ttr
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT TƯ PHÁP
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA: 2008 – 2012
Đề tài:
CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ
THANH TOÁN VÀ PHÂN CHIA DI SẢN
TRONG LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn:
Nguyễn Thị Mỹ Linh
Sinh viên thực hiện:
Phạm Thị Cúc
MSSV: 5085946
Lớp: Luật Thương Mại 2 – K34
Cần Thơ, 5/2012
DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT
NXB: Nhà xuất bản
BLDS: Bộ luật dân sự
BLDS 2005: Bộ luật dân sự nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam năm 2005
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU............................................................................................................ 1
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THANH TOÁN VÀ PHÂN
CHIA DI SẢN ...........................................................................................................3
1.1. Khái quát chung về thanh toán và phân chia di sản .........................................3
1.1.1. Khái niệm thừa kế ..........................................................................................3
1.1.2. Khái niệm di sản ............................................................................................ 4
1.1.3. Khái niệm thanh toán di sản ...........................................................................6
1.1.4. Khái niệm phân chia di sản.............................................................................7
1.1.5. Mối quan hệ giữa thanh toán và phân chia di sản............................................7
1.2. Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển quy định thanh toán và phân chia
di sản ..........................................................................................................................8
1.3. Những nội dung mới trong chế định thanh toán và phân chia di sản của
BLDS 2005 so với BLDS 1995 ................................................................................ 11
1.3.1. Hạn chế phân chia di sản .............................................................................. 11
1.3.2. Phân chia di sản trong trường hợp có người thừa kế mới hoặc có người
thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế ............................................................................. 13
1.4. Ý nghĩa của việc thanh toán và phân chia di sản............................................. 14
3.1.2. Vấn đề phân chia di sản ............................................................................... 48
3.2. Khó khăn và giải pháp hoàn thiện về vấn đề thanh toán và phân chia
di sản ........................................................................................................................ 50
3.2.1. Vấn đề trả thù lao cho người quản lý di sản.................................................. 50
3.2.2. Vấn đề liên quan đến thời hiệu khởi kiện để yêu cầu phân chia di sản.......... 53
3.2.2.1. Hết thời hiệu khởi kiện phân chia di sản ................................................ 53
3.2.2.2. Một phần di sản hết thời hiệu khởi kiện ................................................. 55
3.2.3. Vấn đề di tặng được dùng để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người lập
di chúc ................................................................................................................... 57
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 60
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Đề tài: Chế độ pháp lý về thanh toán và phân chia di sản trong Luật dân sự Việt Nam
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sự tồn tại của con người là một quá trình “Sinh – Lão – Bệnh – Tử”, thế nhưng
không phải ai cũng có thể đi hết cả bốn giai đoạn của một quá trình ấy trong cuộc đời
của mình. Người ta thường nói chết là hết, là đã trả xong món nợ cho một kiếp nhân
sinh. Tuy nhiên đó là cái nhìn từ góc độ tâm linh, khi đến với cuộc sống thực tại, lúc
này một người chết đi, phần nợ tài sản và di sản sẽ được chuyển giao cho những người
thừa kế của họ. Những người này sẽ thay họ giải quyết những món nợ mà họ chưa kịp
thực hiện thì đã chết trong phạm vi di sản để lại. Phần tài sản có còn lại (nếu còn) sẽ
được đem ra phân chia cho những người thừa kế.
Có hai vấn đề mà người viết suy nghĩ, đầu tiên là vấn đề thanh toán di sản. Về lẽ
công bằng thì các chủ nợ ai cũng có quyền được trả nợ như nhau bởi lẽ không ai cho
không ai cái gì cả. Nhưng, giả sử khối di sản do người chết để lại không đủ để thanh
toán cho các chủ nợ, khi này những món nợ nào được xem là quan trọng nhất, theo thứ
tự, sẽ được đem ra thanh toán cho các chủ nợ trong phạm vi di sản của người để lại.
như những vấn đề còn hạn chế của chế độ pháp lý về thanh toán và phân chia di sản
trong Luật dân sự Việt Nam về mặt lý luận. Từ đó đưa ra quan điểm của người viết,
góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho những người thân thuộc của người để lại di
sản, các chủ nợ của tài sản cùng những người có liên quan trong khối di sản của người
để lại. Và hiểu thêm về bản chất, ý nghĩa của việc thanh toán và phân chia di sản để
một lần nữa nhấn mạnh sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với sự ổn định, phát
triển của gia đình tạo nền tảng cho sự phát triển xã hội.
