Bổ sung chế phẩm globamax 1000 lợn con từ tập ăn đến 56 ngày tuổi tại HTX hoàng long, tân ước, thanh oai, hà nội - Pdf 48

i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận
văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào. Mọi
sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin
trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn

Nguyễn Trọng Ngọc


ii
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hoàn thành luận văn này, tôi luôn nhận được sự
quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình của các cá nhân, tập thể trong và ngoài trường.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tập thể các thầy, cô giáo trong
khoa Chăn nuôi thú y, Phòng Đào Tạo trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS. Từ Quang Hiển, người
hướng dẫn thực hiện đề tài đã luôn quan tâm, chỉ bảo tận tình giúp đỡ tôi
hoàn thành tốt luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của Ban giám đốc, tập thể cán bộ,
công nhân Hợp tác xã Hoàng Long đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời
gian tôi tiến hành thực tập tại Hợp tác xã.
Để hoàn thành luận văn này, tôi còn nhận được sự động viên khích
lệ của những người thân trong gia đình và bạn bè. Tôi xin chân thành cảm
ơn những tình cảm cao quý đó.
Tác giả luận văn

Nguyễn Trọng Ngọc



1.3.

Hội chứng tiêu chảy ở lợn con...........................................................17

1.3.1. Khái niệm........................................................................................... 17
1.3.2. Nguyên nhân gây bệnh...................................................................... 18


4
1.3.3. Một số biện pháp giúp ngăn chặn bệnh tiêu chảy ở lợn con..............21
1.4.
1.5.

Giới thiệu chung về chế phẩm Globamax 1000.................................21
Nghiên cứu trong và ngoài nước.........................................................22

1.5.1. Tình hình nghiên cứu trong nước........................................................22
1.5.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước....................................................... 23
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU...................25
2.1.

Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu......................................25

2.2.

Nội dung nghiên cứu........................................................................... 25

2.3.

Phương pháp nghiên cứu....................................................................25

3.2.1. Khối lượng của lợn con giai đoạn 21 - 56 ngày tuổi............................45
3.2.2. Sinh trưởng tuyệt đối của lợn con ở giai đoạn từ 21 - 56 ngày tuổi....47
3.2.3. Lượng thu nhận thức ăn của lợn con từ 21 - 56 ngày tuổi..................49
3.2.4. Tiêu tốn thức ăn của lợn con từ 21 - 56 ngày tuổi.............................. 52
3.2.3. Ảnh hưởng của việc bổ sung Globamax 1000 đến bệnh tiêu chảy
ở lợn con giai đoạn 21 - 56 ngày tuổi..................................................53
3.2.4. Hiệu quả kinh tế của việc bổ sung Globamax 1000 cho lợn con ở
giai đoạn 21 - 56 ngày tuổi.................................................................. 56
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ.................................................................................... 58
1. Kết luận....................................................................................................58
2. Đề nghị.....................................................................................................58
TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................................................60


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BNNPTNT : Bộ Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn cs
: Cộng sự
ĐC

: Đối chứng KPCS
: Khẩu phần cơ sở

NT

: Ngày tuổi

TA

: Thức ăn



Bảng 2.1.

Sơ đồ bố trí thí nghiệm lợn con từ tập ăn đến cai sữa...............26

Bảng 2.2.

Sơ đồ bố trí thí nghiệm cho lợn con từ 21 (cai sữa) đến 56
ngày tuổi......................................................................................27

Bảng 3.1.

Tỷ lệ nuôi sống của lợn con thí nghiệm giai đoạn 7 - 21 ngày
tuổi.............................................................................................. 31

Bảng 3.2.

Khối lượng của lợn con đoạn từ 7 - 21 ngày tuổi........................32

Bảng 3.3.

Tăng khối lượng của lợn con từ 7 - 21 ngày tuổi.........................34

Bảng 3.4.

Tiêu thụ thức ăn của lợn con từ 7 - 21 ngày tuổi........................ 37

Bảng 3.5.

Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng của lợn con từ 7 21 ngày tuổi.................................................................................39


Hình 3.3.

Biểu đồ tiêu thụ thức ăn của lợn con từ 7 - 21 ngày tuổi............38

Hình 3.4.

Biểu đồ tiêu tốn thức ăn của lợn từ 7 - 21 ngày tuổi..................40

Hình 3.5.

Biểu đồ tỉ lệ mắc bệnh tiêu chảy của lợn con từ 7 - 21 ngày tuổi. 43

Hình 3.6.

Khối lượng lợn con ở các ngày tuổi.............................................47

Hình 3.7.

Sinh trưởng tuyệt đối của lợn con giai đoạn từ 21 - 56 ngày tuổi ...

49 Hình 3.8. Tiêu thụ thức ăn của lợn con sau cai sữa ở giai đoạn từ 21 56 ngày tuổi.................................................................................51
Hình 3.9.

Biểu đồ tiêu tốn thức ăn/ 1kg tăng khối lượng của lợn con từ
21 - 56 ngày tuổi..........................................................................53

Hình 3.10.

Tỉ lệ nhiễm hội chứng tiêu chảy của lợn con từ 21- 56 ngày tuổi..55



10
trong sản xuất và kinh doanh sản phẩm động vật. Do vậy, việc hạn chế và
tiến tới


hoàn toàn không sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi ở nước ta là
một xu thế tất yếu và các nghiên cứu tìm ra các chất có thể thay thế
kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi là cấp thiết. Để đáp ứng được yêu
cầu đó các sản phẩm hữu cơ đang được quan tâm do nó có các tính năng
ưu việt: an toàn đối với vật nuôi và con người, cải thiện được chức năng
tiêu hoá, ức chế được vi khuẩn gây bệnh và tăng cường khả năng miễn dịch
cho vật nuôi, không tồn dư và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
Bổ sung canxi butyrate vào khẩu phần vật nuôi là giải pháp thay thế các
chất kháng sinh đã được ứng dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế
giới. Globamax 1000 do Công ty Global Nutrition sản xuất là sản phẩm
thương mại chứa cannxi butyrat đã được đưa vào thị trường Việt Nam.
Xuất phát từ các lý do trên chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Bổ
sung chế phẩm Globamax 1000 lợn con từ tập ăn đến 56 ngày tuổi tại
HTX Hoàng Long, Tân Ước, Thanh Oai, Hà Nội”.
2. Mục đích nghiên cứu
- Xác định hiệu quả tác động của các mức bổ sung chế phẩm Globamax
1000 vào khẩu phần đến lợn con F1 (♂Landrace x ♀Yorkshire) từ tập ăn đến
56 ngày tuổi.
- Xác định mức bổ sung thích hợp chế phẩm Globamax 1000 cho lợn
giai đoạn từ tập ăn đến 56 ngày tuổi.
3. Ý nghĩa của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Khuyến cáo sử dụng Globamax 1000 và tỷ lệ bổ sung trong khẩu phần

Trong thời gian bú sữa khối lượng bộ máy tiêu hóa tăng lên từ 10 -15
lần, chiều dài ruột non tăng lên gấp 5 lần. Dung tích bộ máy tiêu hoá cũng
tăng lên 40-50 lần. Tuyến tụy ở 30 ngày tuổi tăng lên gấp 4 lần, khối lượng
của gan gấp 3 lần so với khi sơ sinh. Lúc mới sinh dạ dày chỉ nặng 6 - 8 gam


