ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN TRỌNG NGỌC
BỔ SUNG CHẾ PHẨM GLOBAMAX 1000
CHO LỢN CON TỪ TẬP ĂN ĐẾN 56 NGÀY TUỔI
TẠI HTX HOÀNG LONG, TÂN ƯỚC, THANH OAI, HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI
THÁI NGUYÊN - 2017
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN TRỌNG NGỌC
BỔ SUNG CHẾ PHẨM GLOBAMAX 1000
CHO LỢN CON TỪ TẬP ĂN ĐẾN 56 NGÀY TUỔI
TẠI HTX HOÀNG LONG, TÂN ƯỚC, THANH OAI, HÀ NỘI
Chuyên ngành: Chăn nuôi
Mã số: 60.62.01.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. TỪ QUANG HIỂN
THÁI NGUYÊN - 2017
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .............................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................... ii
MỤC LỤC ........................................................................................................ iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ................................................................. vi
DANH MỤC CÁC BẢNG.............................................................................. vii
DANH MỤC CÁC HÌNH .............................................................................. viii
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1.
Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................ 1
2.
Mục đích nghiên cứu ................................................................................. 2
3.
Ý nghĩa của đề tài...................................................................................... 2
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ............................................................ 3
1.1.
Đặc điểm sinh lý của lợn con ................................................................ 3
1.1.1. Đặc điểm về sinh trưởng ....................................................................... 3
1.1.2. Đặc điểm tiêu hóa ................................................................................. 3
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .... 25
2.1.
Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu ..................................... 25
2.2.
Nội dung nghiên cứu ........................................................................... 25
2.3.
Phương pháp nghiên cứu .................................................................... 25
2.3.1. Bố trí thí nghiệm ................................................................................. 25
2.3.2. Các chỉ tiêu theo dõi ........................................................................... 28
2.3.4. Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu ...................................................... 29
2.4.
Phương pháp xử lý số liệu .................................................................. 30
Chương 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ................................................... 31
3.1.
Ảnh hưởng của bổ sung Globamax 1000 vào thức ăn đối với lợn
con ở giai đoạn lợn con theo mẹ( 7- 21 ngày tuổi) ............................. 31
3.1.1. Tỷ lệ nuôi sống của lợn con thí nghiệm giai đoạn 7-21 ngày tuổi ..... 31
3.1.2. Sinh trưởng tích lũy của lợn con từ 7 đến 21 Ngày tuổi..................... 32
3.1.3. Sinh trưởng tuyệt đối .......................................................................... 34
3.1.4. Lượng thức ăn thu nhận ...................................................................... 36
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 60
vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BNNPTNT : Bộ Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn
cs
: Cộng sự
ĐC
: Đối chứng
KPCS
: Khẩu phần cơ sở
NT
: Ngày tuổi
TA
: Thức ăn
TC
: Tiêu chảy
Bảng 2.2.
Sơ đồ bố trí thí nghiệm cho lợn con từ 21 (cai sữa) đến 56
ngày tuổi...................................................................................... 27
Bảng 3.1.
Tỷ lệ nuôi sống của lợn con thí nghiệm giai đoạn 7 - 21
ngày tuổi...................................................................................... 31
Bảng 3.2.
Khối lượng của lợn con đoạn từ 7 - 21 ngày tuổi ...................... 32
Bảng 3.3.
Tăng khối lượng của lợn con từ 7 - 21 ngày tuổi ...................... 34
Bảng 3.4.
Tiêu thụ thức ăn của lợn con từ 7 - 21 ngày tuổi ....................... 37
Bảng 3.5.
Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng của lợn con từ 7 21 ngày tuổi ................................................................................ 39
Bảng 3.6.
Kết quả theo dõi lợn con bị mắc bệnh tiêu chảy từ 7-21 ngày tuổi ... 41
Hình 3.3.
Biểu đồ tiêu thụ thức ăn của lợn con từ 7 - 21 ngày tuổi ........... 38
Hình 3.4.
