LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại bảo HIỂM y tế ở VIỆT NAM THỰC TRẠNG và HƯỚNG HOÀN THIỆN - Pdf 48

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT


LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA 2006 - 2010
Đề tài:

BẢO HIỂM Y TẾ Ở VIỆT NAM
THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN

Giảng viên hướng dẫn:
Nguyễn Ánh Minh
Bộ môn: Luật Hành Chính

Sinh viên thực hiện:
Trần Thị Thúy Anh
MSSV: 5062233
Lớp: Thương mại 1- Khóa 32

Cần Thơ, 4 - 2010


TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT


LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA 2006 - 2010
Đề tài:


.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................


NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................

Trang

LỜI NÓI ĐẦU................................................................................................ 3
CHƯƠNG 1: .................................................................................................. 5
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO HIỂM Y TẾ ..................................... 5
1.1. Khái quát chung về bảo hiểm................................................................... 5
1.1.1. Những khái niệm về bảo hiểm ........................................................ 5
1.1.2 Các nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm .............................................. 6
1.1.3 Nguồn gốc của bảo hiểm................................................................. 7
1.2. Các loại hình bảo hiểm ............................................................................ 7
1.2.1. Bảo hiểm thương mại ..................................................................... 7
1.2.2. Bảo hiểm xã hội ............................................................................. 8
1.3. Khái quát chung về bảo hiểm y tế .......................................................... 10
1.3.1. Lịch sử phát triển của bảo hiểm y tế............................................. 10
1.3.2. Khái niệm và bản chất của bảo hiểm y tế ..................................... 11
1.3.3. Các nguyên tắc của bảo hiểm y tế ................................................ 12
1.4. Sự cần thiết của bảo hiểm y tế đối với người dân .................................. 15
1.5. Các loại hình bảo hiểm y tế.................................................................... 16
1.5.1. Bảo hiểm y tế tự nguyện ............................................................... 16
1.5.2. Bảo hiểm y tế bắt buộc ................................................................. 18
1.6. Một số qui định về pháp luật bảo hiểm y tế ở một số nước trên thế giới 18
1.6.1. Bảo hiểm y tế ở Đài Loan............................................................. 18
1.6.2. Bảo hiểm y tế ở Hàn Quốc ........................................................... 19
1.6.3. Bảo hiểm y tế ở Pháp ................................................................... 20
CHƯƠNG 2: ................................................................................................ 23
NHỮNG QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM Y TẾ - THỰC
TRẠNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN........................................................ 23
2.1. Một số vấn đề chung về Luật Bảo hiểm y tế........................................... 23
2.1.1. Khái niệm bảo hiểm y tế............................................................... 23
2.1.2. Nguyên tắc bảo hiểm y tế ............................................................. 23

2.7. Thực trạng và hướng hoàn thiện về pháp luật bảo hiểm y tế ở nước ta 35
2.7.1. Những thành tựu bảo hiểm y tế đã đạt được trước khi Luật Bảo
hiểm y tế được ban hành ........................................................................ 36
2.7.2. Thực trạng của việc thực hiện bảo hiểm y tế ở nước ta hiện nay .. 39
2.8. Thực trạng và giải pháp bảo hiểm y tế toàn dân.................................... 39
2.8.1. Thực trạng bảo hiểm y tế toàn dân ............................................... 39
2.8.2. Một số giải pháp trong việc thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân ở
nước ta hiện nay .................................................................................... 40
2.9. Hướng hoàn thiện và kiến nghị ............................................................. 41
2.9.1. Thay đổi hình thức khám, chữa bệnh ở bệnh viện......................... 41
2.9.2. Một số giải pháp để thẻ bảo hiểm y tế Việt Nam phát huy tác dụng
.............................................................................................................. 41
KẾT LUẬN .................................................................................................. 44
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................... 45

GVHD: Nguyễn Ánh Minh

Trang 2

SVTH: Trần Thị Thúy Anh


Bảo hiểm y tế ở Việt Nam – Thực trạng và hướng hoàn thiện

LỜI NÓI ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Nước ta hiện nay đang trên đà phát triển theo một chiều hướng tích cực và
ngày càng hòa nhập với xu hướng chung của thế giới, chất lượng cuộc sống của
người dân ngày càng được nâng cao. Với những thành tích đã đạt được, Đảng và
Nhà nước ta vẫn đang tiếp tục phát huy những đường lối, chính sách đúng đắn


