Hiệp định chống bán phá giá của WTO – Thực trạng và giải pháp đối với Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
----------
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA 2009 – 2013
Tên đề tài:
HIỆP ĐỊNH CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA WTO – THỰC
TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI VIỆT NAM TRONG
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Th.S Bùi Thị Mỹ Hƣơng
Bộ môn: Luật Thƣơng mại
Đỗ Hồng Nhƣ
MSSV: 5095543
Lớp: Luật Thƣơng Mại 2 – K35
Cần Thơ, tháng 11/2012
GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hƣơng
Trang 1
1.4. Giới thiệu về Hiệp định chống bán phá giá của WTO ........................................ 16
1.4.1. Lịch sử phát triển của pháp luật chống bán phá giá............................................... 16
1.4.2. Mục tiêu và bản chất của chống bán phá giá ......................................................... 18
1.4.3. Các nguyên nhân làm nảy sinh vụ kiện chống bán phá giá ................................... 20
1.4.3.1. Tự do hóa mậu dịch dẫn đến tình trạng lạm dụng biện pháp chống bán phá
giá ..................................................................................................................................... 20
1.4.3.2. Các quy định của pháp luật chống bán phá giá .................................................. 21
1.4.3.3. Vấn đề chính trị trong các vụ kiện chống bán phá giá ........................................ 22
1.4.3.4. Sự phức tạp của pháp luật chống bán phá giá ..................................................... 24
CHƢƠNG 2: MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA
WTO.............................................................................................................. 25
2.1. Xác định việc bán phá giá, thiệt hại và mối quan hệ nhân quả .......................... 25
2.1.1. Xác định việc bán phá giá ...................................................................................... 25
2.1.1.1. Nguyên tắc xác định việc bán phá giá ................................................................ 25
2.1.1.2. Tính biên độ phá giá ........................................................................................... 26
2.1.2. Xác định thiệt hại và mối quan hệ nhân quả .......................................................... 30
2.1.2.1. Xác định thiệt hại ................................................................................................ 30
2.1.2.2. Mối quan hệ nhân quả giữa việc bán phá giá và thiệt hại ................................... 32
2.2. Trình tự và thủ tục điều tra chống bán phá giá ................................................... 33
2.2.1. Giai đoạn bắt đầu điều tra ...................................................................................... 33
2.2.1.1. Chủ thể yêu cầu tiến hành điều tra ...................................................................... 33
2.2.1.2. Căn cứ để bắt đầu điều tra................................................................................... 34
GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hƣơng
Trang 2
SVTH: Đỗ Hồng Nhƣ
3.1.2.3. Vụ kiện bán phá giá giày mũ da của Việt Nam ở thị trường EU ....................... 64
3.1.3. Nguyên nhân hàng hóa của Việt Nam bị kiện bán phá giá ................................... 68
3.1.4. Thiệt hại do các biện pháp chống bán phá giá gây ra ............................................ 71
3.2. Những khó khăn trong xử lý vụ kiện chống bán phá giá .................................. 73
3.2.1. Nhận thức chưa tốt về vấn đề chống bán phá giá .................................................. 73
3.2.2. Hệ thống kế toán của doanh nghiệp còn yếu kém ................................................. 74
3.2.3. Việt Nam chưa được công nhận là nền kinh tế thị trường ..................................... 74
3.2.4. Khung thời gian hạn chế ........................................................................................ 75
3.2.5. Khả năng trả lời bảng câu hỏi ................................................................................ 76
3.3. Những giải pháp để chủ động ứng phó với các vụ kiện chống bán phá giá ...... 77
3.3.1. Chủ động kháng kiện ............................................................................................. 77
3.3.2. Hoàn thiện hệ thống sổ sách, chứng từ kế toán ..................................................... 77
3.3.3. Nâng cao nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng, các cơ
quan hữu quan .................................................................................................................. 78
3.3.4. Chiến lược tăng trưởng xuất khẩu ......................................................................... 78
3.3.5. Cần khẩn trương xây dựng cơ chế dự phòng và cảnh báo sớm ............................. 79
GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hƣơng
Trang 3
SVTH: Đỗ Hồng Nhƣ
Hiệp định chống bán phá giá của WTO – Thực trạng và giải pháp đối với Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay
3.3.6. Đẩy mạnh công tác vận động hành lang và quan hệ công chúng .......................... 80
3.3.7. Có những chuẩn bị cần thiết để đáp ứng yêu cầu về nền kinh tế thị trường của nước
ngoài ................................................................................................................................. 80
Kết luận ........................................................................................................................... 82
chống bán phá giá. Các vụ kiện càng ngày càng gây thêm nhiều khó khăn cho việc thâm
nhập thị trường quốc tế của các mặt hàng vốn là thế mạnh của nước ta.
Chống bán phá giá là một trong những quy định quan trọng của WTO và đã có lịch
sử tồn tại và phát triển hơn 100 năm qua. Tuy nhiên, ở Việt Nam lĩnh vực này còn khá
mới mẻ và đối với nhiều ngành công nghiệp thì nó còn khá mơ hồ dễ gây nhầm lẫn.
Chính vì vậy, nâng cao nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp, hiệp hội và các cơ quan
hữu quan về những quy định, nguyên tắc, yêu cầu, các quy trình xử lý một vụ việc chống
bán phá giá theo Hiệp định chống bán phá giá của WTO là một vấn đề quan trọng và cần
thiết. Đó là lý do người viết chọn đề tài “Hiệp định chống bán phá giá của WTO – thực
trạng và giải pháp đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” để làm đề tài luận văn tốt
nghiệp
2. Phạm vi nghiên cứu
1
Tổng cục thống kê, Trị giá xuất khẩu hàng hoá phân theo khối nước, phân theo nước và vùng lãnh thổ,
ngày truy cập 27/10/2012.
GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hƣơng
Trang 5
SVTH: Đỗ Hồng Nhƣ
Hiệp định chống bán phá giá của WTO – Thực trạng và giải pháp đối với Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay
Vốn là một đề tài nghiên cứu rộng lớn, nên người viết chỉ tập trung nghiên cứu cơ
sở lý luận chung về bán phá giá và chống bán phá giá của WTO, từ đó người viết đặc biệt
đi sâu vào tìm hiểu một số quy định về chống bán phá giá của WTO. Qua đó, người viết
trình bày thực trạng hàng hóa Việt Nam bị kiện bán phá giá trên thị trường quốc tế trong
GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hƣơng
Trang 6
SVTH: Đỗ Hồng Nhƣ
Hiệp định chống bán phá giá của WTO – Thực trạng và giải pháp đối với Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay
Ở chương 1, người viết chỉ khái quát về bán phá giá và thuế chống bán phá giá, đặc
điểm và tác động của bán phá giá, phân loại bán phá giá và giới thiệu về Hiệp định chống
bán phá giá của WTO.
Chương 2: Một số quy định về chống bán phá giá của WTO
Tiếp theo, người viết tìm hiểu lần lượt về Ủy ban chống bán phá giá của WTO, xác
định việc bán phá giá, thiệt hại và mối quan hệ nhân quả, trình tự và thủ tục chống bán
phá giá, thực tiển giải quyết tranh chấp và một số bài học kinh nghiệm về chống bán phá
giá của một số nước trên thế giới như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Canada, các
nước ASEAN.
Chương 3: Thực trạng và giải pháp đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Ở chương này, người viết nêu lên thực trạng những vụ kiện chống bán phá giá của
các nước đối với hàng hóa xuất khẩu của việt nam, những khó khăn trong xử lý vụ kiện
chống bán phá giá, những giải pháp để chủ động ứng phó với các vụ kiện chống bán phá
giá .
GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hƣơng
Trang 7
SVTH: Đỗ Hồng Nhƣ
sánh (phân biệt) giá quốc tế, chi phí sản xuất chỉ là yếu tố cấu thành chủ yếu của giá chứ
chưa phải là giá bán hàng. Mặt khác, với những truyền thống kinh doanh khác nhau thì
quan niệm về các yếu tố cấu thành chi phí cố định hay biến phí của sản phẩm ở các quốc
gia khác nhau cũng không giống nhau. Cho nên, nếu xác định phá giá theo quan điểm này
sẽ rất khó khăn cho quá trình áp dụng và thực sự không công bằng khi lấy quan niệm về
cơ cấu chi phí trong tập quán kinh doanh của quốc gia này để kết luận về hành vi bán
hàng của các doanh nghiệp ở quốc gia khác có cơ cấu chi phí khác nhau.
2
David W.Pearce, Từ điển kinh tế học hiện đại (tái bản lần thứ 4), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, trang
282.
3
Walter Goode, Từ điển chính sách thương mại quốc tế, NXB Thống kê, Hà Nội, 1997, trang 82.
4
Th.S Nguyễn Ngọc Sơn, Pháp luật chống bán phá giá hàng nhập khẩu tại Việt Nam – những vấn đề lý luận và
thực tiển, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2005, trang 10.
GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hƣơng
Trang 8
SVTH: Đỗ Hồng Nhƣ
Hiệp định chống bán phá giá của WTO – Thực trạng và giải pháp đối với Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay
Quan điểm thứ ba kết hợp cả hai quan niệm đầu tiên bằng cách đưa ra cơ sở để xác
định hành vi bán phá giá là giá xuất khẩu và giá trị thông thường của hàng hóa, sản phẩm
bị nghi là phá giá. Với cách hiểu đó, quan niệm này đã phản ánh hình thức phân biệt về
giá và bản chất phi kinh tế của phá giá trong thương mại quốc tế. Trên tinh thần đó, Hiệp
nó phản ánh mức độ đe dọa đối với thu nhập và quyền lợi của các nhà sản xuất nội địa.
Sự xuất hiện của nhà nước trong việc ngăn chặn và loại bỏ những tác hại của hành vi bán
5
Xem Điều 2 Hiệp định chống bán phá giá của WTO.
GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hƣơng
Trang 9
SVTH: Đỗ Hồng Nhƣ
Hiệp định chống bán phá giá của WTO – Thực trạng và giải pháp đối với Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay
phá giá dường như đụng chạm đến một sự xung đột giữa quyền lợi của người tiêu dùng
và quyền lợi của người sản xuất. Chính vì thế, để nhìn rõ bản chất của phá giá, đôi khi
khoa học pháp lý cần phải nghiên cứu từ góc độ ý nghĩa kinh tế của bán phá giá đối với
sự phát triển của thị trường của nước nhập khẩu, từ đó xác định nhu cầu và mục đích của
việc điều chỉnh pháp luật6.
1.1.2. Khái niệm thuế chống bán phá giá
Thuế chống bán phá giá là khoản thuế bổ sung bên cạnh thuế nhập khẩu thông
thường, do cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu ban hành, đánh vào sản phẩm
nước ngoài bị bán phá giá vào nước nhập khẩu. Đây là loại thuế nhằm chống lại việc bán
phá giá và loại bỏ những thiệt hại do việc hàng nhập khẩu bán phá giá gây ra7.