Biểu đồ tiêu tốn thức ăn của lợn từ 7 - 21 ngày tuổi .................. 40
Hình 3.5.
Biểu đồ tỉ lệ mắc bệnh tiêu chảy của lợn con từ 7 - 21 ngày tuổi.... 43
Hình 3.6.
Khối lượng lợn con ở các ngày tuổi ........................................... 47
Hình 3.7.
Sinh trưởng tuyệt đối của lợn con giai đoạn từ 21 - 56 ngày tuổi ... 49
Hình 3.8.
Tiêu thụ thức ăn của lợn con sau cai sữa ở giai đoạn từ 21 56 ngày tuổi................................................................................. 51
Hình 3.9.
Biểu đồ tiêu tốn thức ăn/ 1kg tăng khối lượng của lợn con từ
21 - 56 ngày tuổi ......................................................................... 53
Hình 3.10.
khẩu, lưu thông và sử dụng 40 loại kháng sinh và hoá chất cấm sử dụng trong
sản xuất và kinh doanh sản phẩm động vật. Do vậy, việc hạn chế và tiến tới
2
hoàn toàn không sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi ở nước ta là một
xu thế tất yếu và các nghiên cứu tìm ra các chất có thể thay thế kháng sinh
trong thức ăn chăn nuôi là cấp thiết. Để đáp ứng được yêu cầu đó các sản
phẩm hữu cơ đang được quan tâm do nó có các tính năng ưu việt: an toàn đối
với vật nuôi và con người, cải thiện được chức năng tiêu hoá, ức chế được vi
khuẩn gây bệnh và tăng cường khả năng miễn dịch cho vật nuôi, không tồn dư
và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
Bổ sung canxi butyrate vào khẩu phần vật nuôi là giải pháp thay thế các
chất kháng sinh đã được ứng dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới.
Globamax 1000 do Công ty Global Nutrition sản xuất là sản phẩm thương
mại chứa cannxi butyrat đã được đưa vào thị trường Việt Nam. Xuất phát từ
các lý do trên chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Bổ sung chế phẩm
Globamax 1000 lợn con từ tập ăn đến 56 ngày tuổi tại HTX Hoàng Long,
Tân Ước, Thanh Oai, Hà Nội”.
2. Mục đích nghiên cứu
- Xác định hiệu quả tác động của các mức bổ sung chế phẩm Globamax
1000 vào khẩu phần đến lợn con F1 (♂Landrace x ♀Yorkshire) từ tập ăn đến
56 ngày tuổi.
- Xác định mức bổ sung thích hợp chế phẩm Globamax 1000 cho lợn
giai đoạn từ tập ăn đến 56 ngày tuổi.
3. Ý nghĩa của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Khuyến cáo sử dụng Globamax 1000 và tỷ lệ bổ sung trong khẩu phần
của lợn con từ tập ăn đến 56 ngày tuổi.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
tăng lên 40-50 lần. Tuyến tụy ở 30 ngày tuổi tăng lên gấp 4 lần, khối lượng
của gan gấp 3 lần so với khi sơ sinh. Lúc mới sinh dạ dày chỉ nặng 6 - 8 gam
4
và chứa được 35 - 50 gam sữa, nhưng sau 3 tuần đã tăng gấp 4 lần và sau 60
ngày tuổi nặng 150 gam và chứa được khoảng 700 -1000 gam sữa.
Mặc dù bộ máy tiêu hoá phát triển rất nhanh nhưng chưa hoàn thiện.
Khả năng tiêu hoá của lợn con còn rất kém do số lượng và hoạt lực các men
trong đường tiêu hoá của lợn con hạn chế. Dịch vị của lợn con dưới một tháng
tuổi hoàn toàn không có HCl tự do, vì lượng axit tiết ra ít và nó nhanh chóng
liên kết với các niêm dịch làm cho hàm lượng HCl tự do rất ít hoặc hoàn toàn
không có trong dạ dày của lợn con bú sữa. Do thiếu HCl tự do trong dạ dày,
nên hệ vi sinh vật dễ lên men gây nên hiện tượng tiêu chảy ở lợn con.
