhiên (địa hình, địa chất khoáng sản, khí hậu,
sông ngòi, đất, thực vật và động vật) và ba miền tự nhiên.
Phần thứ ba: Địa lí kinh tế - xã hội (dân số, dân tộc, kinh tế chung, giao
thông vận tải, thương mại) và các vùng kinh tế, vùng kinh tế trọng điểm
Các bản đồ trong Atlat thường có kích thước lớn hơn bản đồ trong sách
giáo khoa, lại thể hiện nhiều màu sắc và nội dung địa lí trên các trang bản đồ.
Ngoài bản đồ trong Atlat còn có nhiều biểu đồ, tranh ảnh minh hoạ và các số
liệu tra cứu. Vì vậy Atlat có nội dung phong phú hơn bản đồ treo tường và các
bản đồ trong sách giáo khoa. Nếu giáo viên biết hướng dẫn học sinh khai thác
một số nội dung trong Atlat thì việc học môn Địa lí sẽ dễ dàng hơn nhiều,
giảm bớt được áp lực học thuộc lòng cho học sinh. Khi giáo viên sử dụng bản
đồ treo tường để giảng bài mới thì học sinh vừa nghe, ghi, và nhìn bản đồ treo
tường vừa theo dõi nội dung tương ứng trên bản đồ trong Atlat. Học sinh có
thể nhanh chóng tìm thấy nội dung bài giảng trên bản đồ.
Trong Atlat có một số bài dạy có thể không cần sử dụng Atlat nhưng
nếu giáo viên sử dụng Atlat phù hợp với sách giáo khoa và bản đồ treo tường
thì hiệu quả sẽ cao hơn.
3.2. Hướng dẫn học sinh kĩ năng khai thác Atlat Địa lí Việt Nam trong
dạy học địa lí 12.

Việt Nam trong nội dung chương trình địa lí 12.
Muốn tìm hiểu được nội dung của mỗi bản đồ, biểu đồ thì việc hiểu
các ngôn ngữ của nó là việc hết sức quan trọng. Trong Atlat ngôn ngữ được
dùng là những quy định thống nhất, chính xác về màu sắc, ký hiệu, tỷ lệ của
bản đồ... Ngay từ trang đầu tiên của Atlat, giáo viên cần hướng dẫn cho học

- 13 -


sinh tìm hiểu và nắm vững các quy ước ở mục chú giải để có thể đọc nhanh,
đúng bản đồ và từ đó phân tích chính xác hơn.
Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh khi đọc bất cứ một bản đồ nào
phải đọc :
- Tên bản đồ trước để hình dung ra nội dung của bản đồ.
- Đọc phần chú giải để hiểu rõ các kí hiệu được dùng cho bản đồ đó.
- Sau đó sẽ tìm hiểu các kiến thức liên quan đến bài học được thể hiện
trên bản đồ, biểu đồ trong Atlat. Từ đó rút ra những nhận xét về các yếu tố
của tự nhiên và kinh tế - xã hội theo từng nội dung của bài học.
Khi phân tích, hoặc đánh giá một đối tượng địa lí, học sinh cần tái
hiện từ vốn tri thức địa lí đã có của bản thân vào việc đọc Atlat.
* Gợi ý khai thác các nội dung bài học địa lí 12 trong Atlat Địa lí Việt Nam.
Trong từng nội dung bài khi sử dụng Atlat Địa lí Việt Nam HS cần khai
thác các thông tin như sau:
Bảng 3: Bảng gợi ý khi khai thác nội dung địa lí 12 trong Atlat.
Nội dung
Đối với vị trí địa

Một số gợi ý cần khai thác
+ Vị trí của lãnh thổ: tiếp giáp với những vùng lãnh thổ


+ Các nét đặc trưng về khí hậu: bức xạ mặt trời, số giờ
nắng, tổng lượng bức xạ.
- 14 -


+ Xác định kiểu khí hậu đặc trưng với những đặc trưng
Đối với khí hậu.

cơ bản (kiểu khí hậu; những chỉ số khí hậu: nhiệt độ,
lượng mưa, phân bố lượng mưa...)
+ Tính chất theo mùa của khí hậu (sự khác biệt giữa các
mùa).
+ Ảnh hưởng của khí hậu tới sản xuất và đời sống.
+ Mạng lưới sông ngòi.
+ Đặc điểm chính của sông: mật độ dòng chảy, chế độ
nước, hàm lượng phù sa.

