HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
MAI PH HP
TRáCH NHIệM Xã HộI
CủA CáC DOANH NGHIệP NHà NƯớC ở VIệT NAM
TRONG QUá TRìNH HộI NHậP QUốC Tế HIệN NAY
LUN N TIN S
CHUYấN NGNH: CH NGHA DUY VT BIN CHNG
V CH NGHA DUY VT LCH S
Mó s: 62 22 03 02
Ngi hng dn khoa hc: PGS.TS. V HNG SN
H NI - 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng
tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có
nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định.
Tác giả luận án
Mai Phú Hợp
MỤC LỤC
Trang
19
22
24
24
44
59
Chương 3: TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
Ở VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ HIỆN
NAY - THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN
3.1. Thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam
trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay - thành tựu và nguyên nhân
3.2. Thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam
trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay - hạn chế và nguyên nhân
Chương 4: NHỮNG NHÓM GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO HIỆU
QUẢ VIỆC THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH
HỘI NHẬP QUỐC TẾ HIỆN NAY
4.1. Hoàn thiện khung pháp luật nhằm tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho điều
kiện kinh doanh và thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp
Nhà nước ở Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay
4.2. Doanh nghiệp Nhà nước cần nâng cao nhận thức và biện pháp thực
hiện trách nhiệm xã hội trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay
4.3. Nâng cao vai trò của các hội tổ chức xã hội - nghề nghiệp nhằm tác
động thúc đẩy các doanh nghiệp Nhà nước thực hiện tốt trách nhiệm xã
hội trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay
4.4. Nâng cao vai trò của người lao động và người tiêu dùng nhằm tác động
ASXH
:
An sinh xã hội
CT1TV
:
Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên
DNNN
:
Doanh nghiệp nhà nước
NN
:
Nhà nước
Nxb
:
Nhà xuất bản
Tốc độ phát triển vốn của doanh nghiệp
77
Biểu đồ 3.3:
Đóng góp của doanh nghiệp nhà nước vào ngân sách
77
Biểu đồ 3.4:
Một số chỉ tiêu kinh tế cơ bản của doanh nghiệp nhà nước
89
Biểu đồ 3.5:
Thu nhập bình quân
89
Biểu đồ 3.6:
Tỷ lệ tham gia các loại hình bảo hiểm
89
Biểu đồ 3.7:
Biểu đồ 3.12:
Mức độ người tiêu dùng hiểu quyền của mình
120
Hình 2.1:
Mô hình kim tự tháp trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp của Carroll
31
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thuật ngữ trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (TNXHDN) ra đời vào
những năm 1950 của thế kỷ 20, và kể từ đó cho đến nay đã có nhiều cách định
nghĩa của các học giả khác nhau về thuật ngữ này. Tuy nhiên, dù cách thể hiện, hình
thức diễn đạt ngôn từ có khác nhau, song nội hàm phản ánh của TNXHDN về cơ
bản có điểm chung là nhằm tuyên truyền và kêu gọi các doanh nhân bên cạnh lợi
nhuận không làm tổn hại đến các quyền và lợi ích của người khác, kêu gọi lòng từ
thiện nhằm bồi hoàn những thiệt hại mà các doanh nghiệp (DN) gây ra cho xã hội
cũng như môi trường, thực hiện tốt trách nhiệm xã hội (TNXH) sẽ góp phần bảo
đảm cho DN và xã hội cùng phát triển bền vững. Ngày nay, TNXHDN đã trở thành
một trong những yêu cầu cấp thiết mà hầu hết các quốc gia và DN trên thế giới phải
tuân thủ. Đối với các nước phát triển, TNXHDN được xem là một trong những
chiến lược quan trọng cho sự phát triển bền vững, là cơ sở giảm chi phí và tăng
năng suất; Tăng doanh thu, nâng cao giá trị thương hiệu và uy tín của DN; Thu hút
hiện thì các đối tác - khách hàng sẽ tẩy chay. Hơn nữa, trong quá trình hội nhập
kinh tế, các hàng rào thuế quan được bãi bỏ thay vào đó là những hàng rào phi thuế
quan như kỹ thuật, an ninh, con người,… được các nước lập ra nhằm bảo hộ cho
