Nâng cao chất lượng môn Ngữ văn 9 bằng phương pháp sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học - Pdf 26

Trường THCS Yên Phong Năm học: 2013 –
2014
THÔNG TIN VỀ SÁNG KIẾN
1.Tên sáng kiến: Nâng cao chất lượng môn Ngữ văn 9 bằng phương pháp sử dụng bản
đồ tư duy trong dạy học.
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn học Ngữ Văn 9 trong nhà trường.
3. Thời gian áp dụng sáng kiến:
Từ ngày 20 tháng 9 năm 2011 đến ngày 28 tháng 2 năm 2014.
4. Tác giả:
Họ và tên: Nguyễn Thị Hằng
Năm sinh: 1979
Nơi thường trú: Yên Phong – Ý Yên –Nam Định
Trình độ chuyên môn: Cử nhân cao đẳng.
Chức vụ công tác: Giáo viên
Nơi làm việc: Trường THCS Yên Phong – Ý Yên - Nam Định.
Địa chỉ liên hệ: Trường THCS Yên Phong – Ý Yên - Nam Định.
Điện thoại: 01694669855
5. Đồng tác giả: Không
Họ và tên:
Năm sinh:
Nơi thường trú:
Trình độ chuyên môn:
Chức vụ công tác:
Nơi làm việc:
Địa chỉ liên hệ:
Điện thoại:
6. Đơn vị áp dụng sáng kiến:
Tên đơn vị: Trường THCS Yên Phong – Ý Yên - Nam Định.
Địa chỉ: Xã Yên Phong - Huyện Ý Yên - Tỉnh Nam Định
Điện thoại:
Sáng kiến kinh nghiệm môn Ngữ văn 1 Giáo viên: Nguyễn Thị Hằng

cho học sinh. Mặt khác nó cũng là môn học thuộc nhóm công cụ, môn Ngữ Văn còn thể hiện
rõ mối quan hệ với rất nhiều các môn học khác trong các nhà trường phổ thông. Học tốt môn
văn sẽ tác động tích cực tới các môn học khác và ngược lại, các môn học khác cũng góp phần
Sáng kiến kinh nghiệm môn Ngữ văn 2 Giáo viên: Nguyễn Thị Hằng
Trường THCS Yên Phong Năm học: 2013 –
2014
học tốt môn văn .Điều đó đặt ra yêu cầu tăng cường tính thực hành, giảm lí thuyết, gắn học
với hành, gắn kiến thức với thực tiễn hết sức phong phú, sinh động của cuộc sống .
Vì vậy mà trong những năm qua, cùng với việc thực hiện một cách đồng bộ đổi mới nội
dung chương trình sách giao khoa, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học nói chung, trong đó
có đổi mới PPDH môn Ngữ Văn luôn được các nhà khoa học giáo dục đầu ngành của nước ta
quan tâm, nghiên cứu và tìm cách cải tiến. Có thể nói đây là một bước đột phá của ngành giáo
dục nước nhà.Do đó vấn đề này đã được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, nên đã trú
trọng đến việc bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên từng bước nâng cao trình độ, đổi mơi PPDH,
trong đó có ứng dung bản đồ tư duy trong dạy học.
2. Cơ sở thực tiễn:
Trong quá trình dạy học, việc nâng cao chất lượng dạy và học là một vấn đề được quan
tâm và đòi hỏi phải có sự nổ lực về cả 2 phía.Trước hết để nâng cao chất lượng giảng dạy đòi
hỏi người giáo viên phải có năng lực sư phạm vững vàng, bởi vì dạy học vừa mang tính khoa
học vừa mang tính nghệ thuật phải có những phương pháp giảng dạy phù hợp, theo hướng
tích cực giúp học sinh chủ động trong việc tìm kiếm lĩnh hội kiến thức. Việc nâng cao chất
lượng giảng dạy nói chung và dạy học môn Ngữ Văn nói riêng cần có những phương pháp
đặc trưng riêng. Ngoài việc lên lớp nhiều giáo viên phải không ngừng học hỏi tìm kiếm tham
khảo những tài liệu có liên quan để làm sao có thể truyền đạt những kiến thức cho học sinh,
một cách nhẹ nhàng, dể hiểu. Và sự tiếp thu của học sinh nhiều hay ít , nhanh hay chậm sẽ
liên quan đến chất lượng của việc học. Khi mà học sinh lĩnh hội kiến thức một cách đầy đủ,
tự giác và tích cực thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng trong quá trình học tập của học sinh.