1.1.3. Đặc điểm về điều tiết thân nhiệt
Cơ năng điều tiết nhiệt ở lợn con là chưa hoàn chỉnh, và thân nhiệt
chưa được ổn định. Để có khả năng điều tiết tốt nhiệt cần có 3 yếu tố: Thần
kinh, mỡ và nước. Cơ thể lợn con thường sinh ra lượng nhiệt lớn, nhiệt lượng
của cơ thể liên tục toả ra bên ngoài do sự chênh lệch giữa thân nhiệt của cơ
thể với nhiệt độ môi trường bên ngoài. Nhiệt độ cơ thể luôn có xu hướng
giảm do: Lông của lợn con thưa, lớp mỡ dưới da mỏng, diện tích bề mặt so
với khối lượng cơ thể cao nên khả năng chống lạnh kém, lượng mỡ và
glycogen dự trữ trong cơ thể thấp nên khả năng cung cấp năng lượng chống
lạnh bị hạn chế. Hệ thần kinh điều khiển thân nhiệt của lợn con chưa được
hoàn thiện. Trong giai đoạn này lợn con có khả năng điều hoà thân nhiệt là do
sự hoạt động rất mạnh của hệ tuần hoàn cũng như sự thay đổi tư thế của lợn.
Cần phải sưởi ấm đảm bảo cho lợn con không bị lạnh. Sau 3 tuần tuổi, khả
năng điều hòa thân nhiệt của lợn con bắt đầu ổn định.
1.1.4. Đặc điểm về khả năng miễn dịch
Khả năng miễn dịch của lợn con ở 3 tuần tuổi đầu hoàn toàn phụ thuộc
5 tuần tuổi, lượng thức ăn cần tới 1/3 nhu cầu dinh dưỡng của lợn con (Frank
Aherne và cs, 2006)[28].
6
Thức ăn cung cấp năng lượng là thành phần chính trong khẩu phần của
lợn. Lợn con đòi hỏi nguồn cung cấp giàu năng lượng và dễ tiêu. Thức ăn
cung cấp năng lượng cho lợn con được lấy từ 2 nguồn chính là các hạt ngũ
cốc và dầu, mỡ. Các hạt ngũ cốc chứa nhiều tinh bột, có khả năng tiêu hóa
cao và ngon miệng. Điểm hạn chế của chúng là thành phần axit amin không
cân đối. Ngô thường được lựa chọn để phối hợp khẩu phần cho lợn con. Dầu
và mỡ có năng lượng trao đổi cao hơn so với các hạt ngũ cốc khoảng 2,25 lần
(tính trên cùng đơn vị khối lượng).
1.2.2. Nhu cầu về protein và các axit amin
Protein liên quan đến quá trình phát triển của hệ cơ và tạo nạc. Trong
chăn nuôi hiện nay, tỷ lệ nạc là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả
kinh tế. Chính vì vậy khẩu phần của lợn cần đảm bảo đủ protein, đặc biệt là
sự cân đối của các axit amin thiết yếu nhằm giúp cho quá trình tạo nạc tối đa.
Thông thường, khẩu phần thức ăn cho lợn con phải đảm bảo được 120 130g protein tiêu hóa/ đơn vị thức ăn, tương đương protein thô của khẩu phần
là 17 - 19% (Nguyễn Quế Côi, 2006) [2].
Protein được tổng hợp từ các axit amin. Thứ tự nối tiếp nhau của các
axit amin tạo nên cấu trúc sơ cấp của protein. Do đó, dinh dưỡng protein cũng
có nghĩa là dinh dưỡng axit amin. Trong quá trình tiêu hóa protein từ thức ăn
được tiêu hóa thành các axit amin và được hấp thu vào máu. Các axit amin
này sẽ được cơ thể tổng hợp nên protein đặc hiệu của mô và tế bào. Một phần
axit amin được sử dụng để tạo năng lượng. Phần axit amin dư thừa sẽ bị bài
xuất ra ngoài cơ thể.