Trang 3

SVTH: Trần Thị Thúy Anh


Bảo hiểm y tế ở Việt Nam – Thực trạng và hướng hoàn thiện

diễn dịch… đây là những phương pháp được được sử dụng rộng rãi và thường
xuyên trong quá trình nghiên cứu lập pháp và các vấn đề xã hội.
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung
chính của đề tài gồm 02 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về bảo hiểm y tế
Với chương này, người viết nêu ra những khái quát chung về bảo hiểm và
bảo hiểm y tế cũng như quá trình hình thành và phát triển hai loại hình này trên
thế giới và ở Việt Nam.
Chương 2: Những qui định của pháp luật về bảo hiểm y tế - Thực trạng và
hướng hoàn thiện
Trong chương này, người viết đi tìm hiểu về những qui định mới của Luật
so với những qui định trước đây có gì khác nhau, bên cạnh đó tìm hiểu thực trạng
của vấn đề từ đó đưa ra cách đánh giá cũng như những kiến nghi để hoàn thiện
những thiếu xót đó.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, do năng lực và kiến thức của bản thân
còn nhiều hạn chế, vì vậy khó tránh khỏi thiếu xót, mong sự đóng góp của thầy
cô và các bạn để đề tài nghiên cứu được hoàn thiện hơn.

GVHD: Nguyễn Ánh Minh

Trang 4

Từ điển thuật ngữ kinh doanh bảo hiểm do Bảo Việt phát hành năm 2000:
“Bảo hiểm (insurance) là cơ chế chuyển giao theo hợp đồng gánh nặng hậu quả
của một số rủi ro thuần túy bằng cách chia sẻ rủi ro cho nhiều người cùng gánh
chịu”.
Từ điển bảo hiểm Pháp – Việt, Nhà xuất bản thống kê 1996: “Bảo hiểm
(Assurance) là một nghiệp vụ mà theo đó, một bên là người được bảo hiểm chấp
nhận trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm hay khoản đóng góp cho chính mình,
hay cho một người thứ ba khác để trong trường hợp rủi ro xảy ra sẽ được trả một
khoản bồi thường từ một bên khác là người thứ ba, người chịu trách nhiệm toàn
bộ rủi ro, đền bù những thiệt hại theo luật số lớn”.

GVHD: Nguyễn Ánh Minh

Trang 5

SVTH: Trần Thị Thúy Anh


Bảo hiểm y tế ở Việt Nam – Thực trạng và hướng hoàn thiện

Tập đoàn bảo hiểm AIG của Mỹ định nghĩa: “Bảo hiểm là một cơ chế,
theo cơ chế này, một người, một doanh nghiệp hay một tổ chức chuyển nhượng
rủi ro cho công ty bảo hiểm, công ty đó sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm
những tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hại giữa tất cả
những người được bảo hiểm.
Bảo hiểm là biện pháp chia sẻ rủi ro của một người hay một số ít người
cho cả cộng đồng những người có khả năng gặp rủi ro cùng loại. Bằng cách mỗi
người trong cộng đồng góp một số tiền nhất định vào một quỹ chung và từ quỹ
chung đó bù đắp thiệt hại cho thành viên trong cộng đồng không may bị thiệt hại
do rủi ro đó xảy ra.



Bảo hiểm y tế ở Việt Nam – Thực trạng và hướng hoàn thiện

4. Nguyên tắc bồi thường: Theo nguyên tắc bồi thường, khi có tổn thất xảy
ra, người bảo hiểm phải bồi thường như thế nào đó để đảm bảo cho người được
bảo hiểm có vi trị tái chính như trước khi có tổn thất xảy ra, không hơn không
kém. Các bên không được lợi dụng bảo hiểm để trục lợi.
5. Nguyên tắc thế quyền: Theo nguyên tắc thế quyền, người bảo hiểm sau
khi bồi thường cho người được bảo hiểm, có quyền thay mặt cho người được bảo
hiểm có thể đòi người thứ ba trách nhiệm bồi thường cho mình.
1.1.3 Nguồn gốc của bảo hiểm
Bảo hiểm có nguồn gốc từ rất xa xưa trong lịch sử văn minh nhân loại,
khoảng 4000 năm trước công nguyên người ta đã làm công tác bảo hiểm dù chưa
có ý niệm bảo hiểm là sự chia sẽ rủi ro.
Dấu hiệu đầu tiên là những dấu tích về các kho lúa để dự trữ dùng cho
những trường hợp khẩn cấp. Đến cuối khoản thế kỉ 15 ở châu Âu bắt đầu xuất
hiện những quỹ tiền hỗ trợ lẫn nhau khi có tai nạn hoặc rủi ro xảy ra trong lúc
vận chuyển buôn bán hàng hóa của các đội tàu.
Bản hợp đồng bảo hiểm đầu tiên chính thức được phát hành năm 1347 tại
Geneve (Thụy Sĩ) hoàn toàn do cá nhân thực hiện như một việc làm ăn phụ bên
cạnh các hoạt động kinh doanh khác. Năm 1720 tại Anh, nghiệp đoàn bảo hiểm
đầu tiên được thành lập với tên gọi nổi tiếng Lioyd’s.
Ngành bảo hiểm bắt đầu có ở Việt Nam từ năm 1880 khởi đầu là công ty
của Anh rồi Pháp, Mĩ…. Trước năm 1975 ở miền Nam có hơn 50 công ty bảo
hiểm hoạt động, miền Bắc có công ty bảo hiểm Việt Nam. Đến khi thống nhất đất
nước vẫn chỉ có duy nhất một công ty bảo hiểm (có nhiều chi nhánh trên toàn
quốc).
1.2. Các loại hình bảo hiểm
Bảo hiểm gồm có hai loại hình đó là: Bảo hiểm thương mại và bảo hiểm