Vì vậy việc nâng cao chất lượng trong việc dạy và học nói chung và môn Ngữ Văn nói
riêng là một phần rất quan trọng đối với người giáo viên. Đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay
khi mà toàn ngành đang ra sức thực hiện cuộc vận động “Hai không trong giáo dục”, thì

văn ở các trường phổ thông. Điều đáng buồn nhất cho các giáo viên dạy văn là nhiều học sinh
có năng khiếu văn cũng không muốn tham gia đội tuyển văn. Các em còn phải dành thời gian
học các môn khác. Phần lớn phụ huynh khi đã định hướng cho con mình sẽ thi khối A thì chỉ
chủ yếu chú trọng ba môn: Toán, Lý, Hóa. Điều đáng lo ngại hơn nữa, là có không ít phụ
huynh đã chọn hướng cho con thi khối A từ khi học tiểu học. Một bậc học mà học sinh còn
đang được rèn nói, viết, mới bắt đầu làm quen với những khái niệm về từ ngữ mà đã định
hướng khối A thì thật là nguy hại.
- Về khả năng trình bày: Khi học sinh tạo lập một văn bản giáo viên có thể dễ dàng
nhận ra những lỗi sai cơ bản của học sinh như: dùng từ sai, viết câu sai, viết chính tả sai, bố
cục và lời văn hết sức lủng củng, thiếu logic, lại có những bài văn diễn đạt ngô nghê, tối
nghĩa, lủng củng Đặc biệt là học sinh cuối cấp mà vẫn còn hiện tượng này thì thật đáng lo
Sáng kiến kinh nghiệm môn Ngữ văn 4 Giáo viên: Nguyễn Thị Hằng
Trường THCS Yên Phong Năm học: 2013 –
2014
ngại .Đây không chỉ là sự lo ngại, đáng buồn của những người trực tiếp giảng dạy mà thậm
chí còn là đáng báo động trong xã hội ta.
Mục tiêu của bậc học phổ thông là đào tạo con người toàn diện, nhưng thực tế hiện nay
cho thấy, các bộ môn khoa học xã hội thường bị học sinh xem nhẹ, mặc dù kiến thức của các
bộ môn này vô cùng quan trọng cho tất cả mọi người. Muốn khôi phục sự quan tâm của xã
hội đối với các bộ môn khoa học xã hội, không thể chỉ bằng biện pháp kêu gọi mà chúng ta
phải tích cực đổi mới phương pháp dạy học văn, khơi gợi lại hứng thú học văn của học sinh,
hình thành cho các em phương pháp học văn hiệu quả nhất.
2. Nguyên nhân:
a. Đối với người dạy: Đa số giáo viên đều có tình yêu nghề, mến trẻ, tận tụy với công tác
giảng dạy, chăm lo quan tâm đến học sinh. Tuy nhiên, vẫn còn những mặt hạn chế sau :
- Phương pháp giảng dạy chưa thực sự phù hợp với một bộ phận không nhỏ học sinh yếu
kém dẫn đến chất lượng chưa cao .
- Do điều kiện khách quan nên việc sử dụng đồ dùng dạy học, phương pháp trực quan
vào tiết học hạn chế, ảnh hưởng đến chất lượng tiếp thu bài của học sinh .
- Một số giáo viên chưa thực sự tâm huyết với nghề, chưa khơi gợi được mạch nguồn

a. Sự hình dung: BĐTD có rất nhiều hình ảnh để bạn hình dung về kiến thức cần nhớ.
Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của trí nhớ siêu đẳng. Đối với não bộ,
BĐTD giống như một bức tranh lớn đầy hình ảnh màu sắc phong phú hơn là một bài học khô
khan, nhàm chán.
b. Sự liên tưởng, tưởng tượng: BĐTD hiển thị sự liên kết giữa các ý tưởng một cách rất
rõ ràng.
c. Làm nổi bật sự việc: Thay cho những từ ngữ tẻ nhạt đơn điệu, Sử dụng BĐTD cho
phép giáo viên và học sinh làm nổi bật các ý tưởng trọng tâm bằng việc sử dụng những màu
sắc, kích cỡ, hình ảnh đa dạng. Hơn nữa, việc BĐTD dùng rất nhiều màu sắc khiến giáo viên
và học sinh phải vận dụng trí tưởng tượng sáng tạo đầy phong phú của mình. Nhưng đây
không chỉ là một bức tranh đầy màu sắc sặc sỡ thông thường, BĐTD giúp tạo ra một bức
tranh mang tính lý luận, liên kết chặt chẽ về những gì được học.