Ở lợn con sinh trưởng, có 10 axit amin quan trọng mà cơ thể không tự
tổng hợp được đó là: Phenylalanine, Lysine, Methionine, Tryptophan,
Threonine, Histidine, Isoleucine, Valine, Leucine, Arginine. Các axit amin này
tốc độ tích lũy protein (PDR) ở lợn. Tốc độ tích lũy protein là số đo quan
8
trọng biểu thị tăng trưởng của mô nạc thân thịt lợn. Do đó, đây được coi là
một chỉ tiêu quan trong trong chăn nuôi lợn thịt hiện nay.
Khi nồng độ năng lượng trong khẩu phần tăng lên, thu nhận thức ăn
giảm, do đó cần tính toán lại nhu cầu các chất dinh dưỡng khác nhằm đảm
bảo tỷ lệ giữa năng lượng và các chất dinh dưỡng là tối ưu.
1.2.3. Nhu cầu về khoáng chất
Chất khoáng có vai trò rất quan trọng đối với cơ thể lợn con vì nó đảm
nhận cả chức năng cấu tạo lẫn các chức năng sinh lý khác. Trong dinh dưỡng
khoáng có hai cách phân loại.
- Phân loại theo số lượng có trong thức ăn và cơ thể.
+ Những chất khoáng có số lượng lớn được tính bằng g/kg hoặc% gọi
là chất khoáng đa lượng hay nguyên tố đa lượng.
+ Những chất khoáng có số lượng nhỏ được tính bằng mg/kg hoặc
ppm, ppb gọi là khoáng vi lượng hay nguyên tố vi lượng.
- Theo chức năng sinh lý trong cơ thể
+ Chất khoáng tham gia cấu trúc (Ca, P).
+ Chất khoáng tham gia duy trì áp suất thẩm thấu, cân bằng kiềm - axit
(K, Na, Cl, Mg).
+ Chất khoáng tham gia chức năng enzyme (Fe, Cu, Zn, Se, Cr, Mn…)
+ Những chất khoáng chưa rõ chức năng và những chất khoáng độc hại
nhiễm qua thức ăn (Si, Sn, Cd, Pb, Hg…).
a) Nhu cầu canxi (Ca) và photpho (P)
Ca - P là thành phần quan trọng của xương và răng. Có khoảng 99% Ca
và 80% P trong cơ thể tồn tại trong xương và răng. Ngoài chức năng cấu tạo
nên bộ khung của cơ thể Ca còn tham gia vào quá trình đông máu và co cơ, P
có vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi và chuyển hóa năng lượng. Hàm
không nên vượt mức quá 1,5%. Nếu thiếu nước mà tỷ lệ muối đạt 2% sẽ gây
hiện tượng trúng độc thần kinh, lợn yếu, đi lảo đảo, có thể dẫn đến chết.
Na, K, Cl là các ion chính ảnh hưởng đến cân bằng chất điện phân và
trạng thái axit - bazơ của con vật. Nhu cầu Na trong khẩu phần của lợn từ 3 -
10
5kg là 0,25%; lợn từ 5 - 10 kg là 0,2% và lợn từ 10 - 20kg là 0,15%. Tương
ứng, nhu cầu K trong khẩu phần của lợn là 0,3%; 0,28% và 0,26%.
c) Sắt (Fe) và đồng (Cu)
Sắt và đồng có vai trò quan trọng trong quá trình tạo máu, là thành
phần của nhiều enzyme trong cơ thể. Thiếu sắt và đồng sẽ gây thiếu máu, lợn
còi cọc, giảm tăng khối lượng.