Nhìn chung bảo hiểm thương mại có một số đặc điểm như sau:
- Hoạt động bảo hiểm thương mại là một hoạt động thỏa thuận (nên còn
gọi là bảo hiểm tự nguyện).
- Sự tương hỗ trong bảo hiểm thương mại được thực hiện trong một “cộng
đồng có giới hạn” một “nhóm đóng”.
- Bảo hiểm thương mại cung cấp dịch vụ đảm bảo không chỉ cho các rủi
ro bản thân mà còn cho cả rủi ro tài sản và trách nhiệm dân sự.
1.2.2. Bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội thực chất là phương thức phân phối lại thu nhập bằng các
kĩ thuật nghiệp vụ, nhằm góp phần cân bằng lại thu nhập bị mất hoặc bị giảm từ
hoạt động nghề nghiệp bằng khoản trợ cấp từ bảo hiểm xã hội. Nội dung của bảo
hiểm xã hội được biểu hiện bằng các chế độ của bảo hiểm xã hội cụ thể. Khái
niệm dưới đây chủ yếu là về chế độ bảo hiểm xã hội do chính sách Nhà nước đài
thọ, cò gọi là bảo hiểm xã hội phi thương mại, gồm nhiều chế độ trợ cấp nhưng
tùy điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể của mỗi nước lựa chọn và thực hiện chế độ
trợ cấp nhất định, sau đó sẽ mở rộng dần khi tình hình kinh tế - xã hội phát triển.
Khái niệm về bảo hiểm xã hội
“Bảo hiểm xã hội là việc tạo ra nguồn thu nhập thay thế trong trường hợp
nguồn thu nhập bình thường bị gián đoạn đột ngột hoặc mất hẳn, bảo vệ cho
những người lao động làm công ăn lương trong xã hội”. Bên cạnh đó, bảo hiểm
xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động
khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và
1

Nguyễn Tiến Hùng, Phan Hồ Trung Phong – Hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam, NXB Tài
chính năm 2004 – http://www. my.opera.com.vn/74.125.153.132/search?q=cache:JFaAb-bGDoJ:my.opera.com/haidk919/blog/2009/04/18/bao-hiem-thuongmai+BAO+HIEM+THUONG+MAI&cd=3&hl=vi&ct=clnk&gl=vn

GVHD: Nguyễn Ánh Minh

Trang 8

thương, nghĩa điền, và đến thế kỉ 19 đã xuất hiện các hội tương tế để giúp đỡ lẫn
nhau. Ngày nay, bảo hiểm xã hội đã trở thành một chính sách lớn được Hiến
pháp thừa nhận và luật pháp qui định. Ngay từ khi chính thể Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa ra đời, Nhà nước đã có những văn bản qui định về một số chế độ bảo
hiểm xã hội. Tháng 6 – 1993, Chính phủ ban hành Nghị định 43/CP về việc thực
hiện các chế độ bảo hiểm xã hội cho công nhân viên chức và người lao động
trong các thành phần kinh tế, Nghị định 61/CP cho lực lượng vũ trang. Bộ luật
lao động nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1994) nêu rõ: “Nhà nước
qui định chính sách bảo hiểm xã hội nhằm từng bước mở rộng và nâng cao việc
bảo đảm vật chất, góp phần ổn định đời sống cho người lao động và gia đình
trong các trường hợp người lao động ốm đau, thai sản, hết tuổi lao động, chết, bị
tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, mất việc làm, gặp rủi ro hoặc các khó khăn