và chứa được 35 - 50 gam sữa, nhưng sau 3 tuần đã tăng gấp 4 lần và sau
60 ngày tuổi nặng 150 gam và chứa được khoảng 700 -1000 gam sữa.
Mặc dù bộ máy tiêu hoá phát triển rất nhanh nhưng chưa hoàn
thiện. Khả năng tiêu hoá của lợn con còn rất kém do số lượng và hoạt lực
các men trong đường tiêu hoá của lợn con hạn chế. Dịch vị của lợn con dưới
một tháng tuổi hoàn toàn không có HCl tự do, vì lượng axit tiết ra ít và nó
nhanh chóng liên kết với các niêm dịch làm cho hàm lượng HCl tự do rất ít
hoặc hoàn toàn không có trong dạ dày của lợn con bú sữa. Do thiếu HCl tự
do trong dạ dày, nên hệ vi sinh vật dễ lên men gây nên hiện tượng tiêu chảy
ở lợn con.
1.1.3. Đặc điểm về điều tiết thân nhiệt
Cơ năng điều tiết nhiệt ở lợn con là chưa hoàn chỉnh, và thân
nhiệt chưa được ổn định. Để có khả năng điều tiết tốt nhiệt cần có 3 yếu
tố: Thần kinh, mỡ và nước. Cơ thể lợn con thường sinh ra lượng nhiệt lớn,
nhiệt lượng của cơ thể liên tục toả ra bên ngoài do sự chênh lệch giữa
thân nhiệt của cơ thể với nhiệt độ môi trường bên ngoài. Nhiệt độ cơ
thể luôn có xu hướng giảm do: Lông của lợn con thưa, lớp mỡ dưới da
mỏng, diện tích bề mặt so với khối lượng cơ thể cao nên khả năng
chống lạnh kém, lượng mỡ và glycogen dự trữ trong cơ thể thấp nên khả
năng cung cấp năng lượng chống lạnh bị hạn chế. Hệ thần kinh điều khiển
thân nhiệt của lợn con chưa được hoàn thiện. Trong giai đoạn này lợn con
có khả năng điều hoà thân nhiệt là do sự hoạt động rất mạnh của hệ tuần
hoàn cũng như sự thay đổi tư thế của lợn. Cần phải sưởi ấm đảm bảo cho
lợn con không bị lạnh. Sau 3 tuần tuổi, khả năng điều hòa thân nhiệt của

lợn con phải hấp thu được khoảng 160g sữa đầu trên 1kg khối lượng sơ sinh
để sống.
Nhu cầu năng lượng của lợn con tăng theo tuần tuổi. Từ tuần tuổi thứ
3 lượng sữa mẹ bắt đầu giảm dần, trong khi đó tốc độ tăng trưởng của lợn
con lại tăng nhanh. Vì vậy cần bổ sung năng lượng ngoài nguồn sữa mẹ
cho lợn con. Khi được 3 tuần tuổi, lượng thức ăn bổ sung chỉ cần khoảng 5%
nhưng ở 5 tuần tuổi, lượng thức ăn cần tới 1/3 nhu cầu dinh dưỡng của lợn
con (Frank Aherne và cs, 2006)[28].


Thức ăn cung cấp năng lượng là thành phần chính trong khẩu phần
của lợn. Lợn con đòi hỏi nguồn cung cấp giàu năng lượng và dễ tiêu.
Thức ăn cung cấp năng lượng cho lợn con được lấy từ 2 nguồn chính là
các hạt ngũ cốc và dầu, mỡ. Các hạt ngũ cốc chứa nhiều tinh bột, có khả
năng tiêu hóa cao và ngon miệng. Điểm hạn chế của chúng là thành phần
axit amin không cân đối. Ngô thường được lựa chọn để phối hợp khẩu phần
cho lợn con. Dầu và mỡ có năng lượng trao đổi cao hơn so với các hạt ngũ
cốc khoảng 2,25 lần (tính trên cùng đơn vị khối lượng).
1.2.2. Nhu cầu về protein và các axit amin
Protein liên quan đến quá trình phát triển của hệ cơ và tạo nạc.
Trong chăn nuôi hiện nay, tỷ lệ nạc là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá
hiệu quả kinh tế. Chính vì vậy khẩu phần của lợn cần đảm bảo đủ protein,
đặc biệt là sự cân đối của các axit amin thiết yếu nhằm giúp cho quá trình
tạo nạc tối đa.
Thông thường, khẩu phần thức ăn cho lợn con phải đảm bảo được 120
- 130g protein tiêu hóa/ đơn vị thức ăn, tương đương protein thô của khẩu
phần là 17 - 19% (Nguyễn Quế Côi, 2006) [2].
Protein được tổng hợp từ các axit amin. Thứ tự nối tiếp nhau của
các axit amin tạo nên cấu trúc sơ cấp của protein. Do đó, dinh dưỡng protein
cũng có nghĩa là dinh dưỡng axit amin. Trong quá trình tiêu hóa protein từ