Đối với thuỷ văn.

+ Các con sông lớn trên lãnh thổ (nơi bắt nguồn, hướng
chảy, chiều dài, chế độ nước, chế độ dòng chảy).
+ Giá trị kinh tế (giao thông, thuỷ lợi, thuỷ sản, thuỷ
điện...), các vấn đề khai thác và bảo vệ sông ngòi.
+ Các loại thổ nhưỡng, các nhân tố ảnh hưởng đến thổ

Đối với thổ
nhưỡng.

nhưỡng.
+ Hiện trạng sử dụng đất (giá trị sử dụng, phân bố,


+ Phân bố theo lãnh thổ.
+ Vai trò và điều kiện phát triển.
+ Tình hình phát triển.
Đối với nông
nghiệp.

+ Các phân ngành nông nghiệp (điều kiện phát triển,
tình hình phát triển và phân bố).
+ Sự phân bố.
+ Các vùng nông nghiệp
+ Vai trò và điều kiện phát triển.
+ Tình hình phát triển.

Đối với công
nghiệp.

+ Cơ cấu ngành công nghiệp (theo thành phần kinh tế,
theo ngành, theo lãnh thổ).
+ Các phân ngành công nghiệp (tình hình phát triển và
phân bố).
+ Phân bố công nghiệp: Các trung tâm công nghiệp, các
điểm công nghiệp.
+ Tài nguyên du lịch (tự nhiên và nhân văn).
+ Tình hình phát triển (số khách du lịch quốc tế, nội địa

Đối với du lịch.

và doanh thu du lịch).
+ Các trung tâm du lịch quốc gia, vùng.

phải lựa chọn những kiến thức thích hợp trong Atlat trên nền kiến thức đã có
để trả lời.
* Một số ví dụ cụ thể hướng dẫn HS kĩ năng khai thác Atlat Địa lí Việt
Nam
Ví dụ 1: Hướng dẫn HS kĩ năng tìm hiểu các nội dung trong bản
đồ của Atlat để rút ra đặc điểm của các yếu tố vị trí địa lí và tự nhiên.
Giáo viên hướng dẫn cho HS khai thác bản đồ trang 4 – 5 trong
Atlat.
- Xác định các điểm cực trên đất liền của nước ta.
+ Điểm cực Bắc: tại xã Lúng Cú, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang.
+ Điểm cực Nam: xóm Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau.
+ Điểm cực Đông: tại bán đảo Hòn Gốm, xã Vạn Thạch, huyện Vạn
Ninh, tỉnh Khánh Hoà.
+ Điểm cực Tây: tại xã Sín Thầu, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.
- Xác định một số tỉnh, thành phố (trực thuộc Trung ương): Hà Nội,
Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ.
- Hay xác định các tỉnh có đường biên giới giáp với các nước, hoặc
hướng dẫn học sinh xác định các tỉnh, thành phố giáp biển của nước ta từ Bắc
xuống Nam.
- Hay hướng dẫn HS xác định các tỉnh có diện tích lớn nhất và nhỏ
nhất.
Giáo viên hướng dẫn HS khai thác bản đồ trang 6 -7 trong Atlat.
- Thể hiện được những nét khái quát nhất về hình thể lãnh thổ VN:
Vùng đất, vùng trời, vùng biển, các đặc điểm chung của địa hình VN (tỉ lệ
tương quan giữa đồi núi và đồng bằng, các điểm độ cao của địa hình, hướng

