TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP LUẬT
TÊN ĐỀ TÀI:
BẢO VỆ NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN
THỊ
KHOÁN
Trung tâm
HọcTRƯỜNG
liệu ĐH Cần ThơCHỨNG
@ Tài liệu học
tập và nghiên cứu
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẨN:
SINH VIÊN THỰC HIỆN:
TS. DƯ NGỌC BÍCH
TĂNG KHÁNH THOẠI
MSSV: 5044204
LỚP LUẬT THƯƠNG MẠI K30
(LK 0464A1)
NĂM 2008
BẢO VỆ NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
.........................................................................................................................
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
TS. DƯ NGỌC BÍCH
BẢO VỆ NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
Trang 3
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN
.............................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
Trung
tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
1.2.1 Chủ thể đầu tư và đặc điểm của nhà đầu tư chứng khoán Việt Nam. ... 14
1.2.2 Vai trò của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán.............................. 17
1.3 Sự cần thiết phải bảo vệ nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán. ............... 19
Chương 2 BIỆN PHÁP BẢO VỆ NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN .................................................................................................................. 22
2.1. Biện pháp vĩ mô........................................................................................... 22
2.1.1. Biện pháp kềm chế lạm phát................................................................. 22
Trung tâm
ĐH
Cần
Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên25cứu
2.1.1.Học
Biện liệu
pháp ổn
định
đầu tư......................................................................
2.2. Biện pháp vi mô ........................................................................................... 26
2.2.1. Kiểm soát việc phát hành và chào bán chứng khoán ra công chúng .... 26
2.2.2. Kiểm soát thông tin trên thị trường chứng khoán................................. 29
2.2.3 Kiểm soát đối với những chủ thể tham gia trên thị trường chứng khoán.
........................................................................................................................ 42
2.2.4 Chế tài đối với hành vi vi phạm pháp luật về chứng khoán và thị trường
chứng khoán.................................................................................................... 46
2.3 Thực trạng về vấn đề bảo vệ nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt
Nam và một số đề xuất ....................................................................................... 47
2.3.1 Thực trạng về vấn đề bảo vệ nhà đầu tư chứng khoán trên thị trường
chứng khoán Việt Nam ................................................................................... 47
2.3.2 Một số đề xuất ....................................................................................... 50
KẾT LUẬN............................................................................................................. 53
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................ 55
@ Tài
chứng
khoán
phùliệu
hợp ĐH
với điều
và định
hướngliệu
pháthọc
triển tập
kinh và
tế - nghiên
xã hội củacứu
đất nước. Theo đó pháp luật thị trường chứng khoán nước ta dần hình thành và
đang đi vào cuộc sống. Tuy nhiên, thị trường chứng khoán Việt Nam ngoài những
đặc điểm chung của thị trường chứng khoán thế giới, còn mang những nét riêng do
các điều kiện kinh tế - xã hội đặc thù của Việt Nam quy định. Hơn nữa, do hình
thành sau các thị trường chứng khoán khác và còn khá non trẻ nên việc nghiên cứu
làm sáng tỏ bản chất, cơ cấu của thị trường chứng khoán Việt Nam để dựa trên cơ
sở đó thể chế hoá kịp thời và đầy đủ những yêu cầu đặt ra của thị trường chứng
khoán có ý nghĩa rất quan trọng. Pháp luật chứng khoán, thị trường chứng khoán
bao hàm những nguyên tắc pháp lý cơ bản và hệ thống pháp luật thực định điều
chỉnh hoạt động thị trường chứng khoán, nhằm mục đích bảo đảm sự vận hành và
phát triển bền vững của toàn bộ thị trường cũng như cho từng chủ thể trên thị
trường.
Trên thị trường nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng, vai trò của
nhà đầu tư là rất quan trọng, họ thật sự là nhân tố có ý nghĩa quyết định đến sự tồn
tại và phát triển bền vững của thị trường. Tuy nhiên, ngoài những đặc điểm chung
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
về chứng khoán và thị trường chứng khoán Việt Nam, một thị trường còn non trẻ,
đang trong quá trình hoàn thiện, lớn mạnh và hội nhập.
2. Mục tiêu đề tài.
Đề tài “Bảo vệ nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán” nhằm vào mục tiêu
góp phần xây dựng cơ sở lý luận chung về pháp luật chứng khoán nói chung và
pháp luật về đầu tư chứng khoán nói riêng, góp phần tích cực trong việc bảo vệ
nhà đầu tư, góp phần giữ vững sự ổn định của thị trường, thông qua đó, tạo lực hút
thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân, làm cho thị trường chứng khoán trở
thành một kênh huy động vốn trung và dài hạn hiệu quả, và lành mạnh.
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
TS. DƯ NGỌC BÍCH
BẢO VỆ NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
Trang 7
3. Phương pháp thực hiện.
Để thực hiện đề tài này, tác giả sử dụng các phương pháp:
Phân tích lịch sử.
Phương pháp này được dùng để so sánh, đối chiếu các chế định luật có liên
quan và giải thích được nguyên nhân tồn trại của những chế định luật đó cũng như
sự mất đi của chính những chế định này.
Phương pháp phân tích luật viết.
Phương pháp này được tác giả sử dụng nhằm mục đích đi sâu vào từng chế
định luật, tìm hiểu nội dung cũng như tính hữu hiệu của từng điều luật cụ thể.
luật Việt Nam.
3. Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện.
Do thị trường chứng khoán là một phạm trù kinh tế rất rộng và còn quá mới
ở Việt Nam, hơn nữa, khi nghiên cứu về thị trường chứng khoán đòi hỏi phải có
một lượng kiến thức khá lớn về kinh tế học, liên quan đến phạm trù kinh tế - kỹ
thuật, do đó, tác giả giới hạn phạm vi nghiên cứu của mình trong phạm trù mang
tính pháp lý chứ không đi sâu phân tích về kỹ thuật đầu tư mang tính khoa học
kinh tế.
Tác giả chân thành cảm ơn Tiến sĩ Dư Ngọc Bích đã tận tình hướng dẫn để
tác giả hoàn thành luận văn này.
Do kiến thức và vốn hiểu biết về thị trường chứng khoán của tác giả còn hạn
chế nên sẽ có những thiếu xót, kính mong quý thầy cô thông cảm và đóng góp ý
kiến.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ TàiSINH
liệu VIÊN
học THỰC
tập vàHIỆN
nghiên cứu
TĂNG KHÁNH THOẠI
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
TS. DƯ NGỌC BÍCH
BẢO VỆ NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
Trang 9
1
Nguyễn Kim Thán, Hồ Hải Thuỵ, Nguyễn Đức Dương, (2005), Từ Điển Tiếng Việt, NXB Văn Hoá Sài
Gòn, Trang 1374
2
Invest: put money for profit into something, Oxfort English Dictionary, NXB Thanh niên, năm trang
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
TS. DƯ NGỌC BÍCH
BẢO VỆ NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
Trang 10
tạo ra nhu cầu giả tạo, làm cho giá giao dịch các loại chứng khoán tăng hay giảm
một cách đột biến nhằm lũng đoạn thị trường, cần phải bị nghiêm cấm.
1.1.2 Đặc điểm của đầu tư chứng khoán.
Chứng khoán là một loại hàng hoá đặc biệt, do đó, đầu tư chứng khoán cũng
có những đặc điểm riêng đặc thù.
1.1.2.1 Tính vô hình.
Chứng khoán – công cụ chủ yếu trên thị trường chứng khoán, là một loại tài
sản vô hình. Chứng khoán chỉ là một loại “bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích
hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát
hành”(3). Hình thức thể hiện của chứng khoán có thể là “chứng chỉ, bút toán ghi sổ
hoặc dữ liệu điện tử”(4).
Về bản chất, có thể nói rằng, cũng giống như tiền tệ, chứng khoán chỉ là một
loại giấy tờ có giá, giá trị của chứng khoán không phụ thuộc vào hình thức biểu
Là một thị trường nhạy cảm, thị trường chứng khoán chứa đựng rất nhiều
rủi ro, do dó, không phải lúc nào nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán cũng đạt
3
4
Luật chứng khoán 2006, khoản 1 điều 6.
Khoản 1 điều 6 luật chứng khoán 2006.
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
TS. DƯ NGỌC BÍCH
BẢO VỆ NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
Trang 11
được mục đích thu lợi như đã đề ra khi tham gia đầu tư, thậm chí, có khả năng sẽ
bị mất tất cả khi thị trường xảy ra sự cố. Nói tóm lại, tính rủi ro không thể tách rời
thị trường chứng khoán. Rủi ro đầu tư chứng khoán bao gồm hai loại chính là rủi
ro vĩ mô và rủi ro vi mô.
Rủi ro vĩ mô.
Loại rủi ro này liên quan đến toàn bộ quá trình vận hành của thị trường
chứng khoán. Thông thường, nó biểu hiện thành sự biến động ở một lĩnh vực nào
đó. Nguyên nhân của loại rủi ro này có nguồn gốc từ sự thay đổi các nhân tố vĩ mô
làm ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường. Điển hình của loại rủi ro vĩ mô là rủi ro về
lạm phát.
Khi tham gia đầu tư vào một hạng mục, nhà đầu tư có thể đạt được một lợi
ích nhất định, bao gồm lợi ích danh nghĩa và lợi ích thực tế. Trong hai loại lợi ích
Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của tổ chức phát hành không tốt,
(thậm chí phá sản) thì khi đó chứng khoán của nhà đầu tư có thể không thanh toán
được. Mặc dù vậy, nhà đầu tư có thể dự đoán được và có khả năng tránh được rủi
ro này. Tuy nhiên, là một thị trường nhạy cảm, giá cả các loại chứng khoán phụ
thuộc rất nhiều vào yếu tố thông tin trên thị trường. Một dự án được phê duyệt,
một hợp đồng lớn được ký kết, một quyết định mua, bán một hạng mục…. có thể
nâng giá chứng khoán trên thị trường và ngược lại. Loại thiệt hại do yếu tố thông
tin mang lại này nhà đầu tư khó có khả năng dự đoán và phòng tránh. Nhưng nhà
đầu tư sẽ ít thiệt hại hơn nếu họ nắm vững kiến thức thị trường và có kế hoạch đầu
tư đúng đắn cũng như tuân theo những nguyên tắc đầu tư cơ bản trên thị trường
chứng khoán. Yếu tố thông tin cũng chính là yếu tố ảnh hưởng quyết định nhất đến
quyết định đầu tư của nhà đầu tư. Nếu tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của
tổ chức phát hành tốt thì yếu tố thông tin là không đáng ngại đối với những nhà
đầu tư am hiểu thị trường, nhưng sẽ là yếu tố gây tổn thất lớn cho những nhà đầu
tư không am hiểu lĩnh vực này.
1.1.2.3 Tính sinh lợi.
Trung tâm
Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Cũng như những loại hàng hoá thông thường khác, các loại chứng khoán tồn
tại và lưu thông trên thị trường của mình- thị trường chứng khoán. Chứng khoán
bao gồm nhiều loại khác nhau, lợi ích khi nhà đầu tư đầu tư vào các loại chứng
khoán khác nhau là không giống nhau, bên cạnh lợi nhuận chung là khoản chênh
lệch giữa giá mua và giá bán, mỗi loại chứng khoán sẽ mang đến những lợi ích đặc
thù của nó.
Đối với các loại chứng khoán vốn, điển hình là các loại cổ phần, cổ phiếu,
các loại chứng chỉ quỹ đầu tư…., khi bỏ vốn vào loại chứng khoán này, nhà đầu tư
sẽ trở thành người góp vốn cho tổ chức phát hành. Nói cách khác, khi sở hữu loại
chứng khoán vốn, nhà đầu tư trở thành người chủ sở hữu của doanh nghiệp. Lợi
nhuận của chứng khoán vốn mang đến cho nhà đầu tư bao gồm lợi tức cổ phần, lợi
nhuận do sự gia tăng giá trị của cổ phiếu khi nhà đầu tư mua ở thị trường sơ cấp và
quyền)
nhà Thơ
đầu tư @
bỏ vốn
sẽ thutập
đượcvà
những
lợi íchcứu
Trung
Họcloại
liệu
ĐHmà
Cần
Tàivào,
liệuhọhọc
nghiên
tương ứng.
Khi nói đến đầu tư chứng khoán, bên cạnh tính rủi ro, người ta không thể
phủ nhận tính sinh lợi. Chính vì tính sinh lợi đã thúc đẩy nhà đầu tư bất chấp rủi ro
để bỏ vốn vào chứng khoán.