lượng/ protein thô hay nói chính xác hơn là tỷ lệ năng lượng/lysine.
Theo NRC (1998), lợn từ 5 - 10kg, nhu cầu năng lượng là 3265 kcal
ME/kg, nhu cầu protein thô là 23,7%; tỷ lệ năng lượng/protein thô là
137,76. Lợn từ 10 - 20kg, nhu cầu năng lượng là 3.265kcal ME/kg, nhu cầu
protein là 20,9%; tỷ lệ năng lượng/protein thô là 156,22. Cũng Theo NRC
(1998), số gam lysine tổng số/Mcal ME đối với lợn từ 3 -5kg là 4,59; lợn từ
5 - 10kg là 4,13 và lợn từ 10 - 20kg là 3,52. Tỷ lệ lysine/năng lượng có ảnh
hưởng đến tốc độ tích lũy protein (PDR) ở lợn. Tốc độ tích lũy protein là
số đo quan


trọng biểu thị tăng trưởng của mô nạc thân thịt lợn. Do đó, đây được coi
là một chỉ tiêu quan trong trong chăn nuôi lợn thịt hiện nay.
Khi nồng độ năng lượng trong khẩu phần tăng lên, thu nhận thức
ăn giảm, do đó cần tính toán lại nhu cầu các chất dinh dưỡng khác nhằm
đảm bảo tỷ lệ giữa năng lượng và các chất dinh dưỡng là tối ưu.
1.2.3. Nhu cầu về khoáng chất
Chất khoáng có vai trò rất quan trọng đối với cơ thể lợn con vì nó đảm
nhận cả chức năng cấu tạo lẫn các chức năng sinh lý khác. Trong dinh dưỡng
khoáng có hai cách phân loại.
- Phân loại theo số lượng có trong thức ăn và cơ thể.
+ Những chất khoáng có số lượng lớn được tính bằng g/kg hoặc% gọi
là chất khoáng đa lượng hay nguyên tố đa lượng.
+ Những chất khoáng có số lượng nhỏ được tính bằng mg/kg
hoặc ppm, ppb gọi là khoáng vi lượng hay nguyên tố vi lượng.
- Theo chức năng sinh lý trong cơ thể
+ Chất khoáng tham gia cấu trúc (Ca, P).
+ Chất khoáng tham gia duy trì áp suất thẩm thấu, cân bằng kiềm - axit
(K, Na, Cl, Mg).
+ Chất khoáng tham gia chức năng enzyme (Fe, Cu, Zn, Se, Cr, Mn…)

tiêu hóa được.
b) Natri (Na), Kali (K) và Clo (Cl)
Chức năng chính của Na và Cl là tham gia vào quá trình duy trì áp suất
thẩm thấu của cơ thể. Thiếu Na và Cl gây lên hiện tượng chán ăn làm giảm
sinh trưởng, giảm năng suất của vật nuôi. Na và Cl được cung cấp một phần
từ thức ăn tự nhiên, còn phần chính là từ muối ăn. Nhu cầu muối của các
loại lợn trung bình là 0,5%. Trong khẩu phần lợn, tỷ lệ muối có thể cao hơn
nếu cung cấp đầy đủ nước uống cho lợn. Tuy nhiên, lượng muối trong khẩu
phần không nên vượt mức quá 1,5%. Nếu thiếu nước mà tỷ lệ muối đạt 2%
sẽ gây hiện tượng trúng độc thần kinh, lợn yếu, đi lảo đảo, có thể dẫn đến
chết.


