Trường THCS Thọ Nghiệp
THÔNG TIN VỀ SÁNG KIẾN
1.Tên sáng kiến:
Nâng cao chất lượng môn Ngữ văn bằng phương pháp sử dụng
Bản đồ tư duy trong dạy học.
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn học Ngữ văn trong nhà trường
THCS.
3. Thời gian áp dụng sáng kiến:
Từ ngày 20 tháng 9 năm 2011 đến ngày 15 tháng 3 năm 2013.
4. Tác giả:
Họ và tên: Trần Văn Quang
Năm sinh: 1977
Nơi thường trú: Thọ Nghiệp - Xuân Trường - Nam Định.
Trình độ chuyên môn: Cử nhân cao đẳng.
Chức vụ công tác: Giáo viên
Nơi làm việc: Trường THCS Thọ Nghiệp - Xuân Trường - Nam
Định.
Địa chỉ liên hệ: Trường THCS Thọ Nghiệp - Xuân Trường - Nam
Định.
Điện thoại: 03503750331
5. Đồng tác giả: Tham khảo tài liệu về phương pháp dạy học bằng
bản đồ tư duy, thư vện violet và tư liệu của đồng nghiệp.
Họ và tên:
Năm sinh:
Nơi thường trú:
Trình độ chuyên môn:
Sáng kiến kinh nghiệm môn Ngữ văn Giáo viên: Trần Văn Quang
1
Trường THCS Thọ Nghiệp
Chức vụ công tác:
Nơi làm việc:
1. Cơ sở lí luận:
Ngữ văn là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội. Đây là môn
học có vai trò rất quan trọng trong đời sống và trong sự phát triển tư
duy của con người. Đồng thời môn học này có tầm quan trọng trong
việc giáo dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm cho học sinh. Mặt khác
nó cũng là môn học thuộc nhóm công cụ, môn văn còn thể hiện rõ
mối quan hệ với rất nhiều các môn học khác trong các nhà trường phổ
thông. Học tốt môn văn sẽ tác động tích cực tới các môn học khác và
ngược lại, các môn học khác cũng góp phần học tốt môn Ngữ văn.
Điều đó đặt ra yêu cầu tăng cường tính thực hành, giảm lí thuyết, gắn
học với hành, gắn kiến thức với thực tiễn hết sức phong phú, sinh
động của cuộc sống. Thế hệ học sinh ngày nay rất ít em có thiện chí,
hứng thú trong việc học môn Ngữ văn, chưa nắm được vai trò quan
trọng của môn Ngữ văn đối với đời sống và trong sự phát triển tư duy
của con người. Vì thế đổi mới phương pháp, cách thức tổ chức vừa
hiệu quả vừa tạo được hứng thú cho học sinh đối với môn Ngữ văn là
rất cần thiết.
2. Cơ sở thực tiễn:
Sáng kiến kinh nghiệm môn Ngữ văn Giáo viên: Trần Văn Quang
3
Trường THCS Thọ Nghiệp
Năm học 2011 - 2012 là năm học Bộ giáo dục và đào tạo tiếp tục
đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy và học
ngữ văn trong các nhà trường phổ thông. Một trong những phương
pháp dạy học mới và hiện đại nhất được đưa vào là phương pháp dạy
học bằng bản đồ tư duy (BĐTD) - một phương pháp dạy học mới
đang được rất nhiều nước trên thế giới áp dụng. Qua việc tìm hiểu và
vận dụng phương pháp dạy học bằng bản đồ tư duy, tôi nhận thấy
phương pháp dạy học này rất có hiệu quả trong công tác giảng dạy và
học tập của học sinh. Bước đầu đã giảm bớt được tâm lý ngại học văn,
của mình vì vậy việc sử dụng BĐTD giúp học sinh học tập một cách
tích cực, huy động tối đa tiềm năng của bộ não.