Trên thực tế, thuế chống bán phá giá được nhiều nước sử dụng như một hình thức
"bảo hộ hợp pháp" đối với sản xuất nội địa của mình. Để ngăn chặn hiện tượng lạm dụng
biện pháp này, các nước thành viên WTO đã cùng thoả thuận về các quy định bắt buộc
phải tuân thủ liên quan đến việc điều tra và áp đặt thuế chống bán phá giá, tập trung trong
một Hiệp định về chống bán phá giá của WTO.
Hiệp định chống bán phá giá của WTO – Thực trạng và giải pháp đối với Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay
Quá trình toàn cầu hóa kinh tế với sự ra đời của nhiều tổ chức kinh tế quốc tế mà hệ
quả tất yếu của nó là hình thành nên nhiều vùng thị trường khu vực và quốc tế rộng lớn
thông qua việc xóa bỏ các rào cản thuế quan và phi thuế quan. Quan hệ thương mại quốc
tế được biểu hiện thông qua sự dịch chuyển các giá trị thương mại dưới hình thức hàng
hóa hoặc dịch vụ giữa thị trường của các nước với nhau dựa trên quy chế tối huệ quốc
(MFN) và quy chế đãi ngộ quốc gia (NT). Hai quy chế này đảm bảo cho nguyên tắc tự do
và bình đẳng thực sự phát huy được hiệu quả trong thương mại quốc tế cũng như bảo
đảm cho hàng hóa được lưu thông một cách tự do trên tinh thần không phân biệt đối xử.
Một khi sự tự do được đề cao và coi như nguyên lý bất khả xâm phạm thì cũng từ đó với
sự giục giã của quy luật giá trị và bản tính của con người xuất hiện những hành vi cạnh
tranh tự phát có thiên hướng thái quá, cực đoan trong cạnh tranh quốc tế - đây chính là
mặt trái của sự tự do trong thương mại quốc tế mà phá giá là minh chứng9.
Một điều cần thiết phải xác định là nguyên tắc cạnh tranh lúc này không chỉ đơn
giản thể hiện thông qua sự ganh đua giữa các nhà sản xuất hàng hóa hoặc cung ứng dịch
vụ mà còn thể hiện thông qua sự đối đầu giữa hai thị trường, hai khu vực kinh tế. Trên
tinh thần ấy, nhận dạng hành vi phá giá hàng nhập khẩu thông qua dấu hiệu có sự chuyển
dịch hàng hóa từ thị trường của nước này sang thị trường của nước khác hay khu vực
khác mà giá bán của nó thấp hơn giá bán theo các điều kiện bình thường tại nơi sản xuất
ra nó. Một lẽ đương nhiên là, khi hàng hóa đưa qua biên giới của một nước để tiêu thụ ở
nước khác, nếu như chúng còn nguyên giá trị thì giá bán tại thị trường nhập khẩu phải
cao hơn giá ở nước xuất khẩu vì phải tốn thêm hàng loạt các chi phí cần thiết như vận
chuyển, các loại thuế quan trong việc nhập khẩu…. Với bản chất phi kinh tế và không
bình thường ấy, hành vi bán phá giá đã bóp méo các nguyên lý của thị trường tự do mà
các nỗ lực hợp tác kinh tế quốc tế đã tạo lập. Do đó, bán phá giá bị tập quán thương mại
quốc tế cũng như pháp luật quốc tế coi là hành vi bất chính. Kết quả tất yếu là xảy ra
những xung đột trong việc đấu tranh loại bỏ và trừng phạt hành vi này. Xung đột xảy ra
chênh lệch. Mọi sự chênh lệch mà ở đó cho thấy giá xuất khẩu của sản phẩm thấp hơn giá
trị thông thường của nó đều phản ánh dấu hiệu của việc phá giá hàng hóa10.
Bản chất của hành vi bán phá giá trong quan hệ thương mại quốc tế được biểu hiện
thông qua việc hạ giá bán hàng hóa. Tuy nhiên, như đã phân tích việc hạ giá bán trong
phá giá khác cơ bản so với hạ giá là kết quả của quá trình giảm chi phí ở chỗ chủ thể thực
hiện việc bán phá giá chấp nhận hy sinh lợi nhuận hoặc chấp nhận lỗ khi bán hàng hóa
trên thị trường nước khác. Sự hy sinh ấy quyết định bản chất không lành mạnh của hành
vi bán phá giá mà pháp luật của nhiều nước trong đó có Hoa Kỳ gọi là hành vi bán hàng
hóa dưới giá trị công bằng.
Về phạm vi, phá giá trong nước được xác định là một hành vi cạnh tranh không lành
mạnh qua giá của các nhà sản xuất hàng hóa trên cùng thị trường của một quốc gia. Vì
thế, khi xác định hành vi phá giá nội địa, nhà chức trách chỉ cần truy tìm những dấu hiệu
của việc bán hàng với giá dưới chi phí sản xuất hoặc dưới mức giá thông thường trên thị
trường của quốc gia đó nhằm chiếm đoạt thị phần hoặc hạn chế cạnh tranh. Phá giá trong
thương mại quốc tế là kết quả của quá trình phân biệt giá giữa hai thị trường và mức độ
phá giá biểu hiện thông qua sự chênh lệch giá bán giữa hai thị trường. So sánh giá là công
việc bắt buộc phải thực hiện trong việc xác định phá giá, kết quả của nó sẽ xác định có
hay không có cũng như xác định sự nguy hại của hành vi bán phá giá quốc tế. Do sự
không đồng nhất về điều kiện cũng như yếu tố cấu thành của thị trường giữa các quốc gia
mà việc so sánh giá luôn đặt ra rất nhiều vấn đề khó khăn cần giải quyết.
Thứ ba, đối tượng của hành vi bán phá giá là hàng hóa tham gia vào lưu thông trong
quan hệ thương mại quốc tế. Khi thiết lập thị trường thương mại chung, đối tượng được
hầu hết các diễn đàn thương mại quốc tế quan tâm là dịch vụ và hàng hóa. Mọi thiết chế
pháp lý trong quan hệ thương mại quốc tế đều nhằm mục đích tạo lập những khuôn khổ
cho quá trình dịch chuyển một cách tự do và lành mạnh trên cơ sở không phân biệt đối xử
đối với các đối tượng là hàng hóa và dịch vụ. Tuy nhiên, trong các hiệp định liên quan
đến phá giá của các tổ chức kinh tế quốc tế như WTO, EU… và pháp luật về phá giá của
10
gia thị trường, mà mục đích chủ yếu là loại bỏ và ngăn chặn thiệt hại do hành vi phá giá
gây ra cho ngành sản xuất trong nước. Như vậy, đối tượng được xác định trong phá giá
hàng hóa chính là hàng hóa nhập khẩu và các biện pháp trừng phạt cũng nhằm đến hàng
hóa chứ không phải nhằm đến chủ thể thực hiện hành vi. Nguyên tắc đối vật thực sự có ý
nghĩa đối với việc xác định cũng như hiệu quả áp dụng biện pháp chống bán phá giá.
1.2.2. Tác động của bán phá giá
Tác động của hiện tượng bán phá giá được nhìn nhận cả góc độ tích cực và tiêu cực
bằng việc phân tích ảnh hưởng của nó đối với lợi ích của người tiêu dùng, nhà sản xuất
có liên quan và các doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm cạnh tranh nội địa.
Việc hàng hóa nhập khẩu bán phá giá có những ảnh hưởng đáng kể đến người tiêu
dùng của nước nhập khẩu cả trong ngắn hạn và dài hạn. Trong ngắn hạn, việc bán phá giá
đã tối đa hóa lợi ích cho người tiêu dùng vì họ có cơ hội mua được hàng hóa nhập khẩu
giá rẻ. Với tâm lý vị lợi, người tiêu dùng luôn có xu hướng lựa chọn hàng hóa phù hợp
với nhu cầu sử dụng ở mức giá thấp nhất có thể. Sự xuất hiện của hàng hóa nhập khẩu
phá giá trên thị trường đã làm tăng khả năng thỏa mãn nhu cầu của họ. Trong kinh tế thị
trường, lượng hàng hóa người ta mua phụ thuộc vào giá cả của nó, hiện tượng bán phá
11
Th.S Nguyễn Ngọc Sơn, Pháp luật chống bán phá giá hàng nhập khẩu tại Việt Nam – những vấn đề lý luận và
thực tiển, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2005, trang 24 – 25.
12
John H.Jackson, Hệ thống thương mại thế giới, NXB Thanh niên, Hà Nội, 2001, trang 37.
GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hƣơng
Trang 13
SVTH: Đỗ Hồng Nhƣ
nguyên liệu rẻ để sản xuất, kinh doanh, từ đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng cho ngành
sản xuất mà họ hoạt động.
Tác động của bán phá giá đến ngành sản xuất nội địa kinh doanh sản phẩm cạnh
tranh với hàng hóa nhập khẩu (gọi tắt là ngành sản xuất nội địa hoặc doanh nghiệp sản
xuất nội địa). Tác động tiêu cực của bán phá giá hàng hóa nhập khẩu chủ yếu được chứng
minh bằng những thiệt hại mà ngành sản xuất nội địa phải gánh chịu. Các doanh nghiệp
13
Th.S Nguyễn Ngọc Sơn, Pháp luật chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu và cơ chế thực thi tại Việt Nam,
trang20.
14
Th.S Nguyễn Ngọc Sơn, Pháp luật chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu và cơ chế thực thi tại Việt Nam,
trang21.
GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hƣơng
Trang 14
SVTH: Đỗ Hồng Nhƣ
Hiệp định chống bán phá giá của WTO – Thực trạng và giải pháp đối với Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay
sản xuất nội địa và người lao động trong các doanh nghiệp này là nạn nhân thực tế và
trực tiếp của việc hàng hóa nhập khẩu bán phá giá. Nếu mức phá giá làm giá cạnh tranh
của sản phẩm nhập khẩu thấp hơn chi phí sản xuất của hàng hóa nội địa, doanh nghiệp
nội địa sẽ bị đẩy vào tình trạng cạnh tranh không lối thoát, hoặc chịu lỗ để chạy đua theo
mức giá phá giá, hoặc mất khách hàng. Trong trường hợp mức phá giá làm giá cạnh tranh
của hàng hóa nhập khẩu thấp hơn giá bán hiện tại nhưng không thấp hơn chi phí sản xuất
của hàng hóa nội địa thì thiệt hại mà ngành sản xuất nội địa phải chịu là sự suy giảm lợi
16
Th.S Nguyễn Ngọc Sơn, Pháp luật chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu và cơ chế thực thi tại Việt Nam, trang
22.
GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hƣơng
Trang 15
SVTH: Đỗ Hồng Nhƣ
Hiệp định chống bán phá giá của WTO – Thực trạng và giải pháp đối với Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay
tự do để loại trừ những hành vi lạm dụng xâm hại đến trật tự chung. Việc loại trừ chỉ thật
sự có hiệu quả khi từng hiện tượng không lành mạnh được nghiên cứu một cách triệt để,
sâu sắc từ bản chất đến các hình thức biểu hiện của nó. Với tư cách là một hiện tượng
kinh tế xã hội đặc biệt phức tạp, phá giá được tiếp cận nghiên cứu ở nhiều góc độ khác
nhau trên các lý thuyết kinh tế, hòng tìm kiếm những dấu hiệu mang tính bản chất và phổ
biến của nó để công quyền xuất hiện và can thiệp đúng lúc với những biện pháp phù hợp.
Mặc dù, trong pháp luật thương mại quốc tế cũng đã có những nhận thức chung về phá
giá, tuy nhiên, khi phân tích biểu hiện của nó trên thực tế để tìm kiếm cách ứng xử thích
đáng thì lại có nhều cách tiếp cận với những lý thuyết khác nhau. Mỗi cách tiếp cận và
phân loại hình thức bán phá giá đều có những ý nghĩa nhất định về lý luận cũng như thực
tiễn áp dụng17.
1.3.1. Phân loại theo Hiến chương Havana
Nhằm xây dựng một thị trường chung với nguyên tắc nền tảng là sự tự do trong
thương mại hàng hóa quốc tế, Hiến chương Havana đã khái quát 4 loại phá giá là: phá giá
về giá, phá giá dịch vụ, phá giá hối đoái và phá giá xã hội18. Cụ thể:
- Phá giá về giá: là hiện tượng các nhà sản xuất bán hàng hóa ra nước ngoài với giá
thấp hơn giá tại thị trường trong nước, điều này có thể gây ảnh hưởng xấu đến ngành
SVTH: Đỗ Hồng Nhƣ
Hiệp định chống bán phá giá của WTO – Thực trạng và giải pháp đối với Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay
- Phá giá hối đoái: được nhận dạng thông qua các thủ đoạn tác động đến tỷ giá hối
đoái nhằm mang lại cho hàng hóa xuất khẩu từ một nước nào đó một lợi thế trên thị
trường nước nhập khẩu21.
Giống như phá giá dịch vụ, bản thân phá giá hối đoái tạo cho hàng hóa lợi thế bất
chính bằng sự tác động vào tỷ giá hối đoái về giá trị của hai loại tiền tệ khác nhau giữa
hai quốc gia. Sự khác nhau giữa phá giá dịch vụ và phá giá hối đoái là phá giá dịch vụ
ảnh hưởng trực tiếp đến một phần của kết cấu giá thông qua hành vi bóp méo tính trung
thực trong chi phí vận tải. Trong khi đó, phá giá hối đoái không bóp méo cơ cấu hình
thành giá nhưng lại không lành mạnh trong việc quy chuẩn giá trị đồng tiền giữa hai thị
trường, từ đó làm thay đổi đến giá cả của hàng hóa. Tính nguy hiểm thể hiện ở sự ẩn giấu
những biểu hiện không lành mạnh của loại phá giá này. Pháp luật thương mại quốc tế
hiện hành không đề cập đến phá giá hối đoái.
- Phá giá xã hội: Hiến chương Havana không đưa ra thuật ngữ phá giá xã hội mà chỉ
mô tả hành vi xuất khẩu hàng hóa với giá thấp đươc sản xuất bởi các tù nhân hoặc lao
động khổ sai22.
Thuật ngữ phá giá xã hội được sử dụng để phản ánh hiện tượng xuất khẩu hàng hóa
đó được sản xuất không theo những tiêu chuẩn công bằng về lao động, về kỹ thuật mà
các nước phát triển sử dụng. Phá giá xã hội được nhìn nhận từ lý thuyết về thương mại và
lao động cũng như những điều khoản về xã hội trong chính sách thương mại của kinh tế
quốc tế. Dựa trên quan điểm về tiêu chuẩn lao động công bằng, lý thuyết về thương mại
và lao động cho rằng sự công bằng trong thương mại sẽ bị bóp méo nếu như có sự phân
biệt đối xử trong lao động giữa các quốc gia. Vì thế những điều kiện lao động không
công bằng (trong thù lao và những điều kiện bảo hộ lao động) đặc biệt trong lĩnh vực sản
xuất hàng hóa xuất khẩu tạo ra những khó khăn trong thương mại quốc tế. Việc sử dụng
lao động là tù nhân và lao động khổ sai sẽ tạo ra cho sản phẩm hoặc hàng hóa xuất khẩu
Năm 1995, dựa trên động cơ phá giá, Robert Willing đã phân tích phá giá thông qua
việc phân biệt hai dạng phá giá là phá giá độc quyền và phá giá không độc quyền24.
1.3.2.1. Phá giá độc quyền
Phá giá độc quyền là hành vi vi phạm thô bạo nguyên tắc cạnh tranh vì bản chất của
nó là hành vi nhằm độc quyền hóa. Phá giá độc quyền tạm thời đem lại một số lợi ích cho
người tiêu dùng, nhưng khi các doanh nghiệp đạt được vị trí độc quyền sẽ đặt giá độc
quyền để bóc lột người tiêu dùng. Nguy hiểm hơn, nó hủy hoại cạnh tranh và có thể là
nguyên nhân trực tiếp gây ra những bất ổn về kinh tế. Bởi vậy, pháp luật của các nước
không chỉ cấm và trừng phạt nghiêm khắc mà còn khá thống nhất với nhau trong việc đưa
ra những tiêu chuẩn đánh giá hành vi phá giá độc quyền, đó là: (1) hành vi này phải do
các doanh nghiệp có quyền lực thị trường thực hiện; (2) tính chất cạnh tranh của thị
trường bị phá giá; (3) tỉ lệ chênh lệch giữa giá bán và mức giá trong điều kiện cạnh tranh
so với chi phí sản xuất hay chi phí để doanh nghiệp có được hàng hóa đó. Tỷ lệ chênh
lệch cho phép là khác nhau ở mỗi quốc gia25.
Phá giá độc quyền được chia làm hai loại là: phá giá chiến lược và phá giá cướp
đoạt.
- Phá giá chiến lược là hành vi bán phá giá nằm trong một chiến lược cạnh tranh tổng
thể của nước xuất khẩu.
- Phá giá cướp đoạt là hành vi định giá thấp nhằm mục đích đẩy đối thủ cạnh tranh
vào tình trạng phá sản để giành vị trí độc quyền tại nước nhập khẩu. Nhìn dưới góc độ
kinh tế thì phá giá cướp đoạt là hành vi liều lĩnh và rất tốn kém. Nó chỉ thật sự đáng giá
khi tất cả các khoản lỗ và chi phí bị mất có thể thu hồi được. Trong quan hệ thương mại
quốc tế, việc phá giá độc quyền khó có thể thực hiện được một cách tuyệt đối, bởi lẽ bên
cạnh việc loại bỏ đối thủ cạnh tranh ra khỏi thị trường, doanh nghiệp thực hiện hành vi
phá giá độc quyền cũng luôn phải lưu ý đến việc ngăn cản sự gia nhập của các doanh
nghiệp tiềm năng. Vì vậy, việc thực hiện chiến lược độc quyền thị trường bằng phá giá
cũng chưa thực sự hiệu quả cho bản thân doanh nghiệp.
1.3.2.2. Phá giá không độc quyền
23
nhỏ hơn. Do đó, một trong những mục tiêu mà bất kỳ doanh nghiệp nào cũng mong
muốn đạt được là giành thị phần lớn nhất có thể. Vì thế, việc bán hàng với giá thấp ngắn
hạn để gia nhập thị trường của các nhà sản xuất nước ngoài là hoàn toàn phù hợp với quy
luật chung của thị trường hàng hóa tự do cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng.
- Phá giá chu kỳ là hình thức phá giá mà nhiều doanh nghiệp sử dụng để giải quyết
hậu quả của việc sản xuất quá dư thừa loại hàng hóa đó. Sự bất công mà hành vi bán phá
giá này gây ra là việc sản xuất quá mức dẫn đến dư thừa là vấn đề của nhà sản xuất,
nhưng khi tiến hành phá giá để giải quyết tình trạng do chính họ gây ra có thể sẽ gây thiệt
hại cho ngành sản xuất sản phẩm tương tự của nước nhập khẩu.
- Phá giá thương mại của nhà nước là hình thức bán phá giá được thực hiện chủ yếu
trong các nền kinh tế mà tỷ giá hối đoái có ý nghĩa nhỏ bé hoặc các tín hiệu về giá cả là
không quan trọng26.
Cách phân loại phá giá theo động cơ có ý nghĩa rất lớn cho việc xác định và áp dụng
các biện pháp chống bán phá giá phù hợp với từng biểu hiện của loại hành vi này. Mặt
khác, với cách thức nhận dạng hành vi từ động cơ của chủ thể thực hiện, việc phát hiện sẽ
dễ dàng và thuận lợi hơn rất nhiều.
1.3.3. Phân loại căn cứ vào biểu hiện của phá giá
Dựa vào các biểu hiện của phá giá có thể phân thành các loại phá giá ẩn, phá giá
gián tiếp và phá giá thứ cấp27.
- Phá giá ẩn là hành vi theo đó người nhập khẩu bán hàng nhập khẩu trên thị trường
của nước mình với giá thấp hơn giá ghi trên hóa đơn của người xuất khẩu đối với hành
26
Th.S Nguyễn Ngọc Sơn, Pháp luật chống bán phá giá hàng nhập khẩu tại Việt Nam – những vấn đề lý luận và
thực tiển, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2005, trang 63.
27
Nguyễn Như Phát và Bùi Nguyên Khánh, Tiến tới xây dựng pháp luật về cạnh tranh và chống độc quyền trong
điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường, NXB công an nhân dân, Hà Nội - 2001, trang 83.
GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hƣơng
chống bán phá giá đã lần lượt được New Zealand và Úc áp dụng.
Vấn đề chống bán phá giá (AD) đã được Hiệp hội các quốc gia (League of Nations)
nghiên cứu ngay từ năm 1922, nhưng chỉ đến năm 1947, với sự ra đời của Hiệp định
chung về thuế quan và thương mại GATT (General Agreement of Tariffs and Trade), vấn
đề này mới được đặt dưới sự chi phối của luật quốc tế, thông qua Điều VI của Hiệp định
này. Lúc ấy chủ đề này chưa được tranh cãi nhiều và chỉ về sau, khi các dòng thương mại
phát triển ngày càng nhanh, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn và khốc liệt hơn, và các
nước thành viên của GATT cũng đông hơn, mới thành một mối quan tâm chính, ngày
càng lớn qua các vòng thương thảo tiếp nối nhau29.
Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) được ký kết từ năm 1947 và
ngay sau đó, năm 1948 hệ thống thương mại đa biên được thiết lập. Điều VI GATT 1947
28
Th.S Nguyễn Ngọc Sơn, Pháp luật chống bán phá giá hàng nhập khẩu tại Việt Nam – những vấn đề lý luận và
thực tiển, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2005, trang 65 – 66.
29
TS. Đinh Thị Mỹ Loan, Chủ động ứng phó với các vụ kiện chống bán phá giá trong thương mại quốc tế, NXB lao
động – xã hội, Hà Nội, 2006, trang 17.
GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hƣơng
Trang 20
SVTH: Đỗ Hồng Nhƣ
Hiệp định chống bán phá giá của WTO – Thực trạng và giải pháp đối với Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay
đã có quy định liên quan đến trường hợp một ngành công nhiệp nội địa cho rằng việc bán
phá giá đã gây ra thiệt hại cho ngành sản xuất của họ. Điều khoản này cho phép nước bị
Trong những lĩnh vực thuộc thẩm quyền của WTO, luật quốc gia một nước thành
viên phải phù hợp với các Hiệp định và quy định của WTO, những văn kiện này được coi
như một bộ phận của hệ thống pháp lý quốc gia. Do đó, các đạo luật khung về chống bán
phá giá của các nước thường lặp lại tất cả các nguyên tắc của Hiệp định chống bán phá
giá, thậm chí lấy lại nguyên văn Hiệp định trong trường hợp nhiều nước chỉ mới ban
hành luật này sau khi gia nhập WTO. Để áp dụng các nguyên tắc đó trong thực tế, mỗi
GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hƣơng
Trang 21
SVTH: Đỗ Hồng Nhƣ
Hiệp định chống bán phá giá của WTO – Thực trạng và giải pháp đối với Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay
nước có thể có thêm một số điều khoản chi tiết để thi hành, dựa theo thể chế pháp luật
riêng của mình. Như vậy, về các nguyên tắc chung thì luật các quốc gia phải đồng nhất
nhưng về mặt áp dụng thực tiễn thì có thể có những điểm khác nhau30.
Một điều đáng lưu ý là tuy các nước công nghiệp phát triển tiếp tục sử dụng nhiều
biện pháp chống bán phá giá nhưng đến nay các nước đang phát triển cũng nhanh chóng
áp dụng các biện pháp này, đứng đầu danh sách là Ấn Độ với 316 biện pháp (nhiều hơn
cả Hoa Kỳ (234), Liên minh Châu Âu (219), Achentina (147), Nam Phi (113) hay Brazil
(66) và Mexico (76)…)31.
Từ đó có thể rút ra hai nhận xét: một là, song song với sự hội nhập vào nền thương
mại quốc tế, các nước đang phát triển cũng áp dụng biện pháp chống bán phá giá nhiều
hơn để bảo vệ nền sản xuất còn yếu ớt của chính mình và các biện pháp chống bán phá
giá vừa là hữu hiệu nhất vừa phù hợp với luật lệ của WTO. Hai là đối với các nước này,
các biện pháp chống bán phá giá vừa là công cụ của các cường quốc không cho họ thâm
nhập thị trường và mở mang buôn bán, vừa là cái van an toàn cần thiết cho chính họ. Do
đó, trong sự tranh cãi giữa các nước nghèo và giàu về đề tài chống bán phá giá, một trong
Trang 22
SVTH: Đỗ Hồng Nhƣ
Hiệp định chống bán phá giá của WTO – Thực trạng và giải pháp đối với Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay
Bán phá giá thường bị coi là hành vi thương mại quốc tế không công bằng. Do đó,
Chính phủ nhiều nước cho rằng họ cần phải có hành động chống lại hành vi đó nhằm bảo
vệ ngành công nghiệp trong nước mà thông thường là thông qua việc đánh thuế chống
bán phá giá để bù đắp lại những thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa phải gánh chịu do
hành vi bán phá giá gây ra.
Ngay từ năm 1947, Hiệp định GATT đã quy định thuế chống bán phá giá chỉ được
áp dụng trong những trường hợp chứng minh được rõ ràng có hành vi bán phá giá và
hành vi đó gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại vật chất tới một ngành sản xuất trong
nước34.
Đến Hiệp định chống bán phá giá của WTO, căn cứ xác định khi nào bán hàng dưới
giá trị thông thường được quy định. Tình huống này xảy ra khi giá xuất khẩu thấp hơn
“mức giá có thể so sánh được của sản phẩm tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu
theo các điều kiện thương mại thông thường”35. Trong trường hợp không có giá nội địa
để so sánh thì giá trị thông thường có thể căn cứ vào “so sánh với mức giá có thể so sánh
được của sản phẩm tương tự được xuất khẩu sang một nước thứ ba thích hợp, với điều
kiện là mức giá có thể so sánh được này mang tính đại diện, hoặc được xác định thông
qua so sánh với chi phí sản xuất tại nước xuất xứ hàng hóa cộng thêm một khoản hợp lý
chi phí quản trị, bán hàng, các chi phí chung và một khoản lợi nhuận”36. Khi các tiêu chí
phức tạp này được đáp ứng thì nước nhập khẩu được quyền áp thuế chống bán phá giá
tương đương với phần chênh lệch giữa giá trị thông thường và giá xuất khẩu.
Mặc dù, mục tiêu của các biện pháp chống bán phá giá (cũng như các biện pháp
chống trợ cấp và tự vệ) được cho là để đảm bảo sự công bằng trong thương mại quốc tế
những người lao động tham gia vào các hoạt động sản xuất ở Hoa Kỳ. Vì vậy, chẳng có
gì đáng ngạc nhiên khi người hưởng lợi từ các lợi ích kinh tế này là các nhà sản xuất,
ngược lại các chi phí kinh tế sẽ do người tiêu dùng gánh chịu. Chính phủ Hoa kỳ, thông
qua luật pháp, đã đưa ra một sự lựa chọn chính trị tỉnh táo, khôn ngoan để đưa những
biện pháp bảo đảm công bằng này được công nhận trên thực tế…”37.
Hơn nữa, các quy định chống bán phá giá là một biện pháp khắc phục thương mại
mà các thành viên của WTO đã đồng ý rằng là cần thiết để duy trì hệ thống thương mại
đa phương. Động cơ kinh tế để sử dụng biện pháp chống bán phá giá là nhằm để duy trì
thương mại công bằng. Tuy nhiên, theo một nghiên cứu gần đây cho thấy, có tới 90% các
biện pháp này không nhằm bảo vệ cạnh tranh lành mạnh hoặc thương mại công bằng 38.
Ngày nay, chống bán phá giá vẫn là một vũ khí bảo hộ cho các ngành công nghiệp truyền
thống như thép, hóa chất, dệt may và các lĩnh vực khác là những ngành có sức cạnh tranh
yếu do nền tảng công nghệ của chính họ.
Như vậy, biện pháp này được sử dụng để làm phương tiện bảo hộ, và sẽ có những
tác động tiêu cực đến hoạt động thương mại của các nước xuất khẩu, nhưng ngược lại,
việc bảo hộ này làm tổn hại đến nền kinh tế của chính nước sử dụng biện pháp chống bán
phá giá, đặc biệt trong trường hợp nguồn cung cấp không lớn hoặc sản phẩm bị áp thuế
phá giá lại có vai trò của nguyên liệu đầu vào quan trọng của ngành công nghiệp khác
như thép, điện tử, hóa chất, v.v… cũng như ảnh hưởng đến lợi ích của người tiêu dùng39.
1.4.3. Các nguyên nhân làm nảy sinh vụ kiện chống bán phá giá
1.4.3.1. Tự do hóa mậu dịch dẫn đến tình trạng lạm dụng biện pháp chống bán
phá giá
Trong xu thế tự do hóa mậu dịch ngày càng trở nên phổ biến, việc từng bước dỡ bỏ
hàng rào thuế quan và phi thuế quan buộc nhiều nước phải áp dụng các biện pháp chế tài
đơn phương để bảo hộ sản xuất trong nước. Một kết quả của việc mở cửa thị trường
chính là sự cạnh tranh lành mạnh và nền kinh tế nhờ quy mô đem lại hiệu quả. Nhưng
cạnh tranh của hàng hóa nhập khẩu có thể làm thiệt hại đến ngành sản xuất trong nước.
Chính vì vậy, biện pháp chống bán phá giá được coi là “biện pháp bảo hộ có chỉ đạo”, sử
dụng các thủ tục pháp lý và các lập luận kinh tế không rõ ràng nhằm gây nhầm lẫn và
thanh minh cho việc bảo hộ cho các ngành công nghiệp.
bảo hộ trong các nước nhập khẩu. Tờ Dân tộc (Thái Lan) ngày 20-5-2002 dẫn lời ông
Supachai Panitchpakdi, Tổng giám đốc WTO nói với BBC rằng: “các nước phát triển
đang đi ngược lại điều mà họ vẫn thuyết giáo, đặc biệt là chính sách bảo hộ ngày càng
tăng của Hoa Kỳ. Điều này làm xói mòn lòng tin của các nước đang phát triển trong hợp
tác tự do hóa thương mại”41.
1.4.3.2. Các quy định của pháp luật chống bán phá giá
Theo Luật Chống bán phá giá của WTO và một số nước như Hoa Kỳ, EU,
Canada… trong trường hợp số lượng sản phẩm nhập khẩu từ một nước thấp hơn 3% tổng
số lượng sản phẩm nhập khẩu từ các nước khác trên thế giới thì đơn khởi kiện sẽ bị bác
bỏ và vụ kiện được chấm dứt. Vì số lượng “không đáng kể” này không thể là nguyên
nhân gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho ngành công nghiệp nội địa nước nhập
khẩu.
Chính vì vậy, khi số lượng sản phẩm nào đó của một nước xuất khẩu cao hơn 3% thì
đó sẽ là một trong những căn cứ pháp lý quan trọng để ngành công nghiệp nội địa khởi
kiện.
Bên cạnh đó, các quy định của pháp luật chống bán phá giá nêu trên còn cho phép
cộng gộp thị phần xuất khẩu của các nước cùng xuất khẩu sản phẩm bị kiện vào nước
nhập khẩu. Điều đó đã giúp cho ngành công nghiệp nội địa có thêm cơ hội cho việc
chứng minh hàng nhập khẩu là nguyên nhân gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại ngành
công nghiệp nội địa của họ. Bằng phương pháp này các cơ quan điều tra sẽ cộng tất cả
những hàng hóa nhập khẩu tương tự từ tất cả các nước bị điều tra để đánh giá tác động
gộp đối với ngành sản xuất nội địa. Mặc dù quy định này đã được hợp pháp hóa trong
WTO42, đây vẫn là một vấn đề lớn trong các vụ kiện chống bán phá giá. Các nghiên cứu
40
TS. Đinh Thị Mỹ Loan, Chủ động ứng phó với các vụ kiện chống bán phá giá trong thương mại quốc tế, NXB lao
động – xã hội, Hà Nội, 2006,trang 41 – 42.
41
TS. Đinh Thị Mỹ Loan, Chủ động ứng phó với các vụ kiện chống bán phá giá trong thương mại quốc tế, NXB lao
động – xã hội, Hà Nội, 2006,trang 42 – 43.