3. Phạm vi nghiên cứu
Thanh toán và phân chia di sản là một trong những lĩnh vực quan trọng được quy
định trong BLDS 2005 nói chung và chế định về thừa kế nói riêng. Đây chính là giai
đoạn chuyển giao tài sản cho những người thừa kế và thanh toán nợ tài sản cho các
chủ nợ. Trong lĩnh vực này tác giả tập trung nghiên cứu ở phương diện pháp lý của
vấn đề thanh toán và phân chia di sản. Được quy định tại Chương XXV, gồm có 07
Điều, từ Điều 681 đến Điều 687 BLDS 2005 cùng một số điều luật và văn bản khác có
liên quan. Người viết dựa trên cơ sở những tài liệu, những văn bản pháp luật được áp
dụng trong cả nước.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, người viết vận dụng phương pháp phân tích luật viết
giữ vai trò chủ đạo để xem xét vấn đề. Các vấn đề pháp lý được xem xét đánh giá nhờ
vào việc sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh với các quy định của các văn bản
trước đó, so sánh đối chiếu giữa lý luận và thực tiễn.
5. Bố cục luận văn
Bên cạnh lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì bố cục của
Luận văn được người viết trình bày trong 3 Chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về thanh toán và phân chia di sản;
Chương 2: Quy định của pháp luật về thanh toán và phân chia di sản;
Chương 3: Thực tiễn áp dụng quy định thanh toán và phân chia di sản và giải pháp
hoàn thiện.
GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh
tiễn có lẽ người ta vẫn trao tài sản đó cho những bà con thân thích nhất, nghĩa là trao
cho những người cùng huyết tộc với mẹ”2. Thừa kế là một hiện tượng khách quan và
gắn liền với lợi ích của người thừa kế. Sự mâu thuẫn về lợi ích của con người nói
chung và mâu thuẫn từ lợi ích của việc thừa kế tài sản của người chết là không thể
tránh khỏi. Vì thế, thừa kế tài sản trong bất cứ chế độ xã hội nào cũng cần điều chỉnh
bởi các quy tắc xử sự chung. Khi nhà nước chưa xuất hiện, thừa kế tài sản được điều
chỉnh bởi phong tục tập quán. Sau ba lần phân công lao động, nhà nước ra đời theo đó
là sự hình thành của hệ thống pháp luật nói chung và quy phạm pháp luật điều chỉnh
về thừa kế nói riêng. Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung do nhà nước ban
1
TS Lê Đình Nghị (chủ biên), Giáo trình Luật dân sự Việt Nam tập 1 năm 2009, NXB giáo dục Việt Nam. Tr
237.
2
Ăng ghen “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và nhà nước” năm 1961, NXB sự thật, Hà nội. Tr79.
GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh
3
SVTH: Phạm Thị Cúc
Đề tài: Chế độ pháp lý về thanh toán và phân chia di sản trong Luật dân sự Việt Nam
hành và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh quan hệ xã hội theo những định hướng nhất
định3. Trong quan hệ pháp luật thừa kế có chủ thể (người để lại di sản, người thừa kế,
người quản lý di sản), khách thể là khối di sản mà người thừa kế được hưởng, nội dung
đó là quyền và nghĩa vụ của những người thừa kế, người quản lý di sản thừa kế. Như
vậy, từ một phạm trù kinh tế mang tính khách quan, khi được điều chỉnh bởi pháp luật
thừa kế trở thành một phạm trù pháp lý mang tính chủ quan và có sự thay đổi theo
5
Điều 23 Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch còn sống sau khi sinh tức
là sống 24 giờ trở lên.
6
Xem Điều 51, 58 Hiến pháp năm 1992, sửa đổi bổ sung năm 2001.