hàng nội địa. DN Việt Nam phải vượt qua để xuất khẩu hàng hóa sang các nước đó,
cũng là điều kiện để cạnh tranh ngay trên "sân nhà". Đó là xu thế tất yếu, nếu không
thực hiện tốt, không vượt qua được thì Việt Nam sẽ bị lệ thuộc cả về kinh tế cho
đến các vấn đề khác của xã hội. Với vai trò chủ đạo trong sự phát triển kinh tế,
mang đến thịnh vượng của Việt Nam, hơn bao giờ hết, DNNN đang có những cơ
hội và trách nhiệm chứng tỏ vị thế của mình như một thiết chế kinh tế, một thực thể,
một chủ thể quan trọng trong xã hội để tăng GDP, giải quyết những vấn đề của xã
hội, tạo ra việc làm, cùng với đó là đem lại cho nó sự phồn vinh. Tuy nhiên, nhận
thức sai về TNXH, cố tình vi phạm TNXH - với những hành vi kinh doanh thiếu
trách nhiệm của nhiều DNNN thời gian qua đã và đang gây ra những hậu quả
nghiêm trọng như: Hiệu quả kinh doanh thấp, còn nhiều DN thua lỗ làm thất thoát
nguồn vốn rất lớn đã đẩy nợ công tăng cao; Khai thác thiếu khoa học làm kiệt quệ
nguồn tài nguyên thiên nhiên, gây ô nhiễm môi trường; Nhiều quyền lợi của người
lao động không được bảo đảm; Gian lận kinh doanh, không rõ ràng trong báo cáo
tài chánh… Đó là những vấn nạn ở Việt Nam, gây mất lòng tin trong nhân dân.
Những thành tựu đạt được, cùng bên cạnh đó với những hạn chế yếu kém của các
DNNN đã đặt ra nhiều vấn đề khách quan cần phải nghiên cứu, bên cạnh những vấn đề
chung về DNNN cũng rất cần một cách nhìn định vị xem DNNN đã thực hiện được
những trách nhiệm gì cho xã hội. TNXHDN đã được tiếp cận từ các góc nhìn kinh tế
3
học, luật học, đạo đức học, khoa học về môi trường… Song vẫn rất cần một tiếp cận triết
học để khái quát hóa vấn đề trên ở tầm nhận thức xã hội, xây dựng định hướng thực hiện
TNXHDN một cách hệ thống. Do vậy, lựa chọn "Trách nhiệm xã hội của các doanh
nghiệp Nhà nước ở Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay" cho Luận án
tiến sỹ triết học của mình nó có ý nghĩa lý luận cũng như cả về thực tiễn đang đặt ra.
như phép biện chứng duy vật về lịch sử, mà chủ yếu là biện chứng giữa cơ sở hạ
tầng và kiến trúc thượng tầng, giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội. Đồng thời, quán
triệt chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, pháp luật của NN Việt Nam về
phát triển đất nước, nhất là về xây dựng NN pháp quyền dựa trên nền tảng kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình hội nhập quốc tế.
Luận án cũng được thực hiện trên cơ sở tiếp thu kết quả của những công
trình trong và ngoài nước thời gian qua có liên quan đến vấn đề TNXHDN nói
chung và TNXHDNNN nói riêng.
- Phương pháp nghiên cứu
Luận án được thực hiện dựa trên phương pháp luận biện chứng duy vật với
việc sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như: Thống nhất lịch sử - logic, phân
tích - tổng hợp, diễn dịch - quy nạp, so sánh - đối chiếu, khái quát hóa, thống kê,…
5. Những đóng góp mới của luận án
Luận án trình bày cơ sở lý luận về TNXH và TNXHDNNN, những yêu cầu
bắt buộc các DNNN thực hiện TNXH. Mô tả những TNXHDNNN, trên cơ sở đó phân
tích những thành tựu và hạn chế về việc thực hiện TNXHDNNN ở Việt Nam trong quá
trình hội nhập quốc tế hiện nay dưới góc độ Triết học. Từ phân tích chỉ ra những hạn
chế, luận án đề xuất một số khuyến nghị đối với NN, DN, các hội tổ chức xã hội - nghề
nghiệp, người lao động và người tiêu dùng phải thực hiện để góp phần nâng cao hiệu
quả thực hiện TNXHDNNN trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1. Ý nghĩa về lý luận
Luận án đã cụ thể hóa những vấn đề TNXHDN nói chung và TNXHDNNN
nói riêng trong quá trình hội nhập quốc tế.
Làm sáng tỏa các ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân ưu điểm, hạn chế trong
việc thực hiện TNXHDNNN.
Đề xuất một số định hướng, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện
TNXHDNNN ở Việt Nam trong thời gian tới.