GVHD: Nguyễn Ánh Minh

Trang 9

SVTH: Trần Thị Thúy Anh


Bảo hiểm y tế ở Việt Nam – Thực trạng và hướng hoàn thiện

khác”. Tháng 1 - 1995, Chính phủ ban hành Điều lệ bảo hiểm xã hội áp dụng
thống nhất đối với công chức, công nhân viên chức và người lao động trong các
thành phần kinh tế. Bảo hiểm xã hội có loại hình bắt buộc hoặc tự nguyện, tùy
theo từng loại đối tượng, từng loại doanh nghiệp. Quỹ bảo hiểm xã hội hình
thành từ các nguồn: Người lao động, người sử dụng lao động, Nhà nước đóng và
hỗ trợ thêm, và các nguồn khác.
1.3. Khái quát chung về bảo hiểm y tế
1.3.1. Lịch sử phát triển của bảo hiểm y tế


GVHD: Nguyễn Ánh Minh

Trang 10

SVTH: Trần Thị Thúy Anh


Bảo hiểm y tế ở Việt Nam – Thực trạng và hướng hoàn thiện

hành kèm theo điều lệ bảo hiểm y tế. Sau một thời gian thực hiện, điều lệ bảo
hiểm y tế ban hành năm 1992 đã bộc lộ nhiều vấn đề. Để khắc phục những vấn
đề đó ngày 13/8/ 1998 Chính phủ đã ban hành điều lệ bảo hiểm y tế kèm theo
Nghị định số 58/1998/NĐ-CP thay thế điều lệ bảo hiểm y tế ban hành kèm theo
Nghị định số 299/HĐBT. Và sau đó là Nghị định số 63/2005/NĐ-CP ngày
16/5/2005 của Chính phủ. Và vào ngày 14/11/2008 Luật Bảo hiểm y tế đã được
Quốc hội thông qua và có hiệu lực kể từ ngày 01/7/20093.
1.3.2. Khái niệm và bản chất của bảo hiểm y tế

Khái niệm về bảo hiểm y tế
Ở các nước công nghiệp phát triển, bảo hiểm y tế là một tổ chức cộng
đồng đoàn kết tương trợ lẫn nhau, giúp đỡ nhau vượt qua khó khăn về tài chính
không may găp rủi ro, đau ốm cần khám, điều trị.
Ở nước ta, “Bảo hiểm y tế là loại bảo hiểm do Nhà nước tổ chức, quản lí
nhằm huy động sự đóng góp của cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội để chăm lo
sức khỏe khám chữa bệnh cho nhân dân”.
Như vậy, bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh
vực chăm sóc sức khỏe nhằm trợ giúp các thành viên tham gia chi phí khám chữa
bệnh khi họ không may mắn gặp phải rủi ro, đau ốm cần phải khám, điều trị. Bảo
hiểm y tế xã hội đề cao tính cộng đồng, không mang tính chất kinh doanh vì lợi

mang tính Nhà nước. Ở đó, Nhà nước giữ vai trò quan trọng, là người tổ chức,
quản lý và bảo trợ.
Thứ hai, thực hiện bảo hiểm y tế nhằm liên kết, chia sẻ rủi ro mang tính
cộng đồng giữa các thành viên trong xã hội: Bên cạnh sự trợ giúp mang tính Nhà
nước, tính xã hội của bảo hiểm y tế còn thể hiện ở sự chia sẻ, liên kết của chính
các thành viên trong xã hội thông qua đóng góp dựa trên thu nhập. Các thành
viên trong xã hội tham gia đóng góp một phần thu nhập vào một quỹ chung để
chăm sóc y tế cho chính mình và các thành viên khác. Bệnh tật và những rủi ro
về sức khỏe không phải khi nào cũng xuất hiện cùng một lúc với tất cả mọi
người, chúng cũng không xuất hiện giống nhau ở mỗi người. Thực tế cho thấy có
người ốm lúc này, người ốm lúc khác, có người bệnh nặng, có người bệnh nhẹ,
có người hay ốm, người ít ốm và bệnh tật thường đến bất ngờ không báo trước.
Nếu cứ để ai có bệnh người đó tự chống đỡ sẽ gây khó khăn cho chính họ vì
không đủ tiền để trang trải. Thực tế này đòi hỏi cần một sự liên kết mang tính
cộng đồng rộng rãi để chia sẻ rủi ro bệnh tật. Một quỹ chung cho chăm sóc sức
khỏe sẽ điều tiết để nhiều người chưa hoặc không ốm chăm sóc cho người ốm,
người ốm nhẹ giúp người ốm nặng4.
Bảo hiểm y tế là một nội dung của chính sách xã hội, hoạt động không vì
lợi nhuận, nhưng lại mang bản chất kinh tế, thuộc phạm trù kinh tế - y tế. Bản
chất kinh tế của bảo hiểm y tế thể hiện ở sự điều tiết, phân phối lại thu nhập giữa
các thành viên tham gia bảo hiểm y tế. Có hai góc độ thể hiện chính đó là sự
phân phối trực tiếp và sự phân phối gián tiếp. Phân phối trực tiếp thể hiện ở sự
chuyển phần thu nhập của người tạm thời khỏe sang người đang ốm, của người
bệnh nhẹ sang người bệnh nặng, của người trẻ khỏe sang người già yếu, thông
qua sự điều hành luân chuyển của chính phần thu nhập đóng trực tiếp cho quỹ
bảo hiểm y tế. Phân phối gián tiếp thể hiện ở sự hỗ trợ giữa người giàu và nghèo,
người thu nhập cao và thu nhập thấp.
1.3.3. Các nguyên tắc của bảo hiểm y tế
 Nguyên tắc đóng theo khả năng, hưởng theo nhu cầu
Đây là nguyên tắc đặc thù của bảo hiểm y tế, thể hiện bản chất xã hội của