II. THỰC TRẠNG:
1. Thực trạng của việc học văn hiên nay:
Nhà văn hoá lớn của nhân loại Lê-nin từng nói:"Văn học là nhân
học" vậy mà một thực trạng đáng lo ngại là học sinh bây giờ không
còn thích học văn. Thực trạng này lâu nay đã được báo động. Ban đầu
chỉ đơn thuần là những lời than thở với nhau của những người trực
tiếp giảng dạy môn Ngữ văn và nay đã trở thành vấn đề của báo chí
và dư luận. Ai đã trực tiếp dạy và chấm bài làm văn của học sinh
trong những năm gần đây mới thấy cần thiết phải có những thay đổi
Sáng kiến kinh nghiệm môn Ngữ văn Giáo viên: Trần Văn Quang
5
Trường THCS Thọ Nghiệp
về phương pháp dạy văn và học văn hiện nay. Qua công tác giảng dạy
cũng như chấm trả các bài kiểm tra Ngữ văn, tôi nhận thấy có rất
nhiều những biểu hiện thể hiện tâm lý chán học văn của học sinh, cụ
thể là:
- Học sinh thờ ơ với Văn: Những năm gần đây, nhiều người quan
tâm đến công tác giáo dục không khỏi lo ngại trước một thực trạng,
đó là tâm lý thờ ơ với việc học văn ở các trường phổ thông. Điều đáng
buồn nhất cho các giáo viên dạy văn là nhiều học sinh có năng khiếu
văn cũng không muốn tham gia đội tuyển văn. Các em còn phải dành
thời gian học các môn khác. Phần lớn phụ huynh khi đã định hướng
cho con mình sẽ thi khối A thì chỉ chủ yếu chú trọng ba môn: Toán,
Lý, Hóa. Điều đáng lo ngại hơn nữa, là có không ít phụ huynh đã
chọn hướng cho con thi khối A từ khi học tiểu học. Một bậc học mà
học sinh còn đang được rèn nói, viết, mới bắt đầu làm quen với những
khái niệm về từ ngữ mà đã định hướng khối A thì thật là nguy hại.
- Kỹ năng trình bày: Khi HS tạo lập một văn bản giáo viên có thể
ra quá cao, không có tính thực thi vì thế không phát huy hết được nội
lực của giáo viên.
b. Đối với học sinh:
Sáng kiến kinh nghiệm môn Ngữ văn Giáo viên: Trần Văn Quang
7
Trường THCS Thọ Nghiệp
- Một số học sinh vì lười học, chán học mải chơi, không tập trung
nghe giảng, lười suy nghĩ, hổng kiến thức nên không chủ động, tích
cực và có tâm thế tốt cho giờ học Ngữ văn.
- Địa phương xã Thọ Nghiệp thuộc vùng kinh tế còn khó khăn, hầu
hết phụ huynh đều đi làm ăn xa, con cái đông, ít có thời gian quan tâm
kèm cặp con em mình. Bản thân các em còn phải phụ giúp gia đình
ngoài giờ lên lớp, không có thời gian học.
- Đời sống văn hóa tinh thần ngày một nâng cao, một số nhu cầu giải
trí như xem ti vi, chơi game, chat, học sinh tụ tập chơi bời… ngày
càng nhiều làm cho một số em chưa có ý thức học bị lôi cuốn, sao
nhãng việc học tập.
III. CÁC GIẢI PHÁP
A. Bản chất phương pháp dạy học bằng BĐTD:
BĐTD là kĩ thuật dạy học tổ chức và phát triển tư duy giúp người
học chuyển tải thông tin vào bộ não rồi được thông tin ra ngoài bộ não
một cách dễ dàng, đồng thời là phương tiện ghi chép sáng tạo và hiệu
quả, mở rộng, đào sâu và kết nối các ý tưởng, bao quát được các ý
tưởng trên phạm vi sâu rộng. Dạy học bằng Bản đồ tư duy - một giải
pháp góp phần đổi mới cơ bản giáo dục.
1. BĐTD tận dụng được các nguyên tắc của trí nhớ siêu đẳng:
a. Sự hình dung: BĐTD có rất nhiều hình ảnh để bạn hình dung về
kiến thức cần nhớ. Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng
Sáng kiến kinh nghiệm môn Ngữ văn Giáo viên: Trần Văn Quang
8
kiến thức bài học một cách dễ dàng.
- Ví dụ 1: Với văn bản: “Thầy bói xem voi” (Môn Ngữ văn lớp 6), sau
phần đọc và tìm hiểu chung, giáo viên có thể vẽ mô hình BĐTD lên
bảng. BĐTD gồm 5 nhánh chính, ở mỗi nhánh có thể phân thành
nhiều nhánh nhỏ tuỳ thuộc vào nội dung, kiến thức của bài học.
Để có thể hoàn thiện được mô hình BĐTD của bài học, giáo viên sử
dụng hệ thồng câu hỏi định hướng để khai thác kiến thức:
+ Bố cục của văn bản: Học sinh sẽ dựa vào văn bản để xác định các ý
chính (Hoàn cảnh các thầy bói xem voi, cách xem voi, các thầy nhận
xét về con voi, hậu quả.)