6.2. Ý nghĩa về thực tiễn
Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ công tác giảng dạy và
thuật ngữ TNXHDN đang được hiểu theo nhiều cách khác nhau, nhưng nhìn chung
có hai quan điểm đối lập nhau: Quan điểm thứ nhất cho rằng, DN không có trách
nhiệm gì đối với xã hội mà chỉ có trách nhiệm với cổ đông và người lao động của
DN, còn NN phải có trách nhiệm với xã hội, DN đã có trách nhiệm nộp thuế cho
NN. Quan điểm thứ hai cho rằng, với tư cách là một trong những chủ thể của nền kinh
tế thị trường, các DN đã sử dụng các nguồn lực của xã hội, khai thác các nguồn lực tự
nhiên và trong quá trình đó, họ gây ra những tổn hại không tốt đối với môi trường tự
nhiên. Vì vậy, ngoài việc đóng thuế, DN còn có trách nhiệm bảo vệ môi trường, cộng
đồng, người lao động, v.v… Tác giả cho là, ở Việt Nam trong những năm gần đây,
người ta thường sử dụng định nghĩa của Nhóm phát triển kinh tế tư nhân của Ngân
hàng Thế giới về TNXHDN. Theo đó,
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, là sự cam kết của doanh nghiệp đóng
góp vào việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua những hoạt động nhằm
nâng cao chất lượng đời sống của người lao động và các thành viên trong gia
đình họ, cho cộng đồng và toàn xã hội, theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp
cũng như sự phát triển chung của xã hội. Nói cách khác, doanh nghiệp muốn
phát triển bền vững luôn phải tuân theo những chuẩn mực về bảo vệ môi
trường, bình đẳng về giới, an toàn lao động, quyền lợi lao động, trả lương công
bằng, đào tạo và phát triển nhân viên và phát triển cộng đồng [55, tr.18-19].
Từ phân tích các định nghĩa thì ông đã kết luận, TNXHDN thể hiện ở các yếu
tố: 1, bảo vệ môi trường; 2, đóng góp cho cộng đồng xã hội; 3, thực hiện trách nhiệm
cho nhà cung cấp; 4, bảo đảm lợi ích và an toàn cho người tiêu dùng; 5, quan hệ tốt với
người lao động; 6, đảm bảo lợi ích cho cổ đông và người lao động trong DN [55, tr.19].
9
Có thể nói đây là bài viết khá phong phú về lịch sử hình thành và phát triển
khái niệm TNXHDN, tác giả cũng đã dẫn giải nhiều khái niệm về TNXHDN của
các nhà khoa học, các tổ chức kinh tế. Và nội dung khái niệm của ông nội hàm cũng
rất rộng và bao quát những vấn đề xã hội mong muốn các DN thực hiện trách nhiệm
quan trọng thể hiện trách nhiệm của DN đối với người tiêu dùng; Dành một phần lợi
nhuận của mình đóng góp cho các hoạt động trợ giúp cộng đồng. Vì cộng đồng và san
sẻ gánh nặng với cộng đồng đang là một mục tiêu mà các DN có TNXH đang hướng
tới bên cạnh mục tiêu phát triển lợi nhuận của mình, như các chương trình hỗ trợ châu
Phi, châu Á trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe của nhà tỷ phú Bill Gates là một ví dụ
tiêu biểu. Quả thực, sẽ có nhiều trẻ em được cứu sống hơn, nhiều trẻ em được đến
trường hơn,… nếu các DN sẵn sàng chia sẻ lợi ích với cộng đồng.
- "Ô nhiễm môi trường - Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Việt Nam"
của Phạm Thị Tuyết [153] cho là, ở Việt Nam có không ít DN hiểu chưa đúng về
TNXHDN. Họ thường hiểu TNXH theo nghĩa "truyền thống", tức là DN thực hiện
TNXH như là một hoạt động tham gia "giải quyết các vấn đề xã hội" mang tính
nhân đạo, từ thiện. Với cách hiểu này, TNXHDN không mang tính bắt buộc mà là
DN "tự nguyện" thực hiện. Từ đó tác giả cho rằng DN có TNXH thể hiện trên các
phương diện:
Đóng thuế đầy đủ; Đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp cho người lao động;
Bình đẳng trong đối xử với người lao động; Thực hiện tốt vấn đề vệ sinh,
an toàn thực phẩm; Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Thực hiện nghiêm
túc vấn đề bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên; Tham gia vào
các hoạt động từ thiện và trợ giúp xã hội [153, tr.49].