thiết nhằm đảm bảo các nhu cầu cho người được hưởng bảo hiểm y tế. Vì vậy,
việc thực hiện hài hòa mối quan hệ ba bên là cơ sở quan trọng để mục đích ý
nghĩa của bảo hiểm y tế được bảo đảm trong thực tế.
 Nguyên tắc tham gia bắt buộc
Bảo hiểm y tế là một bộ phận của an sinh xã hội. Tôn chỉ mục đích của
bảo hiểm y tế là nhằm cung cấp các dịch vụ chăm sóc y tế, không phải hoạt động
thương mại. Bản chất sâu xa đó là một loại thuế sức khỏe. Với tôn chỉ mục đích
đó, bảo hiểm y tế phải được thực hiện mang tính bắt buộc. Nếu không áp dụng
nguyên tắc bắt buộc cho bảo hiểm y tế sẽ dẫn đến một sự lựa chọn ngược, tức là
chỉ người ốm, tình trạng sức khỏe kém mới tham gia bảo hiểm. Khi đó sẽ phá vỡ
sự chia sẻ và trợ giúp mang tính cộng đồng, không đảm bảo được công bằng
trong chăm sóc y tế.
Nguyên tắc tham gia bắt buộc không chỉ giới hạn ở một số đối tượng mà
tiêu chí cần hướng tới là mở rộng độ bao phủ tới toàn bộ nhân dân, thực hiện bảo
hiểm y tế bắt buộc toàn dân. Thực hiện chế độ đóng bảo hiểm y tế bắt buộc có
chức năng hỗ trợ cho loại hình trợ cấp áp dụng đồng đều cho tất cả mọi người.
Còn chế độ tự nguyện mang tính bổ trợ và bước đệm để mở rộng chế độ bắt
buộc, mở rộng diện bao phủ tới toàn thể nhân dân. Tuy nhiên, nguyên tắc tham
gia bắt buộc không phải được áp dụng ngay trong mọi trường hợp mà chỉ áp
dụng cho những trường hợp có đủ điều kiện phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã
hội cụ thể.
 Nguyên tắc chia sẻ rủi ro

GVHD: Nguyễn Ánh Minh

Trang 13

SVTH: Trần Thị Thúy Anh



người nghèo, người có thu nhập thấp, người hay ốm đau, tàn tật. Ý tưởng và
nguyên tắc của bảo hiểm y tế là điều tiết thu nhập, chia sẻ rủi ro giữa người giàu
và người nghèo. Bảo hiểm y tế là hoạt động nhân đạo xã hội.
Các nguyên tắc của bảo hiểm y tế là những quan điểm, tư tưởng mang
tính định hướng cho hoạt động bảo hiểm y tế, đòi hỏi khi xây dựng chính sách,
quy định cũng như triển khai thực hiện bảo hiểm y tế phải tuân thủ, nhằm đảm
bảo thực hiện đúng bản chất của bảo hiểm y tế.