Na, K, Cl là các ion chính ảnh hưởng đến cân bằng chất điện phân và
trạng thái axit - bazơ của con vật. Nhu cầu Na trong khẩu phần của lợn từ 3 -


5kg là 0,25%; lợn từ 5 - 10 kg là 0,2% và lợn từ 10 - 20kg là 0,15%. Tương
ứng, nhu cầu K trong khẩu phần của lợn là 0,3%; 0,28% và 0,26%.
c) Sắt (Fe) và đồng (Cu)
Sắt và đồng có vai trò quan trọng trong quá trình tạo máu, là
thành phần của nhiều enzyme trong cơ thể. Thiếu sắt và đồng sẽ gây thiếu
máu, lợn còi cọc, giảm tăng khối lượng.
Hàm lượng sắt trong cơ thể lợn con rất thấp, ở giai đoạn sơ sinh
có 28mg/kg chất khử mỡ trong cơ thể. Sắt cần vì nó là một thành phần quan
trọng của hemoglobin trong hồng cầu. Sắt cũng có trong thành phần của
myoglobin ở cơ, trong uteroferin của nhau thai, trong lactoerin của sữa và
ferritinhemosiderin của gan (Zimmerman, 1980) [39]; (Ducsay và cs, 1984)
[266]. Nhu cầu mỗi ngày của lợn con là 15 mg Fe, trong khi đó sữa lợn
mẹ chỉ cung cấp được 1mg Fe/ ngày. Vì vậy, lợn con sơ sinh rất dễ bị thiếu

Bổ sung kẽm trong thức ăn giúp cải thiện tăng khối lượng và khả năng
thu nhận thức ăn của lợn con. Theo Lei Nin Li và Xiong Dai Jun (2005) [23]
với 3000 mg/kg oxit kẽm có thể nâng cao 15 - 22% tăng khối lượng ngày; 9,5
- 14% lượng thức ăn thu nhận, tỷ lệ tiêu chảy sau cai sữa giảm, đa số kẽm
trong hạt ngũ cốc và các hạt có dầu đều ở dạng phytate, làm giảm hàm
lượng kẽm cung cấp cho cơ thể.
Có thể bổ sung kẽm trong khẩu phần dưới dạng oxit, sulfate hay
cacbonate kẽm. Khi hàm lượng kẽm vượt quá 2g/kg vật chất khô thức ăn
sẽ gây độc cho lợn (Vũ Duy Giảng và cs, 2000) [3].
e) Các nguyên tố vi lượng khác
Hàm lượng iot trong cơ thể rất thấp, chỉ khoảng 0,6 mg/kg khối
lượng cơ thể nhưng lại có vai trò rất quan trọng. Iot là thành phần không
thể thiếu trong hormone thyroxin của tuyến giáp trạng. Đây là hormone
sinh trưởng, giúp tăng cường quá trình trao đổi chất, tăng tiêu thụ oxi của
mô bào, kích thích các phản ứng sinh hóa trong tất cả các cơ quan. Thiếu
iot gây bệnh cổ to, làm giảm năng suất và hiệu quả chăn nuôi.
Selen là thành phần của enzyme giúp chống oxi hóa thành tế bào.
Mức bổ sung cho lợn sau cai sữa là 0,3ppm. Thiếu hay thừa selen đều
có ảnh hưởng không tốt đến cơ, gan, tim… và có thể gây chết. Hàm lượng
selen từ 5


- 8ppm sẽ gây trúng độc.


Trong dinh dưỡng vật nuôi cũng cần quan tâm đến hàm lượng Mn.
Mn có trong thành phần của một số loại enzyme liên quan đến quá trình
trao đổi năng lượng, hình thành xương và sinh sản. Thiếu Mn ở lợn con dẫn
đến sinh trưởng kém, chân cong hoặc què chân. Nhu cầu Mn đối với lợn
đến nay vẫn chưa có số liệu chính xác.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status