- "Từ thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tiến tới tạo lập giá trị
chung trong hội nhập kinh tế toàn cầu" của Bùi Loan Thùy [134] đã cho rằng, việc
thực hiện TNXH là yêu cầu tất yếu đối với những DN muốn xây dựng, giữ vững
thương hiệu, khẳng định vị thế của mình trong quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu,
với sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt. DN muốn phát triển bền vững luôn phải tuân
thủ những chuẩn mực về bảo vệ môi trường, bình đẳng về giới, an toàn lao động,
quyền lợi lao động, trả lương công bằng, đào tạo, phát triển nhân lực và đóng góp
phát triển cộng đồng [134, tr.55].
- "Trách nhiệm xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường" của Đặng Hữu
Toàn [139] đã viết: Phát triển kinh tế thị trường với tư tưởng làm giàu bằng mọi giá,
khi lợi nhuận và tiền bạc có sức hấp dẫn đến mức như C.Mác nói không có tội ác
có lãi; 2, trách nhiệm trả công cho người lao động thỏa đáng, đồng thời đóng góp
phần mình vào việc giải quyết các vấn đề ASXH và sự phát triển phồn vinh của xã
hội; 3, trách nhiệm sinh thái, tức là hoạt động của DN không dẫn đến khủng hoảng
và những thảm họa sinh thái [162, tr.305].
- "Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và Nhà nước trong việc bảo đảm
công bằng xã hội" của Nguyễn Ngọc Hà [59] đã viết: Những lợi nhuận chỉ chính
12
đáng khi DN không gây ra sự bất công bằng. Các DN cần phải thực hiện đầy đủ
trách nhiệm về mặt pháp luật đối với NN và đối với người lao động trong DN. Trên
thực tế, không phải DN nào cũng hoàn thành trách nhiệm về mặt pháp luật của mình
và không phải mọi DN trốn tránh trách nhiệm về mặt pháp luật đều bị pháp luật
trừng phạt. Đó là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây ra sự bất công bằng.
Nhưng nếu chỉ dừng lại ở việc thực hiện đầy đủ trách nhiệm bắt buộc về mặt pháp
luật, thì DN vẫn chưa thực hiện đầy đủ TNXH của mình trong việc bảo đảm công
bằng. Bên cạnh việc phải hoàn thành trách nhiệm về mặt pháp luật để bảo đảm công
bằng, DN còn phải thực hiện trách nhiệm mà pháp luật không bắt buộc đối với
người lao động trong DN và đối với xã hội. Những việc làm thể hiện trách nhiệm đó
là tăng lương, giảm giờ làm, trợ cấp cho người lao động trong DN [59, tr.139].
- "Doanh nghiệp xã hội sẽ là giải pháp vững bền cho các vấn đề toàn cầu"
của Richard Welford [110] đã cho rằng, TNXHDN không chỉ là một ý tưởng được
chào đón về khía cạnh đạo đức. TNXH còn giúp tăng cường sức mạnh của thương
hiệu, danh tiếng, sự nhận biết và lòng trung thành. Khởi điểm từ khía cạnh cơ bản như
người lao động, với những chính sách tạo dựng môi trường làm việc tốt, an toàn, đảm
bảo sức khỏe và bảo vệ quyền lợi, DN không khó có được sự chung thủy của công
nhân viên trong ngành, qua đó còn cải thiện hình ảnh DN, thu hút đầu tư, tạo dựng
quan hệ đối tác. Việc tiết kiệm năng lượng, tài nguyên sẽ giúp cắt giảm chi phí, tăng uy
tín cạnh tranh, hướng đến gia tăng tính bền vững trong phát triển DN.
Tóm lại, dù có nhiều cách luận giải khác nhau về cấu trúc TNXHDN, thế
tuân thủ và do vậy chúng hạn chế bớt được phần nào mặt trái do kinh tế thị trường
gây ra. Tác giả làm rõ vai trò của việc thực hiện TNXH để hạn chế tác động tiêu cực
của nền kinh tế thị trường, ông đã viết:
Tuy nhiên, không vì thế mà có thể coi kinh tế thị trường với các luật lệ
của nó là chiếc đũa thần vạn năng có thể loại bỏ được tất cả những gì là
tiêu cực ẩn chứa trong nó. Cho nên, cùng với trách nhiệm về mặt luật
pháp thì trách nhiệm đạo đức hay nói rộng hơn là trách nhiệm xã hội của
những người tham gia kinh tế thị trường có vai trò không nhỏ. Chính tinh
thần, trách nhiệm xã hội của các chủ thể sản xuất, kinh doanh và nói
chung là của những người tham gia thị trường sẽ góp phần hạn chế và
giảm bớt những tác động tiêu cực, hay mặt trái của kinh tế thị trường, qua
đó thúc đẩy sự phát triển và làm lành mạnh các quan hệ xã hội [36, tr.43].