GVHD: Nguyễn Ánh Minh

Trang 14

SVTH: Trần Thị Thúy Anh


Bảo hiểm y tế ở Việt Nam – Thực trạng và hướng hoàn thiện

Vị trí của bảo hiểm xã hội trong hệ chính sách xã hội
Chăm sóc y tế là một nội dung quan trọng của hệ thống an sinh xã hội
mà bất kể là quốc gia đang phát triển hay quốc gia phát triển đều coi trọng. Luật
pháp hầu hết các nước trên thế giới đều có các quy phạm điều chỉnh các chế độ
an sinh xã hội. Bảo hiểm y tế là một giải pháp quan trọng trong việc chăm sóc y
tế, một chế độ quan trọng của hệ thống an sinh xã hội. Bảo hiểm y tế là một trong
chín nội dung được quy định tại Công ước 102 ngày 28/6/1952 của Tổ chức Lao
động Quốc tế (ILO) về các tiêu chuẩn tối thiểu cho các loại trợ cấp bảo hiểm xã
hội. Cùng với các hệ thống cung cấp (hay còn gọi là chế độ ưu đãi xã hội, chế độ
bao cấp) và hệ thống cứu trợ xã hội, hoạt động của bảo hiểm y tế nói riêng và
hoạt động của bảo hiểm xã hội nói chung, đã thực sự trở thành nền móng vững
chắc cho sự bình ổn xã hội. Bảo hiểm xã hội ở nước ta hiện có các chế độ: Trợ
cấp ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, chế độ hưu trí, tử

Bảo hiểm y tế ở Việt Nam – Thực trạng và hướng hoàn thiện

Chúng ta đều biết bệnh tật có thể đến với bất cứ một ai mặc dù điều đó
mọi người không mong muốn. Nếu như một ai đó không may mắc phải những
căn bệnh kinh niên, bệnh mãn tính hoặc bệnh hiểm nghèo, khi đó, các khoản chi
phí khám chữa bệnh sẽ cực kì lớn. Có những bệnh phải được sử dụng các công
nghệ kĩ thuật cao trong việc chẩn đoán và chữa trị bệnh, phải sử dụng các loại
thuốc đắt tiền và phải lưu trú dài ngày tại bệnh viện. Những khoản chi phí này
không phải ai cũng có thể tự lo liệu được. Đối với những người bệnh do hoàn
cảnh nghèo thì phải vay mượn để chữa trị bệnh tật và sau đó trả nợ và có nhiều
người cũng không thể vay mượn để tiếp tục để chữa trị. Những người có điều
kiện kinh tế khá giã hơn hoặc cận nghèo thì sau thì sau những đợt bệnh tật cũng
có thể bị đẩy vào tình cảnh nghèo khó. Đồng thời, với bệnh tật cũng kéo theo sự
mất mát về thu nhập do người bệnh không có sức khỏe để làm việc. Từ đó, sẽ đe
dọa đến cơ sở kinh tế và sự tồn tại trước hết của bản thân những người lao động,
sau đó đến các thành viên, những người ăn theo trong gia đình người bệnh và sau
đó ảnh hưởng đến sự ổn định của xã hội. Do vậy, người ta phải cần đến bảo hiểm
y tế. Bảo hiểm y tế sẽ giúp cho người bệnh vượt khó khăn về bệnh tật, sớm phục
hồi sức khỏe và ổn định đời sống gia đình. Đó chính là sự cần thiết của bảo hiểm
y tế.
1.5. Các loại hình bảo hiểm y tế
1.5.1. Bảo hiểm y tế tự nguyện
Một bộ phận nhân dân thật sự mong muốn tham gia bảo hiểm y tế nhưng
lại gặp khó khăn về kinh tế, nhất là khi yêu cầu tham gia bảo hiểm xã hội đòi hỏi
phải có tính cộng đồng. Mặt khác, để đảm bảo nhu cầu phục vụ người bệnh, mức
đóng bảo hiểm y tế tự nguyện dù khá thấp nhưng cũng không dễ dàng đối với
người dân có mức sống trung bình trở xuống. Bên cạnh đó, một bộ phận nhân
dân có mức sống cao lại chưa muốn tham gia bảo hiểm y tế, họ thích thanh toán
với cơ sở chữa bệnh khi ốm đau vì họ được chọn nơi khám chữa bệnh khi cần
thiết. Chất lượng dịch vụ cung cấp cho người tham gia bảo hiểm y tế, tinh thần

dưới 100.000 đồng cho một đợt khám, chữa bệnh ngoại trú; 80% chi phí khám,
chữa bệnh ngoại trú khi có chi phí khám 100.000 đồng trở lên, phần còn lại do
người bệnh tự thanh toán với cơ sở khám chữa bệnh.
Khám chữ bệnh nội trú: Được thanh toán 80% khám, chữa bệnh nội trú;
phần còn lại do người bệnh tự thanh toán với cơ sở khám chữa bệnh.
Trong trường hợp sử dụng dịch vụ kĩ thuật cao có chi phí lớn (theo danh
mục do Bộ Y tế ban hành sau khi thông nhất với Bộ Tài chính), được cơ quan
bảo hiểm xã hội thanh toán 80% chi phí nhưng không quá 20.000.000 đồng (hai
mươi triệu đồng) cho một lần sử dụng dịch vụ kĩ thuật đó, phần còn lại do người
bệnh tự thanh toán với cơ sở khám chữa bệnh.
Người tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện khi khám chữa bệnh theo yêu cầu
riêng, khám chữa bệnh tại cơ sở y tế không kí hợp đồng khám chữa bệnh bảo
hiểm y tế, khám chữa bệnh ở nước ngoài, được cơ quan bảo hiểm xã hội thanh
toán theo chi phí thực tế theo tỉ lệ qui định.
Đối với học sinh, sinh viên: Khi tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện, ngoài
quyền lợi khám chữa bệnh đã nêu trên còn được hưởng quyền lợi về chăm sóc
sức khỏe ban đầu tại y tế trường học. Trường hợp tử vong được trợ cấp 1.000.000
đồng.
Khi Luật Bảo hiểm y tế có hiệu lực và áp dụng mang tính bắt buộc đối với
một số đối tượng cụ thể, như vậy là sẽ còn một số đối tượng không tham gia vì lộ
trình thực hiện bảo hiểm y tế là đến 2014, và khi đó bảo hiểm y tế mới mang tính
bắt buộc đối với toàn dân. Do đó, đòi hỏi những đối tượng chưa phải là đối tượng

GVHD: Nguyễn Ánh Minh

Trang 17

SVTH: Trần Thị Thúy Anh



1.6. Một số qui định về pháp luật bảo hiểm y tế ở một số nước trên thế giới
1.6.1. Bảo hiểm y tế ở Đài Loan
Từ năm 1995, toàn dân Đài Loan được hưởng chương trình bảo hiểm y tế.
Trẻ nhỏ hưởng chăm sóc y tế hoàn toàn miễn phí tử năm ba tuổi. Việc tham gia
bảo hiểm y tế này là bắt buộc cho mọi người lao động. Khoảng 99% trong 23
triệu người dân có thẻ bảo hiểm y tế, họ được chăm sóc sức khỏe trong bất cứ
bệnh viện công hoặc bệnh viện tư nào tùy ý. Còn với 1% số dân còn lại, ví lý do

GVHD: Nguyễn Ánh Minh

Trang 18

SVTH: Trần Thị Thúy Anh


Bảo hiểm y tế ở Việt Nam – Thực trạng và hướng hoàn thiện

này hay lý do khác không tham gia bảo hiểm, nhưng họ vẫn được hưởng quyền
chăm sóc y tế đầy đủ.
Bảo hiểm y tế toàn lãnh thổ (NHI) được khởi đầu từ năm 1995, là chương
trình hợp nhất 13 chế độ bảo hiểm y tế đã có sẵn và nhắm đến nhiều đối tượng
khác nhau như công nhân viên chức, nông ngư dân, vốn chiếm tới 60% dân số.
Hệ thống bảo hiểm y tế mới cho phép sát nhập tất cả mọi người không hưởng bất
cứ chế độ chăm sóc nào, nhất là người cao tuổi, trẻ em, sinh viên và người thất
nghiệp. Mặc dù bị một số người chỉ trích và có lúc thiếu vốn nhưng sau 12 năm,
chương trình đã thành công vượt bậc.
Ở nhiều nơi trên thế giới, không hiếm trường hợp người tham gia bảo
hiểm không được chọn bác sĩ hoặc nơi điều trị. Nhưng ở Đài Loan thì khác,
người có thẻ bảo hiểm y tế chỉ cần một số tiền nhỏ (vài USD) là được khám bệnh
và cung cấp thuốc men. Đối với việc điều trị bệnh nặng lâu ngày, bệnh nhân cũng