2. BĐTD sử dụng cả hai bán cầu não cùng một lúc: BĐTD thật sự giúp bạn tận dụng
các chức năng của não trái lẫn não phải khi học. Đây chính là công cụ học tập vận dụng được
sức mạnh của cả bộ não. Nếu vận dụng đúng cách, nó sẽ hoàn toàn giải phóng những năng
lực tiềm ẩn trong bạn, đưa bạn lên một đẳng cấp mới, đẳng cấp của một tài năng thực thụ hay
thậm chí của một thiên tài.
3. Cấu tạo, các bước thiết kế, quy trình tổ chức hoạt động vẽ BĐTD trên lớp và
những tiện ích:
Sáng kiến kinh nghiệm môn Ngữ văn 6 Giáo viên: Nguyễn Thị Hằng
Trường THCS Yên Phong Năm học: 2013 –
2014
Để sử dụng một cách có hiệu quả BĐTD trong quá trình dạy học, trước hết, ta cần nắm
vững những tri thức về nó:
a. Cấu tạo:
-Ở giữa sơ đồ là một hình ảnh trung tâm (hay một cụm từ) khái quát chủ đề.
-Gắn liền với hình ảnh trung tâm là các nhánh cấp 1 mang các ý chính làm rõ chủ đề.
-Phát triển các nhánh cấp 1 là các nhánh cấp 2 mang các ý phụ làm rõ mỗi ý chính.
-Sự phân nhánh cứ thế tiếp tục để cụ thể hóa chủ đề, nhánh càng xa trung tâm thì ý càng
cụ thể, chi tiết. Có thể nói, BĐTD là một bức tranh tổng thể, một mạng lưới tổ chức, liên kết

-Không đầu tư quá nhiều thời gian vào việc “làm đẹp” sơ đồ bằng vẽ, viết, tô màu
-Không vẽ quá chi tiết, cũng không vẽ quá sơ sài.
-Người lập sơ đồ được phép vẽ và trang trí theo cách riêng của mình.
c. Quy trình tổ chức hoạt động vẽ BĐTD trên lớp:
Hoạt động 1: Cho học sinh lập BĐTD theo nhóm hay cá nhân thông qua gợi ý của giáo
viên.
Hoạt động 2: Học sinh hoặc đại diện của các nhóm học sinh lên báo cáo, thuyết minh về
BĐTD mà nhóm mình đã thiết lập.
Hoạt động 3: Học sinh thảo luận, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện BĐTD về kiến thức
của bài học đó. Giáo viên sẽ là người cố vấn, là trọng tài giúp học sinh hoàn chỉnh BĐTD, từ
đó dẫn dắt đến kiến thức của bài học.
Hoạt động 4: Củng cố kiến thức bằng một BĐTD mà giáo viên đã chuẩn bị sẵn hoặc một
SĐTD mà cả lớp đã tham gia chỉnh sửa hoàn chỉnh, cho học sinh lên trình bày, thuyết minh
về kiến thức đó.