Tác giả khẳng định: "Ý thức về TNXH sẽ giúp những người sản xuất, kinh doanh
tự điều chỉnh các hoạt động của mình sao cho phù hợp với những đòi hỏi của chuẩn mực
pháp lý, chuẩn mực đạo đức để hướng tới cái lợi, cái thiện và cái đẹp" [36, tr.44].
14
- "Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: Một số vấn đề lý luận và yêu cầu
đổi mới trong quản lý nhà nước ở Việt Nam" của Nguyễn Đình Cung, Lưu Minh Đức
[39] cho là, khi DN thực hiện tốt TNXH không những hình ảnh công ty được cải thiện
trong mắt công chúng và người dân địa phương giúp công ty tăng doanh số bán hàng
hay thực hiện các thủ tục đầu tư được thuận lợi hơn, mà ngay trong nội bộ công ty, sự
hài lòng và gắn bó của nhân viên với công ty cũng tăng lên, cũng như các chương trình
tiết kiệm giúp giảm chi phí hoạt động cho công ty không nhỏ [39, tr.6].
- "Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: Nhận thức và thực tế ở Việt Nam"
của Trần Hồng Minh [92] đã viết: TNXHDN đang trở thành một nội dung được
quan tâm, nó sẽ đem lại cho các DN những lợi ích và cơ hội như: Khả năng gia tăng
các hợp đồng mới và hợp đồng gia hạn từ các công ty đặt hàng nước ngoài; Năng
suất lao động của các công ty tăng lên do công nhân có sức khỏe tốt hơn và hài lòng
Thay vào đó, TNXHDN là vấn đề kinh tế, pháp lý, đạo đức và từ thiện mà các bên liên
quan trực tiếp đến kế hoạch và hành động của DN.
- "Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, niềm tin và sự gắn kết với tổ chức
của nhân viên ngân hàng" của Hoàng Thị Phương Thảo, Huỳnh Long Hồ [126] đã
cho rằng, TNXHDN được xem như là một trong những triết lý kinh doanh cơ bản và
luôn song hành với chiến lược phát triển, góp phần quan trọng vào sự thành công
vững chắc, giúp DN thực hiện được tầm nhìn, sứ mệnh của mình. Bên cạnh đó DN
nào muốn đạt được sự thành công và phát triển bền vững cũng không thể không đặt
niềm tin và sự gắn kết của nhân viên vào chiến lược kinh doanh của DN [126, tr.38].
- "Nâng cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Việt Nan hiện nay" của Lê
Thị Thơm [129] cho là, TNXHDN không phải mánh khóe marketing để quảng cáo
hình ảnh DN, trong một phạm vi nào đó khi DN thực hiện tốt TNXH thì hình ảnh
thương hiệu của DN sẽ đưa lại nhiều thiện cảm đối với khách hàng và những khách
hàng tiềm năng. Tuy nhiên, nếu chỉ đặt mục đích là trục lợi và thực hiện TNXH một
cách hời hợt, sáo rỗng và giả tạo, thì khách hàng sẽ nhanh chóng được chứng kiến sự
thật dưới sự làm việc của giới truyền thông. Khi ấy, niềm tin của khách hàng còn bị đổ
vỡ nhiều hơn là khi DN không thực hiện hành động TNXH nào [129, tr.74]. TNXHDN
không phải chỉ là làm từ thiện như nhiều người lầm tưởng mà còn là sự tổng hợp của
rất nhiều những tiêu chuẩn khác nữa mà DN cần phải thực hiện để trở thành một DN
kinh doanh có đạo đức và có tầm nhìn phát triển chiến lược bền vững [129, tr.75].
Tóm lại, dù được luận giải khác nhau nhưng nhìn chung các tác giả đều cho
là khi thực hiện tốt TNXH sẽ mang lại những lợi ích thiết thực cho các DN trên các
mặt: Tăng doanh thu, đóng góp thiết thực vào xây dựng thương hiệu DN; Đảm bảo
Luận án đầy đủ ở file: Luận án full