- 17 -


địa hình...), cũng như sự phân chia các khu vực địa hình: khu vực núi cao, khu


khô giúp ta trồng được các cây ôn đới, nhưng cũng gây những khó khăn lớn
như sương muối.. .
+ Tình hình phân bố dân cư của vùng (Sử dụng bản đồ dân số trang 15
Atlat) để nhận thức được: Đồng bằng sông Hồng có dân số đông nhưng phân
bố không đều, nơi đông dân nhất là Thủ đô Hà Nội .
Tóm lại đây là vùng kinh tế phát triển toàn diện có nền nông nghiệp,
công nghiệp, dịch vụ đều phát triển mạnh.
=> Tóm lại,việc rèn luyện kỹ năng sử dụng Atlat cho học sinh lớp 12
là rất quan trọng và hết sức cần thiết. Đây không những là phương tiện tìm
hiểu kiến thức và còn phát huy được trí lực học sinh đồng thời kích thích học
sinh say mê học tập môn Địa lí vì nó rất hấp dẫn tính tò mò, ham hiểu biết
của học sinh.
3.2.3 Các kĩ năng khai thác Atlat trong làm bài kiểm tra địa lí 12.
Trong các kì thi THPT quốc gia HS được phép sử dụng Atlat Địa lí
Việt Nam do Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam ban hành.
- Đối với các câu hỏi có “lệnh hỏi” là sử dụng Atlat và kiến thức đã
học. Ví dụ như: (1) Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam và kiến thức đã học hãy
nhận xét sự phân hoá theo không gian và thời gian của chế độ nhiệt ở nước ta
hoặc (2) Tình bày các sản phẩm nông nghiệp chủ yếu ở Tây Nguyên. Giải
thích nguyên nhân. Để trả lời câu hỏi trên, cần phải biết sử dụng trang nào của
Atlat, đối với mỗi trang trong đó cần khai thác những nội dung nào? Câu (1)
cần sử dụng trang bản đồ khí hậu (tr.9) với các nội dung khí hậu chung và
nhiệt độ.
Với những câu hỏi kiểu này, nếu thí sinh chỉ dựa vào một trong hai cơ sở hoặc
là riêng Atlat, hoặc là kiến thức đã học để làm bài thì bài làm sẽ không được
hoàn thiện. Nếu chỉ dựa vào kiến thức đã học, nhiều kiến thức Atlat sẽ bị bỏ
sót, đặc biệt là các kiến thức về phân bố cụ thể, mối quan hệ về không gian
lãnh thổ của sự vật hiện tượng địa lí,... Nếu chỉ dựa vào Atlat, nhiều kiến thức
như tình hình phát triển, nguyên nhân phát triển, về đường lối, chính sách,

gi nhớ máy móc.

3.3 Thiết kế giáo án có sử dụng Atlat trong quá trình dạy học.
- 20 -


TIẾT 38. BÀI 32. VẤN ĐỀ KHAI THÁC THẾ MẠNH Ở TRUNG DU VÀ
MIỀN NÚI BẮC BỘ
Lớp dạy

12B5

I. Mục tiêu bài học
1. Về kiến thức:
- Phân tích được ý nghĩa của vị trí địa lí đối với sự phát triển kinh tế xã
hội của vùng.
- Biết được các thế mạnh của vùng, hiện trạng khai thác và khả năng
phát huy các thế mạnh đó để phát triển kinh tế - xã hội.
- Phân tích được việc sử dụng các thế mạnh để phát triển các ngành
kinh tế của vùng; một số vấn đề đặt ra và biện pháp khắc phục.
2. Về kĩ năng:
- Rèn luyện kĩ năng đọc và khai thác các kiến thức từ bản đồ, Atlat Địa
lí Việt Nam, các bản đồ giáo khoa theo trường và bản đồ trong SGK.
- Rèn luyện được kĩ năng: Sử dụng bản đồ, xác định vị trí, lãnh thổ,
nhận xét, giải thích một số ngành kinh tế.
- Thu thập và xử lí các tư liệu thu thập được từ các nguồn khác nhau.
- Vẽ và phân tích biểu đồ, số liệu thống kê liên quan đến kinh tế của
vùng.
3. Về thái độ:
Tăng tình yêu quê hương đất nước, thấy rõ trách nhiệm của bản thân