Sáng kiến kinh nghiệm môn Ngữ văn 8 Giáo viên: Nguyễn Thị Hằng
Trường THCS Yên Phong Năm học: 2013 –
2014
d. Những tiện ích của việc sử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học Ngữ Văn:
Dạy học bằng BĐTD giúp học sinh có được phương pháp học hiệu quả. Chúng ta biết
rằng việc rèn luyện phương pháp học tập cho HS không chỉ đơn thuần là một biện pháp nâng
cao hiệu quả dạy học mà còn là mục tiêu dạy học. Trong thực tế hiện nay, còn nhiều học sinh
học tập một cách thụ động, chỉ đơn thuần là nhớ kiến thức một cách máy móc theo thói quen
học vẹt, các em chưa có ý thức hoặc chưa biết rèn luyện kỹ năng tư duy. Học sinh chỉ học bài
nào biết bài ấy, nắm kiến thức một cách đơn lẻ, rời rạc, chưa biết tích hợp, liên hệ kiến thức
với nhau giữa các bài học, giữa các phân môn, vì vậy mà chưa phát triển được tư duy lô-gic
và tư duy hệ thống. Do đó, dù các em học rất chăm chỉ nhưng vẫn học kém. Vì học phần sau
đã quên phần trước, không biết vận dụng kiến thức đã học trước đó vào những phần sau. Lại
có nhiều học sinh khi đọc sách hoặc nghe giảng trên lớp không biết cách tự ghi chép để lưu
thông tin, hay kiến thức trọng tâm vào trí nhớ của mình. Bởi vậy, rèn kuyện cho các em có
thói quen và kĩ năng sử dụng thành thạo BĐTD trong quá trình dạy học sẽ gúp học sinh có

- Nhìn thấy được bức tranh tổng thể.
- Ghi nhớ tốt hơn.
- Thể hiện phong cách cá nhân, dấu ấn riêng của mỗi em.
4.Cách sử dụng BĐTD trong quá trình tổ chức các hoạt động dạy học:
a. Làm quen với BĐTD:
* Đối với giáo viên:
Ngoài việc tham dự các lớp tập huấn bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ có liên quan
đến việc đổi mới PPDH, giáo viên cần nghiên cứu kĩ những tài liệu liên quan đến việc hướng
dẫn sử dụng BĐTD và phần mềm vẽ BĐTD (Mind Map) để có những tri thức cơ bản về nó
(Hiểu biết về BĐTD, cấu tạo, vai trò, tiện ích, phương pháp tạo lập, thiết kế, việc sử dụng nó
trong quá trình dạy học ) đồng thời, giáo viên cần đầu tư thời gian vào việc tập vẽ, cả vẽ trên
giấy và trên phần mềm trong máy vi tính (Nhớ là phải nghiên cứu kĩ cách sử dụng phần mềm
để thực hiện thao tác cho nhanh nhẹn, thuần thục). Sau khi đã hiểu kĩ, nắm chắc về vai trò,
công dụng của BĐTD, sử dụng thành thạo phần mềm, nắm vững phương pháp vẽ một BĐTD,
thì việc ứng dụng nó vào quá trình dạy học là việc dễ dàng. (Dĩ nhiên chuyện BĐTD đẹp hay
xấu phụ thuộc vào sự tưởng tượng, liên tưởng, óc sáng tạo và năng khiếu mỗi người).
* Đối với học sinh:
Người xưa có câu “Chưa học bò, chớ lo học chạy” quả đúng như vây. Để có thể sử dụng
tốt và phát huy một cách có hiệu quả BĐTD trong quá trình dạy học, trước hết chúng ta cần
cho học sinh làm quen với một số BĐTD có sẵn, để chí ít các em có cái nhìn khái quát về nó
(tiếp xúc nó, hiểu nó, rồi “bắt chước” vẽ nó) đây là bước chuẩn bị hết sức quan trọng. Tuy
Sáng kiến kinh nghiệm môn Ngữ văn 10 Giáo viên: Nguyễn Thị Hằng
Trường THCS Yên Phong Năm học: 2013 –
2014
nhiên, rất nhiều giáo viên bỏ qua bước này hoặc giới thiệu một cách rất sơ sài, qua loa. Vì
thế, học sinh chưa hiểu biết cặn kẽ, cụ thể về nó, chưa nắm vững phương pháp tạo lập, chưa
có kĩ năng vẽ BĐTD nên dẫn đến nhiều tiết dạy không thành công do các em mãi loay hoay
với giấy bút mà không biết vẽ cái gì, vẽ như thế nào, bắt đầu từ đâu vì các em chưa hình
dung được BĐTD của bài học trong đầu mình cũng như chưa biết cách thức, phương pháp vẽ.
Vì vậy, theo tôi, chúng ta cần dành thời gian hợp lý cho các em “làm quen” với BĐTD,

bảng đen). Ví dụ: Phương châm hội thoại, Chiến tranh hạt nhân, Từ (Xét về cấu tạo) Cho
học sinh thực hành vẽ BĐTD trên giấy hoặc bìa lịch hay bảng phụ.