Hàm lượng sắt trong cơ thể lợn con rất thấp, ở giai đoạn sơ sinh có
28mg/kg chất khử mỡ trong cơ thể. Sắt cần vì nó là một thành phần quan trọng
của hemoglobin trong hồng cầu. Sắt cũng có trong thành phần của myoglobin ở
cơ, trong uteroferin của nhau thai, trong lactoerin của sữa và ferritinhemosiderin
của gan (Zimmerman, 1980) [39]; (Ducsay và cs, 1984)[266]. Nhu cầu mỗi
ngày của lợn con là 15 mg Fe, trong khi đó sữa lợn mẹ chỉ cung cấp được
1mg Fe/ ngày. Vì vậy, lợn con sơ sinh rất dễ bị thiếu Fe nếu không được cung
cấp kịp thời. Để khắc phục hiện tượng thiếu máu do thiếu Fe ở lợn sơ sinh,
người ta tiến hành tiêm bổ sung sắt và ngày thứ 3 sau khi sinh. Sắt được bổ
sung cho lợn con dưới dạng dextran sắt, liều 100 - 200 mg/lần tiêm. Chỉ cần
tiêm sắt một lần duy nhất giúp đảm bảo đủ nhu cầu sắt cho lợn con đến 35
ngày tuổi. Sau cai sữ, sắt được đáp ứng từ khẩu phần ăn hàng ngày.
Lợn cần đồng để tổng hợp hemoglobin, tổng hợp và kích hoạt một số
enzym oxy hóa cần cho trao đổi chất (Miller và cs, 1979) [35]. Thiếu đồng
dẫn đến di động sắt kém, sừng hóa, tổng hợp collagen, elastin, myelin kém.
Các triệu chứng thiếu Cu đối với lợn thì tứ chi sẽ biến dạng, lớp vỏ sừng ống
chân bị mỏng đi, các đầu sụn bị sưng to.
giúp tăng cường quá trình trao đổi chất, tăng tiêu thụ oxi của mô bào, kích
thích các phản ứng sinh hóa trong tất cả các cơ quan. Thiếu iot gây bệnh cổ
to, làm giảm năng suất và hiệu quả chăn nuôi.
Selen là thành phần của enzyme giúp chống oxi hóa thành tế bào. Mức
bổ sung cho lợn sau cai sữa là 0,3ppm. Thiếu hay thừa selen đều có ảnh
hưởng không tốt đến cơ, gan, tim… và có thể gây chết. Hàm lượng selen từ 5
- 8ppm sẽ gây trúng độc.
12
Trong dinh dưỡng vật nuôi cũng cần quan tâm đến hàm lượng Mn. Mn
có trong thành phần của một số loại enzyme liên quan đến quá trình trao đổi
năng lượng, hình thành xương và sinh sản. Thiếu Mn ở lợn con dẫn đến sinh
trưởng kém, chân cong hoặc què chân. Nhu cầu Mn đối với lợn đến nay vẫn
chưa có số liệu chính xác.
Tóm lại, các nguyên tố khoáng có vai trò nhất định trong cơ thể. Giữa
chúng có mối quan hệ tương tác với nhau, có thể làm tăng hoặc giảm khả
năng hấp thu của một hay nhiều nguyên tố khác. Đồng thời việc thiếu hay
thừa nguyên tố khoáng đều có ảnh hưởng nghiêm trọng đến cơ thể vật nuôi,
làm giảm khả năng sinh trưởng, từ đó làm giảm năng suất và hiệu quả chăn
nuôi. Vì vậy khi cân đối khẩu phần, cần tính toán bổ sung hợp lý các nguyên
tố khoáng nhằm tạo hiệu quả hấp thu tối ưu nhất.