2. Dạy nôi dung bài mới:
Hoạt động của giáo viên và học sinh
Nội dung chính
Hoạt động 1: Tìm hiểu vị trí và quy 1 . Khái quát chung
mô lãnh thổ. Đàm thoại/ khai thác bản

* Vị trí địa lí

đồ/ cả lớp (5 phút)
GV: Treo bản đồ vùng Trung Du Miền
Núi Bắc Bộ
CH: Dựa vào bản đồ kinh tế Trung
Du Miền Núi Bắc Bộ kết hợp với
Atlat. Em hãy xác định vị trí địa lí của
vùng TDMNBB ?
HS: Lên bảng xác định
GV: Nhận xét, chuẩn kiển thức

TDMNBB nằm ở phía bắc nước
- 22 -


Vùng TDMNBB là vùng địa đầu của tổ ta
quốc

+ phía Bắc giáp Trung Quốc

- Phía Bắc và Đông Bắc được giới hạn

+ phía Tây giáp Lào

HS: Trả lời:
GV: Củng cố, chuẩn kiến thức

*Ý nghĩa

- Phía Bắc và Tây Bắc giáp Trung Quốc - Vùng có vị trí đặc biệt, tạo điều
và Lào thuận lợi giao lưu kinh tế qua kiện thuận lợi cho giao lưu kinh
các cửa khẩu: Móng Cái, Hữu Nghị, Trà tế với các vùng khác trong cả
Lĩnh, Thanh Thủy, Lào Cai, Tây Trang

nước, và xây dựng nền kinh tế

- Phía Nam giáp BTB và ĐBSH là mở.
những vùng kinh tế phát triển sôi động - Vùng có ý nghĩa chiến lược về
nhất là ĐBSH.

chính trị - an ninh quôc phòng.

- Phía Đông giáp vịnh Bắc Bộ thuận lợi
- 23 -


cho phát triển các ngành kinh tế biển
như: GTVT biển, du lịch, đánh bắt và
nuôi trồng thủy hải sản…
Ngòai ra đường biên giới dài và diện
tích rộng lớn vùng có ý nghĩa về chính
trị, an ninh quôc phòng.
Chuyển ý :
TDMNBB là vùng có nhiều điều kiện

- Tiềm năng: Vùng giàu tài

- TDMNBB là vùng giàu tài nguyên nguyên khoáng sản nhất cả nước.
khoáng sản: than, sắt, thiếc, chì, đồng, Có đầy đủ các loại khoáng sản:
kẽm, a patit, py rit …

Kim loại, phi kim và năng

- Thế mạnh phát triển các ngành công lượng…
nghiệp khai khoáng.

- Thế mạnh: phát triển các ngành

CH: Quan sát hình 32 sgk em có nhận công nghiệp khai khoáng.
xét gi về sự phân bố khoáng sản của - Phân bố:
TDMNBB ?

+ Ngành khai thác than: Tập

HS: Trả lời :Phân bố không đều

chung ở vùng mỏ Quảng Ninh,

- Phân bố: than (Quảng Ninh, Lạng Sơn, sản lượng trên 30 triệu tấn/ năm.
quặng đồng – niken (Sơn La), sắt (Yên + Các mỏ kim loại: quặng đồngBái), chì (Bắc Kạn), đồng, vàng (Lào niken (Sơn La), sắt (Yên Bái), chì
Cai) thiếc, bôxít (Cao Bằng) …

(Bắc Kạn) đồng, vàng (Lào Cai)

GV: Chuẩn kiến thức

+ Thủy điện Sơn La trên sông Đà
(2400MW)
- Đang xây dựng: Lai Châu trên
sông Đà (1200MW)
- 25 -



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status