Giáo viên đặt các câu hỏi gợi ý để các em suy nghĩ và vẽ các nhánh cấp 1, cấp 2, cấp 3
(luyện kĩ năng vẽ BĐTD)
* Lưu ý:
+ Giáo viên nên chọn những bài các em đã học, có kiến thức đơn giản, dễ nhớ, dễ vẽ.
+ Giáo viên có thể linh hoạt cho học sinh vẽ theo nhóm vào bìa lịch, vẽ cá nhân vào
giấy vở hoặc gọi 2-3 em lên bảng vẽ.
+ Lưu ý các em không dùng câu, đoạn quá dài, nên thể hiện các ý bằng những cụm từ
ngắn gọn.
Bước 4: “Trang trí”
Sau khi các em vẽ xong sườn của BĐTD, giáo viên gợi ý cho các em vẽ chèn thêm
những hình ảnh cần thiết để minh họa cho nội dung của sơ đồ, gợi ý cho các em chỉnh sửa
đường nét, sử dụng màu sắc để phân biệt, làm nổi bật mạng lưới các ý trong sơ đồ.(kĩ năng
hội họa - dấu ấn sáng tạo riêng)
* Lưu ý:
+ Giáo viên lưu ý học sinh khi vẽ BĐTD, các em nên kết hợp dùng màu sắc, đường nét
ngay trong quá trình vẽ để tiết kiệm thời gian.
+ Không nên dùng quá nhiều màu, không dùng những màu sắc quá sặc sỡ, không quá
chú trọng vào đường nét, hình ảnh làm lãng phí thời gian.
Bước 5: “Chia sẻ kinh nghiệm”
Ở bước này, giáo viên thu một số BĐTD các em vừa vẽ theo từng loại (bản đồ không
triển khai đủ các ý chính, bản đồ vẽ quá chi tiết đến vụn vặt, bản đồ vẽ không đúng trọng tâm
kiến thức, bản đồ dùng quá nhiều hình ảnh, màu sắc lòe loẹt, )
Cho học sinh quan sát, nhận xét, góp ý chỉnh sửa, bổ sung.
Giáo viên lắng nghe, định hướng cho các em chỉnh sửa, bổ sung:
+ Như trên đã trình bày, BĐTD là một sơ đồ mở. Vì vậy, giáo viên cần tôn trọng và phát
huy sự sáng tạo của các em, bởi đây là “sản phẩm” của chính các em. Giáo viên chỉ chỉnh sửa
cho các em chủ yếu về mặt kiến thức. Mặt khác, giáo viên cũng cần khuyến khích, biểu
Sáng kiến kinh nghiệm môn Ngữ văn 12 Giáo viên: Nguyễn Thị Hằng

* Ví dụ 1:
Sau khi các em học xong bài “Các phương châm hội thoại”(Tiết 1,2), trước khi tìm
hiểu các kiến thức mở rộng có liên quan đến phương châm hội thoại ở Tiết 3 (Tiết 13 trong
Sáng kiến kinh nghiệm môn Ngữ văn 13 Giáo viên: Nguyễn Thị Hằng
Trường THCS Yên Phong Năm học: 2013 –
2014
PPCT), giáo viên kiểm tra bài cũ bằng cách cho các em lập BĐTD để củng cố, hệ thống kiến
thức đã học ở hai tiết học trước thông qua câu hỏi sau: Ta đã học qua những phương châm
hội thoại nào? Em hãy lập BĐTD để hệ thống kiến thức về chúng? Sau đó, giáo viên ghi cụm
từ khóa lên giữa bảng phụ “Phương châm hội thoại”, rồi gọi một em xung phong lên bảng vẽ.
Học sinh sẽ dễ dàng vẽ được BĐTD theo nội dung yêu cầu.
Dưới đây là BĐTD về các phương châm hội thoại có tính chất minh họa, các em vẽ
BĐTD đảm bảo các nội dung tương tự như sau là tốt:
Khi học
sinh vẽ
xong,
giáo
viên
cho cả
lớp
quan
sát, gọi
một vài
em
nhận
xét, góp ý sơ đồ rồi giáo viên nhận xét và cho điểm.