4
GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh
4
SVTH: Phạm Thị Cúc
Đề tài: Chế độ pháp lý về thanh toán và phân chia di sản trong Luật dân sự Việt Nam
với mong muốn là khi họ chết đi thì những người còn sống sẽ có cuộc sống tốt hơn, nó
sẽ là nguồn vốn để tạo dựng và phát triển cho cuộc sống sau này. Hơn nữa, đó cũng là
niềm tự hào của người đã khuất bởi cả cuộc đời lao động, phấn đấu nhằm đem lại cuộc
sống sung túc cho bản thân, gia đình và còn tự hào hơn nữa khi để lại di sản cho đời
sau. Phần tài sản đó được pháp luật gọi là di sản thừa kế. Vậy di sản thừa kế là tài sản
của người chết để lại cho người còn sống. Theo quy định tại Điều 634 BLDS 2005 “Di
sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản
chung của người khác”.
Như vậy di sản thừa kế là toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người
đã chết, quyền về tài sản của người đó. Quyền sở hữu tài sản là một trong những
quyền cơ bản của công dân được Nhà nước bảo hộ. “Công dân có quyền sở hữu về thu
nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong
doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế… Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp
pháp và quyền thừa kế của công dân”. (Điều 58 Hiến pháp 1992).
Di sản thừa kế bao gồm:
Đó là các quyền dân sự được phát sinh từ các quan hệ hợp đồng hoặc do việc bồi
thường thiệt hại mà trước khi chết họ đã tham gia vào những quan hệ này (như quyền
đòi nợ, đòi lại tài sản cho thuê, hoặc cho mượn, chuộc lại tài sản đã thế chấp, cầm cố,
yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng…).
Ngoài những quyền tài sản nói trên, quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp
cũng được xem là di sản. Chủ sở hữu quyền tác giả để lại thừa kế quyền tài sản như
quyền hưởng nhuận bút và các lợi ích vật chất khác. Đối với quyền sở hữu công
nghiệp – một loại tài sản có tính chất đặc thù, nên những quy định về thừa kế đối với
quyền sở hữu công nghệp cũng có những nét riêng. Theo quy định của Luật Sở hữu
Trí tuệ, quyền sở hữu các đối tượng sở hữu công nghiệp được cấp văn bằng bảo hộ có
hiệu lực.
Việc quy định về quyền tài sản do người chết để lại là di sản thừa kế, góp phần
bảo vệ những quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tăng cường tinh thần trách
nhiệm của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự. Tuy nhiên, các
quyền về tài sản gắn liền với nhân thân của người chết không là di sản thừa kế.
Bên cạnh những quyền tài sản nói trên thì đất đai cũng là di sản. Đất đai thuộc
quyền sở hữu của toàn dân, Nhà nước là người quản lý toàn bộ đất đai và giao cho tổ
chức, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài. Để tạo điều kiện cho các cá nhân, tổ chức đầu
tư công sức vào sản xuất, Nhà nước cho phép cá nhân có năm quyền, trong đó có
quyền để lại thừa kế quyền sử dụng đất.
Di sản và thừa kế là hai khái niệm không thể tách rời – Trong luật học Việt Nam
hiện đại, di sản là những tài sản do người chết để lại còn thừa kế là việc chuyển dịch
tài sản của một người sau khi người đó chết. Vì vậy thừa kế là một trong những
phương thức xác lập quyền sở hữu tài sản. Phương thức ấy được đặc trưng bằng các
mối liên hệ giữa người để lại di sản và người hưởng di sản.
1.1.3. Khái niệm thanh toán di sản
Thanh toán di sản là việc những người có quyền hưởng di sản thừa kế phải thực
hiện các nghĩa vụ về tài sản cũng như các khoản chi phí liên quan đến thừa kế trong
phạm vi di sản của mình được hưởng theo thứ tự do pháp luật quy định7.
1.1.5. Mối quan hệ giữa thanh toán và phân chia di sản
Thanh toán di sản và phân chia di sản thoạt nhìn cứ nghĩ nó là hai phần riêng biệt
nhưng thực chất nó là 2 mản trong cùng một vấn đề, chúng có mối quan hệ tương hỗ
lẫn nhau. Một di sản có thể tiến hành phân chia trước hoặc thanh toán trước tùy thuộc
vào từng trường hợp nhất định.