1.2.4. Nhu cầu về vitamin
Vitamin được coi là một chất xúc tác sinh học tham gia vào hầu hết quá
trình trao đổi chất và hoạt động của cơ thể, xúc tiến việc tổng hợp, phân giải
các chất dinh dưỡng. Chỉ với một lượng nhỏ, vitamin giúp cho vật nuôi sinh
trưởng và phát triển bình thường, nâng cao sức đề kháng của cơ thể. Một số
vitamin có thể tổng hợp được trong cơ thể lợn, đáp ứng đủ nhu cầu hàng
ngày. Một số khác được cung cấp từ thức ăn. Tuy nhiên, trong quá trình chế
biến và bảo quản thức ăn, giá trị của vitamin bị giảm đi rất nhiều. Do đó cần
Các vitamin nhóm D bao gồm D1, D2, D3, trong đó D2 (dạng có trong
sản phẩm thực vật và D3 (dạng có trong sản phẩm động vật) có vai trò quan
trong đối với lợn trong quá trình chuyển hóa Ca - P. Vitamin giúp tăng cường
sự hấp thu Ca ở ruột non, tái hấp thu Ca từ xương và tăng bài xuất P ở thận.
Thiếu vitamin D sẽ gây thiếu khoáng, dẫn đến còi xương ở lợn con và chứng
nhuyễn xương, xương dễ gãy ở lợn trưởng thành.
Cơ thể lợn có thể tự tổng hợp được vitamin D khi có tác động của ánh
nắng mặt trời. Tuy nhiên trong điều kiện chăn nuôi công nghiệp hiện nay, lợn
được nuôi nhốt nên trong khẩu phần cần bổ sung thêm vitamin D. Có thể bổ
14
sung vitamin D bằng cách sử dụng dầu gan cá hoặc vitamin D công nghiệp.
Khi cân đối khẩu phần, cần tính toán đủ nhu cầu vì nếu thừa vitamin D sẽ gây
độc cho lợn. Nếu cho lợn sau cai sữa uống vitamin D3 với liều 250000 UI
trong vòng 4 tuần liên tục sẽ làm giảm lượng thu nhận thức ăn, giảm sinh
trưởng, gan sưng to, hoại tử ở tim, phổi, thận.
Nhu cầu vitamin D ở lợn là 220 UI/kg khẩu phần (Nguyễn Quế Côi,
2006) [2].
* Vitamin E
Vitamin E là một trong những vitamin quan trọng đối với lợn. Chức
năng của vitamin E là chống oxi hóa màng tế bào. Vitamin E ngăn cản quá
trình hình thành peroxit của những axit béo chưa no, bảo vệ màng
phospholipid. Ngoài ra, nó còn chuyển hóa các axit amin có chứa lưu huỳnh,
liên quan đến quá trình sinh sản và phát triển hệ cơ. Thiếu vitamin E dẫn đến
hàng loạt các bệnh lý như suy thoái khung xương, cơ tim, tắc nghẽn mạch,
sừng hóa dạ dày, thiếu máu, hoại tử gan, chết đột ngột.
Nhu cầu vitamin E ở lợn con Theo NRC (1998) là 16 UI/kg.
* Vitamin K
Vitamin K liên quan đến quá trình đông máu, đó là thành phần không
trong cơ thể. Ngoài ra hydro còn tham gia vào quá trình sản sinh hemoglobin
tạo hồng cầu. Thiếu vitamin B2 sẽ làm giảm sự sinh trưởng, lợn bị rụng lông,
ỉa chảy và nôn mửa. Nhu cầu vitamin ở lợn 5 - 10kg là 3,5 mg/kg khẩu phần
(NRC, 1998).
Hầu hết vitamin nhóm B không được dự trữ trong các mô của cơ thể
nên chúng phải được cung cấp hàng ngày thông qua thức ăn hoặc nước uống.
Thức ăn có nguồn gốc thực vật thường rất giàu vitamin nhóm B, ví dụ như
cám gạo, cám mì,…
*) Vitamin nhóm C
Vitamin C và các dẫn xuất của nó có vai trò quan trọng đối với các phản
ứng oxy hóa khử xảy ra trong tế bào. Vitamin C cũng tham gia vào cơ chế vận