+ Tiếp tục hoàn thành các nhánh của BĐTD bằng hệ thống câu hỏi
nhỏ có tính gợi mở (các thầy xem voi trong hoàn cảnh nào, cách xem
voi của các thầy ra sao, ) từ đó rút ra nhận xé về kết quả của cách
xem voi phiếm diện để khái quát thành bài học về cách nhìn nhận
đánh giá sự vật, hiện tượng…
Sơ đồ minh hoạ
Sáng kiến kinh nghiệm môn Ngữ văn Giáo viên: Trần Văn Quang
10
Trường THCS Thọ Nghiệp
Bản đồ tư duy văn bản: Thầy bói xem voi - Ngữ
văn 6
- Ví dụ 2: Khi học bài “So sánh” (Môn Ngữ văn lớp 6), đầu tiết
học, giáo viên có thể kiểm tra sự chuẩn bị bài ở nhà của học sinh, sau
đó dẫn dắt vào bài học. Giáo viên ghi nhan đề bài học lên bảng, khái
quát lại các phương diện kiến thức cần tìm về các phép tu từ đã học ở
tiết học trước.
- Ở tiết học So sánh này ta cũng tìm hiểu kiến thức qua các
phương diện: Khái niệm, cấu tạo, tác dụng và các kiểu so sánh.
- Từ việc khái quát kiến thức cơ bản về So sánh, Giáo viên lần
giúp củng cố kỹ năng nhận biết và kỹ năng thực hành. Tổng kết ngữ
pháp ở lớp 9 được coi là giờ thực hành. Vì vậy giáo viên cần linh hoạt
trong việc tổ chức các hình thức học tập. Với kiểu bài này, giáo viên
nên tạo ra các nhóm học tập thực hiện việc vẽ BĐTD, sau đó đại diện
các nhóm trình bày bài làm của nhóm mình, các nhóm khác nhận xét,
góp ý, bổ sung thêm cho bài làm. Cuối cùng giáo viên chốt lại kiến
thức.
Sơ đồ minh hoạ
Bản đồ tư duy bài “Tổng kết ngữ pháp”- Ngữ văn 9
Sáng kiến kinh nghiệm môn Ngữ văn Giáo viên: Trần Văn Quang
13
Trường THCS Thọ Nghiệp
- Ví dụ 2: BĐTD khi tìm hiểu tác phẩm “Truyện Kiều” của Nguyễn
Du:
Giáo viên định hướng để học sinh khai thác kiến thức của bài học
bằng hệ thống câu hỏi gợi mở. Trên cơ sở đó hình thành và củng cố
kiến thức cho học sinh bằng BĐTD. Hệ thống kiến thức của bài học
bao gồm:
a. Tác giả bao gồm: Tiểu sử (thân thế, gia đình), cuộc đời, sự nghiệp
sáng tác
b. Tác phẩm:
+ Các tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Du ở cả hai thành phần chữ
(chữ Hán và chữ Nôm gồm cả thơ và truyện)
+ Thời gian và hoàn cảnh sáng tác, nguồn gốc của tác phẩm; đồng
thời giáo viên gúp học sinh hiểu được vì sao Truyện Kiều có nguồn
gốc từ Trung Quốc mà vẫn được coi là tác phẩm văn học Việt Nam;
tại sao Truyện Kiều được viết bằng những câu thơ lục bát mà vẫn
được coi là một tác phầm truyện…
+ Tóm tắt Truyện Kiều: Bố cục của Truyện Kiều (Gặp gỡ và đính
ước; gia biến và lưu lạc. đoàn tụ)
toán, các em này thường học bài nào biết bài đấy, học phần sau đã
quên phần trước và không biết liên kết các kiến thức với nhau, không
biết vận dụng kiến thức đã học trước đó vào những phần sau. Phần
lớn số học sinh này khi đọc sách hoặc nghe giảng trên lớp không biết
cách tự ghi chép để lưu thông tin, lưu kiến thức trọng tâm vào trí nhớ
của mình. Sử dụng thành thạo BĐTD trong dạy học học sinh sẽ học
được phương pháp học, tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát
triển tư duy.
* BĐTD giúp học sinh học tập một cách tích cực:
- Một số kết quả nghiên cứu cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu
sâu, nhớ lâu và in đậm cái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ
ra theo ngôn ngữ của mình vì vậy việc sử dụng BĐTD giúp học sinh
học tập một cách tích cực, huy động tối đa tiềm năng của bộ não.
- Việc học sinh tự vẽ BĐTD có ưu điểm là phát huy tối đa tính sáng
tạo của học sinh, phát triển năng khiếu hội họa, sở thích của học sinh,
các em tự do chọn màu sắc (xanh, đỏ, vàng, tím,…), đường nét (đậm,
nhạt, thẳng, cong…), các em tự “sáng tác” nên trên mỗi BĐTD thể
Sáng kiến kinh nghiệm môn Ngữ văn Giáo viên: Trần Văn Quang
16
Trường THCS Thọ Nghiệp
hiện rõ cách hiểu, cách trình bày kiến thức của từng học sinh và
BĐTD do các em tự thiết kế nên các em yêu quí, trân trọng “tác
phẩm” của mình.