Trường hợp 1, di sản được đem ra thanh toán trước thì phần di sản còn lại nếu
còn sẽ được đem ra phân chia cho những người thừa kế. Khi này những người thừa kế
sẽ được hưởng phần di sản sau thanh toán theo di chúc hoặc theo pháp luật. Ngược lại
trong quá trình thanh toán di sản có thể tài sản của người chết không đủ để thanh toán
thì những người thừa kế không được hưởng phần di sản do người chết để lại.
Trường hợp 2, nếu di sản được đem ra phân chia trước thì đến khi thanh toán di
sản những người thừa kế sẽ chịu phần theo một tỷ lệ di sản mà người thừa kế được
nhận.
GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh
7
SVTH: Phạm Thị Cúc
Đề tài: Chế độ pháp lý về thanh toán và phân chia di sản trong Luật dân sự Việt Nam
1.2. Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển quy định thanh toán và phân chia di
sản
Mở đầu, tác giả sẽ trình bày sơ lược về lược sử hình thành và phát triển của chế
định thừa kế từ chế độ phong kiến cho đến BLDS 2005. Sau đó, tác giả sẽ đề cập đến
ba văn bản chính có liên quan đến thanh toán và phân chia di sản: Pháp lệnh thừa kế
1990, Bộ luật dân sự năm 1995 và Bộ luật dân năm 2005. Đây là ba văn bản quy định
rõ nhất về vấn đề thanh toán và phân chia di sản trong chế định thừa kế nói riêng và
trong BLDS nói chung.
SVTH: Phạm Thị Cúc
Đề tài: Chế độ pháp lý về thanh toán và phân chia di sản trong Luật dân sự Việt Nam
để đáp ứng yêu cầu của công tác xét xử trong phạm vi chức năng do luật tổ chức Tòa
án quy định. Tòa án nhân dân tối cao ra nhiều thông tư hướng dẫn.
Từ năm 1980 đến nay, ở giai đoạn này có Hiến pháp năm 1980 ghi nhận “Pháp
luật bảo hộ quyền thừa kế của công dân” (Điều 27). Để phục vụ cho công tác xét xử
các tranh chấp về thừa kế, đồng thời bổ sung một số điểm cho phù hợp với Hiến pháp
mới, qua tổng kết rút kinh nghiệm công tác xét xử, Tòa án nhân dân tối cao đã ban
hành Thông tư 81 ngày 24/7/1981 hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về thừa kế (Di
sản thừa kế, thừa kế theo di chúc, thừa kế theo pháp luật, phân chia di sản thừa kế…).
Thông tư số 81 đã là một văn bản tương đối hoàn chỉnh về các quy phạm liên quan đến
quyền thừa kế. Tiếp đó, Luật hôn nhân và gia đình ban hành năm 1986 đã quy định
một số điều liên quan đến quyền thừa kế của vợ chồng.
Ngày 30/8/1980 Hội đồng nhà nước Cộng hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã
thông qua Pháp lệnh thừa kế. Qua hơn 5 năm thực hiện Pháp lệnh thừa kế và thực tiễn
xét xử cho thấy Pháp lệnh này đã đi vào cuộc sống, về cơ bản vẫn phù hợp với thực
trạng các quan hệ thừa kế hiện nay, bảo đảm được quyền thừa kế của công dân và
được các tầng lớp nhân dân đồng tình, chấp nhận. Vì vậy, chế định thừa kế trong Bộ
luật dân sự năm 1995 đã thừa kế hầu hết các quy định của Pháp lệnh. Ngoài ra còn bổ
sung một số vấn đề mới trong lĩnh vực thừa kế, đặc biệt là việc thừa kế quyền sử dụng
đất của cá nhân và thành viên hộ gia đình.
Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khác nhau mà đặc biệt là do sự thay đổi và phát
triển về kinh tế và xã hội. Nhiều phát sinh lớn mà luật chưa kịp thời điều chỉnh gây
khó khăn người dân và cả những người đại diện cho cơ quan có thẩm quyền để thi
hành pháp luật. Vì vậy ngày 14/6/2005 tại kỳ hợp thứ 7 Quốc hội khóa XI, đã thông
qua Bộ luật Dân sự. Bộ luật này sẽ có hiệu lực từ ngày 1-1-2006 thay thế BLDS 1995
bên cạnh việc thừa kế các quy định của BLDS 1995 thì BLDS 2005 đã có những sửa
Sau 10 năm áp dụng BLDS 1995 về vấn đề thanh toán và phân chia di sản với
những bổ sung thay thế Pháp lệnh thừa kế 1990 cho thấy BLDS 1995 đã từng bước đi
vào cuộc sống của người dân. Chế định đã điều chỉnh được hầu hết các vấn đề phát
sinh trong xã hội lúc bấy giờ, đem lại lòng tin từ phía người dân đối với hệ thống pháp
luật của nước ta, khắc phục được tình trạng không có luật điều chỉnh những vướng
mắc mà Pháp lệnh thừa kế 1990 gặp phải. Tuy nhiên, BLDS 1995 vẫn chưa điều chỉnh
được những vấn đề phát sinh mang tính cấp thiết trong xã hội hiện nay, có những tình
huống mà BLDS 1995 vẫn chưa dự liệu được. Bởi lẽ xã hội luôn phát triển nhưng
những quy định của pháp luật vẫn đứng im một chổ nên cần thiết sửa đổi bổ sung cho
phù hợp với sự phát triển của xã hội, để giải quyết những vấn đề phát sinh mà hiện
BLDS 1995 chưa có điều khoản điều chỉnh, chính vì lí do này BLDS 2005 ra đời.
Không thể nói là hoàn thiện nhưng với BLDS năm 2005 đã giải quyết được những vấn
đề phát sinh mà BLDS 1995 chưa điều chỉnh được. Theo đó Phần thứ tư BLDS 2005
về cơ bản vẫn giữ nguyên như quy định BLDS 1995. Tuy nhiên, trong BLDS năm
2005 tại Chương XXV quy định thanh toán và phân chia di sản thừa kế gồm 07 điều
(từ Điều 681 đến Điều 687). Nhiều hơn BLDS 1995 01 điều, quy định về phân chia di
sản trong trường hợp có người thừa kế mới hoặc có người bị bác bỏ quyền thừa kế.
Bên cạnh đó còn có một số thay đổi nhỏ để khắc phục những vướng mắc chưa phù hợp
với thực tế trong quá trình giải quyết về thanh toán và phân chia di sản trong thời gian
qua.
8
Xem Pháp lệnh thừa kế 1990
GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh
10
SVTH: Phạm Thị Cúc
cả những người thừa kế, di sản chỉ được phân chia sau một thời hạn nhất định, thì chỉ
khi đã hết thời hạn đó di sản mới được đem chia”.
Để giải quyết những trường hợp mà thực tế thường xảy ra đồng thời để phù hợp
với Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 (Điều 31)10 và Nghị quyết 02/2000/NQHĐTP, ngày 23.12.2000 của Hội đồng thẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao có hướng
9
TS. Đinh Trung Tụng (chủ biên), Bình luận những nội dung mới của Bộ Luật dân sự năm 2005, NXB Tư pháp,
Hà nội – 2005. Tr 234.
10
Xem Điều 31 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh
11
SVTH: Phạm Thị Cúc
Đề tài: Chế độ pháp lý về thanh toán và phân chia di sản trong Luật dân sự Việt Nam
dẫn "thời gian nhất định" nói trên là 3 năm11. Bộ luật dân sự đã bổ sung nội dung hạn
chế phân chia di sản có ảnh hưởng nghiêm trọng tới đời sống của người còn lại… vào
đoạn 2 Điều 686 là:
“Trong trường hợp yêu cầu chia di sản thừa kế mà việc chia ảnh hưởng nghiêm
trọng đến đời sống của bên vợ hoặc bên chồng còn sống có quyền yêu cầu Tòa án xác
định phần di sản mà những người thừa kế được hưởng nhưng chưa cho chia di sản
trong thời hạn nhất định nhưng không quá 3 năm kể từ thời điểm mở thừa kế; nếu hết
thời hạn do Tòa án xác định hoặc bên còn sống đã kết hôn với người khác thì những
người thừa kế khác có quyền yêu cầu Tòa án cho chia di sản thừa kế”.