Khi bỏ vố đầu tư, nhà đầu tư luôn hướng đến tính sinh lợi và tìm mọi cách
giảm thiểu rủi ro. Tuy nhiên, tính sinh lợi và tính rủi ro của một loại chứng khoán
luôn tỉ lệ thuận với nhau: Một chứng khoán càng có nhiều rủi ro thì lợi nhuận càng
cao và ngược lại.
Tính sinh lợi của hoạt động đầu tư chứng khoán giúp cho thị trường thu hút
được nhà đầu tư; thúc đẩy việc góp vốn trực tiếp từ công chúng; là thuộc tính quan
trọng và quyết định đến hiệu quả hoạt động của thị trường chứng khoán.
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
Nhà đầu tư cá nhân chính là công chúng. Công chúng là chủ thể có khả năng
cung ứng một khối lượng tiền tệ rất lớn. Từ nguồn thu nhập thường xuyên của
mình, công chúng cần phải dành lại một phần dưới dạng tích luỹ nhằm đề phòng
những rủi ro có thể xảy đến, để mua sắm hay để tiêu dùng…trong tương lai, tạo
thành một nguồn vốn nhàn rỗi quan trọng. Cùng với sự gia tăng GDP ở mỗi quốc
gia, nguồn vốn do loại chủ thể này cung cấp ngày càng trở nên quan trọng và gia
tăng. Dân chúng khi có vốn nhàn rỗi tạm thời họ sẽ tham gia đầu tư mua chứng
khoán với mục đích kiếm lời, khi có nhu cầu vốn, họ đem bán lại các loại chứng
khoán đã mua trên thị trường thứ cấp.
5
Khoản 10 điều 6 Luật Chứng khoán 2006
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
TS. DƯ NGỌC BÍCH
BẢO VỆ NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
Trang 15
Đối với nhà đầu tư chứng khoán là tổ chức, họ là những nhà đầu tư chuyên
nghiệp. Theo pháp luật Việt Nam, nhà đầu tư là tổ chức có thể là “ Ngân hàng
thương mại, Công ty tài chính, Công ty cho thuê tài chính, Tổ chức kinh doanh
Bảo hiểm, Tổ chức kinh doanh chứng khoán”(6).
Đối với nhà đầu tư là tổ chức, pháp luật quy định cho họ có những nghiệp
vụ được phép đầu tư, đối tượng được phép đầu tư cũng như phương thức đầu tư
trên cơ sở vốn pháp định và phạm vi hoạt động kinh doanh ( Phạm vi đăng ký kinh
doanh).
Khoản 11 điều 6 Luật Chứng khoán 2006
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
TS. DƯ NGỌC BÍCH
BẢO VỆ NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
Trang 16
không có quá trình thể nghiệm việc đầu tư trên thị trường chứng khoán, những
công trình nghiên cứu về thị trường chứng khoán cũng chỉ mới dừng lại ở mức lý
luận và thực tiển thị trường chứng khoán ở nước ngoài hay những công trình
nghiên cứu phục vụ nhu cầu chớp nhoáng của nhà đầu tư với mục đích tìm hiểu
quy trình chơi chứng khoán mà thôi. Do đó, nhà đầu tư không đủ sức đối phó với
những biến động của thị trường, không có một kế hoạch đầu tư khoa học và cũng
không tuân theo những nguyên tắc an toàn vốn, cũng như không biết cách phân tán
rủi ro trong đầu tư chứng khoán.
Chịu sự tác động mạnh mẽ của yếu tố tâm lý
Vốn ít, đầu tư nhỏ lẽ, thiếu kinh nghiệm thực tiễn, không có sự hổ trợ từ
phía các chuyên gia có kinh nghiệm đã trở thành một trong các đặc điểm lớn nhất
của nhà đầu tư chứng khoán Việt Nam. Từ đặc điểm này, như một hệ quả, phát
sinh đặc điểm thứ hai của nhà đầu tư chứng khoán Việt Nam: chịu sự tác động
mạnh mẽ của yếu tố tâm lý mà các chuyên gia gọi là “Hiệu ứng tâm lý bầy đàn”
hay “tâm lý đám đông”(7).
Trung tâm
Học
Vũ Hưng, “Cổ phiếu dầu khí đang sốt giá”, Pháp luật số ra ngày 12/11/1007
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
TS. DƯ NGỌC BÍCH
BẢO VỆ NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
Trang 17
đó đặt ra mục tiêu đầu tư. Nếu nhà đầu tư có vốn ít, phải dành dụm trong một thời
gian dài mới có thể tích luỹ được số vốn tương ứng thì nên chọn giải pháp an toàn
vốn, đầu tư vào những ngành, lĩnh vực đã ổn định, chấp nhận lợi nhuận thấp nhưng
an toàn. Ngược lại, nhà đầu tư có vốn nhiều, có thể chọn giải pháp đầu tư phân tán
rủi ro, có thể chia vốn ra, mạo hiểm bỏ một phần vốn vào một hạng mục đầu tư
nhằm mục đích thặng dư vốn nhưng mức độ an toàn thấp, phần vốn còn lại nên
đầu tư vào những loại chứng khoán có độ an toàn cao nhưng lợi nhuận thấp hơn.
Do không có kinh nghiệm, đầu tư cá thể nhỏ lẽ nên nhà đầu tư chứng khoán
Việt Nam chịu sự tác động mạnh mẽ của các chuyên gia chứng khoán. Biểu hiện
rõ nhất của đặc điểm này là vào khoản cuối năm 2007 đầu năm 2008, khi thị
trường chứng khoán Việt Nam liên tục giảm giá, khi đó, các chuyên gia chứng
khoán trấn an các nhà đầu tư rằng đó là thời điểm thích hợp để mua vào. Rồi thị
trường lại tiếp tục đi xuống, họ vẫn khuyên nhà đầu tư nên mua vào. Vậy mà rất
động nhà đầu tư đã làm theo và hệ quả là nợ ngân hàng quá hạn không trả được, nợ
vay nóng cũng không có khả năng thanh toán, mang chứng khoán đi cầm cũng
không nơi nào nhận do tính thanh khoản của chứng khoán khi thị trường đi xuống
Trung
tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
rất thấp.
thông qua ngân hàng, một chỉnh thể tài chính trung gian, giữa người cho vay và
người đi vay phải chịu một khoản phí tổn nhất định thể hiện bằng sự chênh lệch lãi
suất giữa lãi suất cho vay là lãi suất tiền gửi tiết kiệm từ phía công chúng. Do đó,
công chúng không thể thu về giá trị thặng dư khi đầu tư còn doanh nghiệp thì phải
trả lãi cho ngân hàng tương đối cao.
Xuất phát từ những hạn chế của phương thức huy động vốn thông qua ngân
hàng, doanh nghiệp tìm đến kênh huy động vốn trực tiếp từ phía công chúng- nhà
đầu tư, thông qua thị trường chứng khoán.
Suy cho cùng, dù vay trực tiếp từ thị trường chứng khoán hay vay gián tiếp
thông qua ngân hàng thì người thật sự cho vay cũng chính là công chúng. Do đó,
có thể
nóiHọc
công liệu
chúngĐH
là chủ
thể Thơ
quan trọng
cungliệu
cấp vốn
yếuvà
đểnghiên
thị trườngcứu
Trung
tâm
Cần
@ Tài
họcchủ
tập
vốn có thể tồn tại và phát triển, hổ trợ cho các doanh nghiệp và cho chính phủ.
Thông qua thị trường chứng khoán, số tiền nhàn rỗi trong công chúng sẽ được khơi
hình của doanh nghiệp sẽ luôn được đánh giá liên tục, giúp cơ quan nhà nước có
thể đánh giá một cách chính xác hơn về doanh nghiệp nói riêng và toàn bộ nền
kinh tế nói chung.
Nhà đầu tư là yếu tố quyết định sự tồn tại của thị trường, tạo nên tính
thanh khoản cho các loại chứng khoán.
Không có nhà đầu tư thì không có thị trường. Khi không có nhà đầu tư, hàng
hoá sẽ không có người mua và cũng không có người bán. Mà bản chất của một thị
trường là phải có sự giao lưu giữa vốn và hàng hoá. Do đó, nhà đầu tư chính là yếu
tố quyết định, không thể thiếu để đảm bảo sự tồn tại của thị trường.
Một thuộc tính quan trọng của chứng khoán là tính thanh khoản. Tính thanh
Trung
tâm
liệuchứng
ĐHkhoán
CầnlàThơ
@ Tài
liệu
họcchứng
tập và
nghiên
khoản
củaHọc
một loại
khả năng
chuyển
nhượng
khoán
đó sangcứu
Việt Nam cũng ra đời muộn hơn rất nhiều so với các nước, nhà đầu tư Việt Nam
mới chỉ bước đi những bước đầu tiên trong thị trường này. Tuy vậy, vấn đề bảo vệ
nhà đầu tư chứng khoán là vấn đề được quan tâm hàng đầu trong pháp luật chứng
khoán Việt Nam, là một trong những nguyên tắc cơ bản được ghi nhận tại khoản 3
điều 4 Luật Chứng khoán 2006: “Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư”.
Sự cần thiết phải bảo vệ nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam thể hiện
ở các nội dung sau:
Thị trường chứng khoán là một thị trường thuộc thị trường tiền tệ. Thị
trường này có chức năng quan trọng là nơi cung cấp các nguồn vốn trung và dài
hạn cho nền kinh tế, là kênh huy động vốn hiệu quả nhằm thu hút một khối lượng
vốn nhàn rỗi khổng lồ từ công chúng, tạo điều kiện cho mọi thành phần dân cư có
khảtâm
năng Học
đầu tưliệu
sinh ĐH
lợi, thông
đó, @
giúpTài
nền liệu
kinh tế
của tập
đất nước
phát triển,cứu
Trung
Cầnqua
Thơ
học
sâu sắc của Chủ tịch Hiệp hội kinh doanh chứng khoán Hoa Kỳ (NASD) Robert
R.Glauber, “...quyền lợi của nhà đầu tư là quyền được bảo vệ”. “Họ đặt những
đồng tiền khó nhọc tích cóp vào thị trường chứng khoán để mong tìm kiếm lợi
nhuận khi hưu trí, để mong mua được nhà hay có thể nuôi con cái ăn học; vậy thì
họ đáng được tham gia vào một hệ thống công bằng và tin cậy”(10).
Nói tóm lại, bảo vệ nhà đầu tư chính là bảo vệ thị trường, bảo đảm mục tiêu
kinh tế - xã hội của nhà nước, đảm bảo sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế,
bảo đảm tính công bằng xã hội chủ nghĩa, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
10
Phát biểu của Chủ tịch Hiệp hội kinh doanh chứng khoán Hoa Kỳ (NASD) Robert R.Glauber tại hội thảo
“Đào tạo nhà đầu tư và phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam”, do Trung tâm Doanh nghiệp tư nhân
Quốc tế (CIPE) thuộc Phòng Thương mại Hoa Kỳ tổ chức ngày 3/7/2007 (Bản tin tài chính VTV1, ngày 06
tháng 02 năm 2008
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
TS. DƯ NGỌC BÍCH
BẢO VỆ NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
Trang 22
Chương 2
BIỆN PHÁP BẢO VỆ NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN THỊ
nhà đầu tư quan tâm, lại chịu ảnh hưởng trực tiếp của lạm phát. Chỉ số lạm phát
cao đồng nghĩa với việc lợi nhuận thực tế nhà đầu tư thu được càng thấp, thậm chí
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
TS. DƯ NGỌC BÍCH
BẢO VỆ NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
Trang 23
bằng không hay bằng một số âm. Thực tiễn thị trường chứng khoán một số nước
cho thấy, khi chỉ số lạm phát chỉ ở 0,25% thì nhà đầu tư đã bị thiệt hại.
Chính vì vậy, nhà nước luôn luôn tìm cách hữu hiệu nhất nhằm kềm chế lạm
phát. Để làm được điều đó, nhà nước, thông qua ngân hàng trung ương, thực thi
chính sách tiền tệ phù hợp với từng giai đoạn nhất định.
Chính sách tiền tệ là một bộ phận của chính sách kinh tế- tài chính của đất
nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền, kềm chế lạm phát, thúc đẩy phát triển kinh
tế(11). Khi xảy ra lạm phát, nhà nước, thông qua ngân hàng trung ương sẽ thực thi
chính sách tiền tệ thắt chặc nhằm giảm lượng tiền lưu thông, cân bằng khối lượng
hàng hoá và tiền tệ trên thị trường. Lạm phát tăng đồng nghĩa với việc ngân hàng
phải tăng lãi suất huy động, do đó lãi suất cho vay cũng tăng theo. Điều này sẽ gây
khó khăn cho nhà sản xuất vì họ phải gánh chịu phần lãi suất gia tăng của ngân
hàng. Về nguyên lý nó sẽ tác động trực tiếp đến giá cổ phiếu đang niêm yết trên thị
trường bởi khi đó nhà đầu tư phải cân nhắc xem liệu lợi nhuận mà họ thu được từ
chứng khoán có bù đáp nổi sự trượt giá của đồng tiền hay không và có đủ sức trả
lãi cho
hàng
hayĐH
11
Điều 2 Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam 1997 (Sửa đổi bổ sung năm 2003)
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
TS. DƯ NGỌC BÍCH
BẢO VỆ NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
Trang 24
cách hết sức thận trọng, nếu không, mục tiêu kinh tế xã hội đề ra sẽ không đạt
được.
Việc kiểm soát dòng vốn tín dụng là thật sự cần thiết, nó góp phần hạn chế
việc nhà đầu tư quá mạo hiểm, vay ngân hàng một khối lượng tiền tệ quá lớn cho
đầu tư chứng khoán. Nguyên tắc chung nhằm bảo đảm an toàn khi đầu tư chứng
khoán là đầu tư bằng nguồn tiền tiết kiệm nhàn rỗi chứ không phải là vay tiền để
đầu tư. Thực tế cho thấy, việc kiếm soát luồng vốn của ngân hàng chảy sang thị
trường chứng khoán là cần thiết, vì ngay cả một số nước có thị trường chứng
khoán phát triển như Mỹ hay Nhật Bản cũng thực hiện việc này. Hơn nữa, không
chỉ cần kiểm soát dòng vốn tín dụng chảy sang chứng khoán, mà còn cần kiểm
soát cả kênh cho vay bất động sản. Tuy nhiên, mức độ kiểm soát và phương thức
triển khai như thế nào cho phù hợp còn tùy thuộc vào diễn biến cụ thể của từng thị
trường và cần có thời gian để thẩm định. Tại Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước đóng
vai trò là cơ quan thực thi chính sách tiền tệ quốc gia, điều hành chính sách tiền tệ
linh hoạt nhằm ổn định lãi suất và tỷ giá, kiểm soát lạm phát và thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế.
Chỉ thị này đã góp phần kiểm soát được dòng vốn chảy vào thị trường
chứng khoán, hạn chế việc nhà đầu tư mạo hiểm vay tiền để đầu tư chứng khoán
một cách ồ ạc. Tuy nhiên, sau một thời gian thực thi lại gặp một số vấn đề bất cập
như nhà đầu tư đã vay tiền mua chứng khoán vào trước khi chỉ thị này có hiệu lực,
khi chỉ thị này có hiệu lực đã làm cho những nhà đầu tư này không thể bán lại số
chứng khoán mình đang giữ; còn những nhà đầu tư khác thì lại không có vốn và
không thể vay vốn đầu tư chứng khoán nên càng làm cho thị trường đi xuống,
người nắm giữ chứng khoán phải chịu thiệt hại ngày một nặng nề.
Thực tế cho thấy rằng, chỉ thị 03 được đưa ra một cách quá nóng vội với
mục đích hạ nhiệt thị trường chứng khoán Việt Nam vốn nóng lên từng ngày ở tầm
vĩ mô là kiểm soát lạm phát; nhưng vấn đề bảo vệ nhà đầu tư chưa được quan tâm
đến. Do đó, nhà nước nên có những chính sách phù hợp hơn nhằm cũng cố thị
trường, đồng thời, bảo vệ nhà đầu tư trước nguy cơ phá sản.
2.1.1. Biện pháp ổn định đầu tư.
Một chính sách đầu tư ổn định sẽ góp phần tạo tâm lý yên tâm cho nhà đầu
tư, thu
được liệu
nguồnĐH
vốnCần
đầu tưThơ
trong @
và ngoài
nước.học
sự ổntập
địnhvà
củanghiên
một chínhcứu
Trung
tâmhútHọc