IV. HIỆU QUẢ DO SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐEM LẠI:
1 - Hiệu quả kinh tế:
- BĐTD rất hữu hiệu cho người học khi lập kế hoạch, dự án, có thói
quen tính toán tỉ mỉ trước khi bắt tay vào công việc. Nó cho người học
một cái nhìn tổng thể, cách đánh giá khách quan. Nếu một người nào
đó đang một dự án kinh doanh thì đừng quên sử dụng BĐTD khi làm
việc.
kiến thức bài học, tổng hợp kiến thức chương, phần. Học sinh hiểu
bài nhanh hơn, hiệu quả hơn. Đa số các em học sinh khá, giỏi đã biết
sử dụng BĐTD để ghi chép bài, tổng hợp kiến thức môn học. Một số
học sinh trung bình đã biết dùng BĐTD để củng cố kiến thức bài học
ở mức đơn giản. Đối với môn Ngữ văn, học sinh rất hào hứng trong
việc ứng dụng BĐTD để ghi chép bài nhanh, hiệu quả, đặc biệt là
trong học tiếng Việt.
Sáng kiến kinh nghiệm môn Ngữ văn Giáo viên: Trần Văn Quang
18
Trường THCS Thọ Nghiệp
* Thực tế kết quả kiểm tra hết học kỳ I năm học 2011 - 2012 cho thấy
môn Ngữ văn khối 8 nói riêng và chất lượng môn văn của nhà trường
nói chung đã có nhiều chuyển biến tích cực. Cụ thể là:
- Môn Ngữ văn 6 đạt 80 % xếp thứ 8/21 đơn vị
- Môn Ngữ văn 7 đạt 89% xếp thứ 5/21 đơn vị trường.
- Môn Ngữ văn 8 đạt 95 % xếp thứ 4/ 21 đơn vị trường.
- Môn Ngữ văn 9 đạt 82 % xếp thứ 7/21 đơn vị trường. Riêng phòng
chấm chéo huyện đạt 86 % xếp thư 4/21 đơn vị trường. Đó là những
kết quả rất khả thi nhờ áp dụng phương pháp dạy học bằng BĐTD
trong dạy học Ngữ văn.
* Năm học 2012 – 2013, chất lượng môn Ngữ văn của nhà trường
tiếp tục được nâng lên. Đặc biệt là đối với bộ môn Ngữ văn 9, cụ thể
là:
+ Giữa học kỳ I xếp chung thứ 1/21 đơn vị, trong đó lớp 9A xếp thứ
3/72 lớp, 9B xếp thứ 5/72 lớp, 9C xếp thứ 32/72 lớp, 9D xếp thứ
22/72 lớp
+ Học kỳ I xếp chung thứ 6/21 đơn vị, trong đó lớp 9A: 3/72, 9B:
34/72, 9C: 46/72
+ Giữa học kỳ II xếp chung thứ 1/21 đơn vị, trong đó lớp 9A: 4/68,
9B: 25/68, 9C: 34/68, 9D: 21/68.
Tích cực tuyên truyền về vai trò của giáo dục đối với bản thân và
sự phát triển đất nước. Động viên phong trào khuyến học, khuyến
tài… Quan tâm nhiều hơn đến phong trào giáo dục, chất lượng giáo
dục ở địa phương .
Tôi hy vọng rằng, trong những năm học tới phòng giáo dục đào
tạo sẽ tiếp tục tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn hiệu quả hơn,
tổ chức kiểm tra đánh giá nghiêm túc, chặt chẽ hơn nữa để đưa
phong trào giáo dục của huyện nhà có được những kết quả tốt nhất,
xứng đáng với miền đất học Xuân Trường.
Xin trân trọng cảm ơn!
Thọ Nghiệp ngày 15 tháng 4 năm 2013
Người viết
sáng kiến:
Trần Văn
Quang
CƠ QUAN ĐƠN VỊ
ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
(xác nhận, đánh giá, xếp loại)
Sáng kiến kinh nghiệm môn Ngữ văn Giáo viên: Trần Văn Quang
21
Trường THCS Thọ Nghiệp
(ký tên, đóng dấu)
PHÒNG GIÁO DỤC ĐÀO - TẠO
(xác nhận, đánh giá, xếp loại)
Tài liệu tham khảo
1. Trần Đình Châu, Sử dụng bản đồ tư duy – một biện pháp hiệu quả
hỗ trợ học sinh học tập môn toán- Tạp chí Giáo dục, kì 2- tháng
9/2009.
2. Trần Đình Châu, Đặng Thị Thu Thủy, Sử dụng bản đồ tư duy góp
phần TCH HĐ học tập của HS, Tạp chí Khoa học giáo dục, số chuyên