Điều luật này đặt ra nhằm bảo vệ ý chí và quyền lợi của người lập di chúc cùng
những người thừa kế. Bởi lẽ, trước khi chết người lập di chúc có thể đã dự liệu được
12
SVTH: Phạm Thị Cúc
Đề tài: Chế độ pháp lý về thanh toán và phân chia di sản trong Luật dân sự Việt Nam
trong chế định này thể hiện ý chí của nhà nước để bảo vệ quyền lợi cho người được
hưởng di sản.
1.3.2. Phân chia di sản trong trường hợp có người thừa kế mới hoặc có người
thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế
Xung quanh vấn đề này cũng có rất nhiều ý kiến cho rằng như vậy là không công
bằng cho người thừa kế mới, cần phải chia lại bằng hiện vật nếu không ít nhất cũng
phải bằng tiền tại thời điểm thanh toán… BLDS 2005 quy định chỉ thanh toán bằng
tiền tại thời điểm chia di sản thừa kế. Theo người viết, quy định của pháp luật về vấn
đề phân chia di sản trong trường hợp có người thừa kế mới hoặc có người thừa kế bị
bác bỏ quyền thừa kế chỉ được thanh toán bằng tiền là hợp lý vì những vụ việc kiện
đòi thừa kế xảy ra đến hàng chục năm mà những người thừa kế vẫn yêu cầu chia đi
chia lại nhiều lần, trong khi khối di sản không chỉ đã bị biến đổi qua nhiều năm tháng
(được tôn tạo, sữa chữa) hoặc vì phá vỡ xây dựng mới, mà còn được mua đi bán lại
nhiều lần. Quy định mới này đã giải quyết bằng cách không chia bằng hiện vật, mà
thanh toán lại bằng tiền tại thời điểm chia thừa kế cho những trường hợp có người thừa
kế mới hoặc có người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế. Đây là giải pháp tối ưu, không
chỉ bảo vệ quyền lợi cho người thừa kế mà còn tôn trọng tính ổn định trong giao dịch
dân sự.
Phân chia di sản trong trường hợp có người thừa kế mới hoặc có người thừa kế bị
bác bỏ quyền thừa kế được quy định tại Điều 687 BLDS 2005 là:
“1. Trong trường hợp đã phân chia di sản mà xuất hiện người thừa kế mới thì
không thực hiện việc phân chia lại di sản bằng hiện vật, nhưng những người thừa kế
đã nhận di sản phải thanh toán cho người thừa kế mới một khoản tiền tương ứng với
chủ thể: cá nhân, tổ chức và kể cả Nhà nước. Thanh toán phần tài sản của người chết
để lại là mối quan tâm của những người có liên quan bởi lẽ khi một người chết đi có
thể họ vẫn còn nhiều nghĩa vụ chưa kịp thực hiện hoặc sau khi họ chết lại phát sinh
thêm một vài nghĩa vụ mới. Để thực hiện các phần nghĩa vụ ấy thì những người còn
sống sẽ đem phần tài sản mà người chết để lại tiến hành thanh toán các nghĩa vụ ấy
cho những người có quyền. Trong quá trình thực hiện nghĩa vụ khó có thể tránh khỏi
xung đột về quyền lợi giữa các bên nếu phần tài sản không đủ để thanh toán, bởi có thể
cùng một lúc phải thực hiện nhiều nghĩa vụ khác nhau. Khi này pháp luật với vai trò
bảo vệ cho các bên, quy định rõ ràng thứ tự thanh toán tức là nghĩa vụ nào sẽ được
đem ra thực hiện trước và nghĩa vụ nào sẽ được thanh toán sau nhằm dung hòa phần
quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể.