SVTH: Trần Thị Thúy Anh


Bảo hiểm y tế ở Việt Nam – Thực trạng và hướng hoàn thiện

Chính phủ trợ cấp theo đầu người mà không quan tâm đến thu nhập của từng cá
nhân nên nảy sinh các vấn đề về công bằng trong việc trợ cấp của Chính phủ vì
không phải người lao động tự do nào cũng có thu nhập giống nhau, từ đó có
những quan điểm để nghị cân nhắc lại mục đích trợ cấp cho những người lao
động tự do của Chính phủ.
Ưu tiên chính sách mở rộng người tham gia bảo hiểm y tế nên mức phí
thấp và quyền lợi không được mở rộng (tỷ lệ tiền túi mà người có thẻ phải tự trả
cho các dịch vụ y tế cao). Bên cạnh đó còn có mạng lưới an toàn: miễn trừ cho
một số trường hợp cần thanh toán cho bệnh nhân ngoại trú.
Lúc này cơ quan bảo hiểm y tế quốc gia Hàn Quốc đang phải lựa chọn
giữa hai hướng hoặc mở rộng quyền lợi bảo hiểm y tế cho một số lượng người
dân nhất định với mức phí bao hiểm y tế cao hoặc duy trì mức phí thấp để nhiều
người tham gia, quyền lợi không được mở rộng nhưng thống nhất quyền lợi cho
tất cả mọi người6.
1.6.3. Bảo hiểm y tế ở Pháp
Hệ thống an sinh xã hội của Pháp được xây dựng từ những năm 1945 –
1946, ngay sau khi Chiến tranh Thế giới thứ II kết thúc. Mục đích của hệ thống
này là bảo đảm cho người dân trong mọi hoàn cảnh đều có thể có những phương
tiện cần thiết để tồn tại trong những điều kiện chấp nhận được. Hệ thống an sinh
xã hội của Pháp bao gồm các quỹ bảo hiểm y tế (bệnh tật thông thường, bệnh
nghề nghiệp và cả trường hợp tai nạn lao động), quỹ dành cho người già, quỹ
dành cho trợ cấp gia đình và quỹ cho trợ cấp thất nghiệp. Nghĩa là xã hội đặt ra
một mức sống tối thiểu nào đó, nếu khả năng của anh không đạt được mức đó thì
Nhà nước sẽ hỗ trợ để anh có quyền được sống với đúng phẩm giá con người và
không phải quá lo sợ về một tương lai bấp bênh, mờ mịt.

ra trước nữa mà chỉ cần đưa thẻ qua máy đọc, các thông tin cần thiết sẽ được
chuyển giao và chi phí khám chữa bệnh sẽ được thanh toán trực tiếp giữa quỹ và
cơ sở y tế. Các nhà thuốc cũng được trang bị các máy này. Do đó, hiện nay người
dân đi khám bệnh hoặc mua thuốc hầu như không phải trả tiền; ngoại trừ khoản
đóng góp bắt buộc bắt đầu áp dụng từ năm 2005 (sẽ đề cập ở dưới đây). Một số
phòng mạch tư không có máy này thì bệnh nhân phải trả tiền trước rồi gửi giấy tờ
thanh toán sau; một số bác sĩ lấy giá khám bệnh cao hơn mức chi trả quy định thì
bệnh nhân trả phần chênh lệch, hoặc nếu mua bảo hiểm sức khỏe tốt thì có thể
được thanh toán toàn bộ nhưng bác sĩ có nghĩa vụ thông báo trước cho bệnh nhân
về giá khám để họ quyết định có khám hay không. Tất cả mọi người đều có thẻ
khám bệnh, trẻ em lên 16 tuổi thì có thẻ riêng, trước đó đăng ký trên thẻ của cha
mẹ; người nước ngoài có giấy tờ cư trú tại Pháp từ một năm trở lên cũng có
quyền yêu cầu được cấp thẻ này7.
Bảo hiểm y tế luôn là một chính sách quan trọng trong hệ thống an sinh
xã hội với nhiệm vụ chính là chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Bảo hiểm y tế
cũng chính là nơi chia sẻ nguy cơ bệnh tật và giảm bớt gánh nặng tài chính
thông qua sự đóng góp của cộng đồng. Các nước trên thế giới luôn coi trọng bảo
hiểm y tế trong chính sách xã hội ở nước mình và Việt Nam cũng thế. Hiện nay,
mặc dù đất nước còn trong giai đoạn đang phát triển nhưng Đảng và Nhà nước
ta luôn đặt bảo hiểm y tế là một trong những chính sách xã hội cần được ưu tiên
hàng đầu. Tuy nhiên, để bảo hiểm y tế ngày càng phát triển một cách bền vững
và lâu dài thì rất là khó khăn, bởi lẽ bảo hiểm y tế chỉ mới được hình thành ở
Việt Nam chỉ mới gần hai mươi năm trong khi đó bảo hiểm y tế đã được hình
thành cách đây đã hơn một trăm năm. Biết được những khó khăn đó mà Nhà
nước đã ban hành những văn bản qui phạm pháp luật để cũng cố vững chắc hơn
nữa cho bảo hiểm y tế. Mở đầu cho việc làm đó là Nhà nước ban hành Nghị định
7

Đặng Thảo – Tạp chí bảo hiểm xã hội số 7 (155) năm 2008 http://tapchibaohiemxahoi.org.vn/index.asp?action_menu=BaiViet_Detail&BaiViet_ID=1375&MucLuc_
id=666


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status