* Ví dụ 2:
Trước khi cho các em tìm hiểu tiết “Luyện tập liên kết câu và liên kết đoạn văn”
(Tiết 110 trong PPCT), ở khâu Kiểm tra bài cũ, giáo viên cho học sinh lập BĐTD để ôn lại lý
thuyết trước rồi mới hướng dẫn cho các em bắt tay vào thực hành. Cách làm đơn giản như ở

chuỗi, các em có thể dễ dàng hệ thống hóa bằng BĐTD. Ví dụ: lập BĐTD về Từ loại (xét về
cấu tạo, xét về ngữ pháp), về các Phương châm hội thoại, về Trau dồi vốn từ, về Nghĩa của
từ, Các cách phát triển từ vựng, trong phân môn Tiếng Việt; lập BĐTD về hệ thống luận
điểm, luận cứ trong một văn bản nghị luận, về dàn ý của một kiểu văn bản nào đó trong
phân môn Tập làm văn; hay lập BĐTD để khái quát, hệ thống hóa kiến thức về một tác giả,
tác phẩm nào đó, về quá trình phát triển tính cách, tâm trạng của một nhân vật trong tác
phẩm truyện hay mạch cảm xúc, trình tự kết cấu của một bài thơ đối với phân môn Văn học.
Mặt khác, về yêu cầu của đề kiểm tra, giáo viên cần đưa ra từ hay cụm từ khóa ngắn gọn, rõ
ràng, cụ thể, khái quát được chủ đề của phần kiến thức cần kiểm tra trong câu hỏi để định
hướng, giúp học sinh dễ dàng nắm bắt chính xác yêu cầu đề và có thể vẽ đúng BĐTD theo
yêu cầu. Sau đây là một số ví dụ minh họa các dạng đề kiểm tra viết yêu cầu học sinh lập
BĐTD:
Sáng kiến kinh nghiệm môn Ngữ văn 16 Giáo viên: Nguyễn Thị Hằng
Trường THCS Yên Phong Năm học: 2013 –
2014
Ví dụ 1: Từ tiếng Việt (xét về mặt cấu tạo) gồm có những loại nào? Em hãy vẽ BĐTD
giới thiệu chi tiết về chúng.
* Ví dụ 2:
Cho từ khóa Truyện Kiều. Em hãy vẽ BĐTD giới thiệu nguồn gốc, thể loại và giá trị
“Truyện Kiều” của Nguyễn Du.
* Ví dụ 3:
Sáng kiến kinh nghiệm môn Ngữ văn 17 Giáo viên: Nguyễn Thị Hằng
Trường THCS Yên Phong Năm học: 2013 –
2014
Bài thơ “Viếng lăng Bác” ghi lại diễn biến tâm trạng cảm xúc của nhà thơ Viễn Phương
theo trình tự không gian và thời gian của chuyến ra thăm lăng Bác Hồ. Với cụm từ khóa
“Viếng lăng Bác”, em hãy lập BĐTD ghi lại diễn biến tâm trạng cảm xúc ấy của tác giả qua
mỗi khổ thơ.
Ví dụ 4:
Có mấy cách phát triển của từ vựng? Em hãy lập BĐTD minh họa với cụm từ khóa sau:

thời gian trên lớp, lại vừa có tác dụng hình thành cho học sinh có thói quen ghi chép bằng
BĐTD. Đây cũng là việc làm rất cần thiết góp phần rèn luyện kĩ năng vẽ BĐTD cho các em,
nhất là những bài học nhằm giới thiệu, cung cấp kiến thức. Sau đây là một số ví dụ minh họa:
Ví dụ 1:
Khi dạy bài giới thiệu về “Truyện Kiều cuả Nguyễn Du”(Tiết 26,27), sau khi giới thiệu
bài mới, giáo viên ghi cụm từ khóa “TRUYỆN KIỀU (Nguyễn Du)” lên trung tâm bảng đen.