Sau khi thực hiện xong nghĩa vụ về tài sản cho các chủ thể có liên quan, phần tài
sản còn lại sẽ được đem ra phân chia cho những người thuộc hàng thừa kế của người
để lại di sản. Tuy nhiên, vấn đề được đặt ra ở đây là không phải mọi chuyện lúc nào
cũng diễn ra một cách suông sẽ như mong đợi, có những vấn đề mới phát sinh ngoài
tầm kiểm soát, không như dự tính ban đầu. Chẳng hạn như sau khi phân chia di sản lại
xuất hiện thêm người thừa kế mới, người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế. Kể cả
trường hợp tất cả những người thừa kế đều đồng ý tiến hành phân chia di sản nhưng
duy nhất có một người vì một lý do nào đó không đồng ý chia dẫn đến tranh chấp xảy
ra và đây cũng không phải là một chuyện hi hữu. Để bảo vệ quyền lợi cho những
người thừa kế khi họ rơi vào những trường hợp nêu trên pháp luật đã kịp thời ban hành
giúp đem lại sự công bằng và mở rộng đồng thời cũng giới hạn phần quyền đối với
một số trường hợp nhất định cho các chủ thể nhằm bảo vệ quyền lợi cho các chủ thể có
liên quan.
GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh
14
SVTH: Phạm Thị Cúc
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THANH TOÁN VÀ PHÂN CHIA DI SẢN
Trong chương 2 này tác giả sẽ trình bày hai nội dung lớn. Đầu tiên, tác giả sẽ
giới thiệu vấn đề thanh toán nợ di sản: những món nợ nào cần phải trả, chủ thể chịu
trách nhiệm về món nợ đó và việc trả nợ được thực hiện như thế nào. Sau khi đã thanh
toán xong nợ di sản, phần tài sản có còn lại sẽ được đem ra phân chia cho những người
thừa kế. Điều kiện về hình thức, điều kiện về nội dung là những điều kiện phải thỏa
khi tiến hành phân chia di sản sẽ được tác giả trình bày trong chương này.
2.1. Thanh toán nợ di sản
2.1.1. Khái niệm tài sản nợ
Tài sản nợ là tất cả các nghĩa vụ tài sản của một người được xác lập với danh
nghĩa của mình nhằm đạt được một lợi ích nào đó cho mình hay cho một người thứ ba.
Khi xác lập nghĩa vụ thì người mắc nợ phải thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình
bằng bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu của mình cho đến khi khối tài sản có
không còn đủ khả năng thanh toán.
Ví dụ: Ông Nghĩa và bà Lý góp vốn mỗi người là 500 triệu đồng để xây dựng
khách sạn Hương Bình nhưng giữa chừng thì thiếu kinh phí nên hai người đã vay ngân
hàng thêm 700 triệu đồng nữa. Sau đó một khoảng thời gian không lâu Bà Lý bị tai
nạn giao thông chết, để lại cho những người thừa kế phần quyền về tài sản của bà.
Những người con này phải có nghĩa vụ cùng với ông Nghĩa thanh toán số nợ 700 triệu
đồng cho ngân hàng và các chi phí cần thiết.
2.1.2. Thành phần tài sản nợ của di sản
2.1.2.1. Những nghĩa vụ do người có di sản xác lập
Đây là nghĩa vụ phát sinh trước khi người để lại di sản chết xác lập, được thể
hiện trong hai trường hợp: ngoài hợp đồng và trong hợp đồng.
Nghĩa vụ ngoài hợp đồng là nghĩa vụ phát sinh bởi sự kiện của người thụ trái, đó
là những hành động cố ý hay vô ý gây thiệt hại cho người thứ ba hay nghĩa vụ phát
sinh như khi có một hợp đồng, nhưng thực tế không có hợp đồng. Nghĩa vụ này được
pháp luật quy định và nó phát sinh ngoài những hành vi hay sự kiện của người thụ trái.
Nghĩa vụ ngoài hợp đồng do người có di sản xác lập bao gồm nghĩa vụ cấp
dưỡng, thuế và các khoản nợ khác đối với Nhà nước, bồi thường thiệt hại. Khoản 2
theo từng loại thuế đối với Nhà nước, cùng với các khoản tiền mà họ còn nợ Nhà nước
nhưng họ chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa hết thì đã chết.