Sau đó, giáo viên đưa ra hệ thống câu hỏi dẫn dắt học sinh tìm hiểu bài học. Đầu tiên, ta cho
các em tìm hiểu về tác giả bằng cách vẽ nhánh chính thứ nhất đặt tiêu đề nhánh “I. TÁC
GIẢ”. Rồi đưa ra các câu hỏi gợi ý tìm hiểu về tên hiệu, xuất thân, thời đại, cuộc đời, sự
nghiệp văn học của nhà thơ. Tìm hiểu đến đâu, giáo viên phát triển nhánh, cô đọng kiến thức
đến đó. Sau khi dẫn dắt các em tìm hiểu xong phần tác giả, giáo viên tiếp tục vẽ nhánh thứ
hai, đặt tiêu đề “II. TÁC PHẨM” đưa ra các câu hỏi gợi ý các em tìm hiểu tác phẩm: nguồn
gốc, thể loại, kết cấu, giá trị (nội dung, nghệ thuật) của tác phẩm (cách làm tương tự như
trên). Kết thúc 2 tiết học, ta có BĐTD giới thiệu một cách cô đọng, khái quát, lô-gic những
tri thức cơ bản về tác giả Nguyễn Du và tác phẩm “Truyện Kiều” trên bảng đen như sau:
Sáng kiến kinh nghiệm môn Ngữ văn 20 Giáo viên: Nguyễn Thị Hằng
Trường THCS Yên Phong Năm học: 2013 –
2014
Sáng kiến kinh nghiệm môn Ngữ văn 21 Giáo viên: Nguyễn Thị Hằng
Trường THCS Yên Phong Năm học: 2013 –
2014
Bản đồ tư duy bài “Truyện Kiều”- Ngữ văn 9
Ví dụ 2: Khi học bài bài thơ “ Ánh trăng” của Nguyễn Duy, cuối giờ GV cho từ khoá “
Ánh trăng” rồi yêu cầu học sinh vẽ BĐTD bằng cách đặt câu hỏi gợi ý cho các em, sau khi
các nhóm HS vẽ xong, cho một số em lên trình bày trước lớp để các học sinh khác bổ sung ý.
Giáo viên kết luận qua đó giúp các em tự chiếm lĩnh kiến thức một cách nhẹ nhàng, tự nhiên
nhưng rất hiệu quả, đồng thời kích thích hứng thú học tập của học sinh.
Sáng kiến kinh nghiệm môn Ngữ văn 22 Giáo viên: Nguyễn Thị Hằng
Trường THCS Yên Phong Năm học: 2013 –
2014

2014
Ta kết hợp cho học sinh làm các bài tập trong mỗi nội dung ôn tập sau khi lập BĐTD cho
mỗi nhánh (nội dung). Cuối tiết Ôn tập, ta có BĐTD trên bảng như sau:
Như vậy, chúng ta có thể dễ dàng sử dụng BĐTD kết hợp trong việc dạy học bài mới với
dùng chính nó để cô đọng kiến thức của bài học cho học sinh ghi. Việc sử dụng BĐTD trong
quá trình dạy học bài mới sẽ giúp học sinh từng bước phát hiện, tiếp cận và chiếm lĩnh toàn
bộ kiến thức bài học một cách khoa học, có hệ thống, lô-gic. Bắt đầu bài học bằng từ, cụm từ
trung tâm thể hiện trọng tâm kiến thức, thông qua sự định hướng dẫn dắt của giáo viên, các
em tự khám phá, tìm hiểu các đơn vị kiến thức của bài học (các ý lớn, nhỏ) một cách liền
mạch, có hệ thống, đến khi tiết học kết thúc cũng là lúc toàn bộ kiến thức của bài học được cô
đọng và trình bày một cách sinh động, khoa học và sáng tạo trên bảng đen (hoặc trên màn
hình). BĐTD ấy không chỉ cung cấp cho các em “bức tranh tổng thể” về kiến thức của bài
học mà nó còn giúp cho các em dễ dàng nhận ra mạch lô-gic kiến thức của bài học. Do đó,
chúng ta có thể dùng nó như phần nội dung ghi bảng của giáo viên để học sinh ghi chép.
Tuy nhiên, chúng ta cần linh hoạt sử dụng ở những tiết dạy, bài dạy cho phép chứ không
nên lạm dụng BĐTD để khỏi phải ghi bảng ở tất cả các tiết dạy. Mặt khác, việc sử dụng kết
hợp này càng thuận lợi hơn khi chúng ta sử dụng phần mềm Mind Map và soạn giảng bằng
bài giảng điện tử. Chúng ta cũng nên đánh số thứ tự vào các khâu lên lớp (tìm hiểu bài, bài
Sáng kiến kinh nghiệm môn Ngữ văn 25 Giáo viên: Nguyễn Thị Hằng

Trích đoạn HIỆU QUẢ DO SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐEM LẠI: XUẤT, KIẾN NGHỊ:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status