Cuối cùng là nghĩa vụ bồi thường thiệt hại được quy định tại Khoản 5 Điều 683
BLDS 2005 đây là khoản tiền phát sinh theo hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng do người
để lại di sản chưa bồi thường hoặc không còn có điều kiện để bồi thường. Người bị
thiệt hại đưa ra các căn cứ chứng minh cho thiệt hại của mình và yêu cầu bồi thường.
Nghĩa vụ trong hợp đồng là nghĩa vụ được tạo nên bởi ý chí chung của các bên
đương sự. Theo quy định tại Khoản 4 Điều 683 thì đây là khoản tiền phải trả đủ cho
công sức của người lao động trong trường hợp nếu người để lại di sản còn sống đã sử
dụng sức lao động của người đó. Khoản tiền này được xác định theo hợp đồng lao
động hoặc theo các hợp đồng dân sự khác mà người để lại di sản phải trả, nhưng chưa
kịp trả thì đã chết.
GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh
17
SVTH: Phạm Thị Cúc
Đề tài: Chế độ pháp lý về thanh toán và phân chia di sản trong Luật dân sự Việt Nam
2.1.2.2. Các chi phí liên quan đến thừa kế
Đây chính là những món nợ do hệ quả trực tiếp từ cái chết của người có di sản.
Đó không phải là nợ do người chết để lại, bởi chúng phát sinh sau khi thừa kế được
mở nhưng có mối liên hệ chặt chẽ với việc thừa kế di sản, chúng được coi như nợ của
di sản chứ chưa phải của riêng người thừa kế. Việc phân biệt này rất quan trọng bởi
hoạt động làm phát sinh chi phí có thể do một người thừa kế giao kết và thực hiện
nhưng nó ràng buộc tất cả những người thừa kế khác.
Các chi phí này bao gồm:
Chi phí hợp lý theo tập quán cho việc mai táng: chỉ chấp nhận những chi phí
SVTH: Phạm Thị Cúc
Đề tài: Chế độ pháp lý về thanh toán và phân chia di sản trong Luật dân sự Việt Nam
phải trả thù lao cho họ. Theo quy định tại Điều 643 BLDS 2005 thì người quản lý di
sản “được hưởng thù lao theo thỏa thuận với những người thừa kế”. Thù lao cho
người quản lý chính thức di sản theo di chúc (nếu có), chi phí và lệ phí thanh toán và
phân chia di sản. Tuy nhiên, các khoản nợ của di sản, tiền thù lao chi cho người quản
lý chính thức được cử theo thỏa thuận của những người thừa kế hoặc người quản lý
thực tế mà việc trả thù lao đó được giao kết giữa người đó với những người thừa kế thì
các chi phí này không được xem là chi phí để trả thù lao cho người quản lý di sản bởi
lẽ các chi phí này không do người chết giao kết và cũng không gắn liền với cái chết
của người đó. Đây là cơ sở pháp lý để Tòa án trích từ khối di sản một khoản tiền, hoặc
hiện vật để trả công cho người quản lý di sản.
2.1.3. Trách nhiệm đối với trả nợ di sản
Trong phần trách nhiệm đối với nợ di sản sẽ có hai vấn đề lớn được trình bày:
chủ thể của trách nhiệm và phạm vi của trách nhiệm.
2.1.3.1. Người chịu trách nhiệm về trả nợ di sản
Theo pháp luật hiện hành có hai nhóm chủ thể sẽ chịu trách nhiệm về trả nợ di
sản đó là người thừa kế theo pháp luật và người thừa kế theo di chúc. Theo Khoản 1
Điều 637 BLDS 2005, “Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa
vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận
khác”. Những người thừa kế ở đây bao gồm người thừa kế theo di chúc và người thừa
kế theo pháp luật. Kể từ thời điểm người để lại di sản chết, người thừa kế có quyền
hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật đồng thời phải chịu những nghĩa vụ tài
sản mà người chết để lại. Đây là những nghĩa vụ tài sản mà người chết phải chịu khi
còn sống mà người đó chưa thực hiện được, vì vậy những nghĩa vụ này được chuyển
sang cho những người thừa kế của họ. Tuy nhiên, phần trách nhiệm mà những người
thừa kế phải gánh chịu là “nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại”
và từng người thừa kế cũng chỉ “…thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại