TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA 2008 – 2012
ĐỀ TÀI:
NGHIÊN CỨU VỀ ĐƯỜNG CƠ SỞ THEO QUY ĐỊNH CỦA
CÔNG ƯỚC LIÊN HỢP QUỐC VỀ LUẬT BIỂN 1982
VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Th.S Kim Oanh Na
Bộ Môn Luật Thương Mại
Nguyễn Trọng Toàn
MSSV: 5086005
Lớp: KL0864A2
Cần Thơ 4/ 2012
MỤC LỤC
Trang
Lời nói đầu:..................................................................................................................... 01
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BIỂN, LUẬT BIỂN VÀ ĐƯỜNG CƠ
SỞ ĐỂ TÍNH CHIỀU RỘNG LÃNH HẢI .................................................................... 04
2.2.3. Theo Luật biên giới quốc gia 2003 và quy định liên quan........................................ 50
2.3.Thực tiễn đường cơ sở trên biển Đông và phương pháp giải quyết........................ 52
2.3.1. Thực tiễn đường cơ sở trên biển Đông .................................................................... 52
2.3.2. Vấn đề bảo vệ chủ quyền trên các vùng biển của Việt Nam – Thuận lợi và khó
khăn……………………………………………………………………………………...... 61
2.3.3. Những vấn đề tồn tại............................................................................................... 69
2.3.4. Một số giải pháp đề xuất ......................................................................................... 71
KẾT LUẬN:.................................................................................................................... 74
Danh mục tài liệu tham khảo:
Nghiên cứu về đường cơ sở theo quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật
biển 1982 và pháp luật Việt Nam
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Biển có vai trò quan trọng trong đời sống của con người, biển có tác động trực
tiếp hoặc gián tiếp đến đời sống con người. Là cơ sở quan trọng cho sự phát triển các
quan hệ hàng hải, thương mại quốc tế, là nguồn tài nguyên thiên nhiên đáp ứng không
ngừng cho những nhu cầu vật chất, xã hội của con người. Nhưng tài nguyên biển
không phải là vô tận, vì vậy việc sử dụng, khai thác và bảo vệ tài nguyên biển một
cách hợp lý là vấn đề đang được toàn thế giới quan tâm hiện nay.
Trong giai đoạn hiện nay, các tranh chấp liên quan đến biển ngày càng trở nên
gay gắt và có diễn biến phức tạp. Các nước đều muốn mở rộng tầm ảnh hưởng của
mình trên biển, vì vậy việc xác định quyền, chủ quyền trên biển là hết sức quan trọng.
Việc xác định quyền, chủ quyền trên biển là cơ sở để các nước khẳng định chủ quyền
ven biển của mình, đặt các thẩm quyền tài phán của mình lên các vùng biển đó. Tuy
nhiên việc xác định chủ quyền trên biển của một quốc gia là một vấn đề khó khăn và
trên tinh thần quy định của quốc tế về biển. Đây là lý do mà người viết lựa chọn đề tài
làm luận văn tốt nghiệp để tìm hiểu và “Nghiên cứu về đường cơ sở theo quy định của
Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển 1982 và pháp luật Việt Nam ”.
2. Mục tiêu nghiên cứu, và nhiệm vụ của đề tài
Xuất phát từ bối cảnh đường cơ sở trên biển của Việt Nam, các quy phạm pháp
luật văn bản về biển và quan điểm của Đảng và nhà Nước về biển đang ngày càng phát
triển và hoàn thiện thì mục đích chính của đề tài là nghiên cứu một cách hệ thống các
vấn đề lý luận về đường cơ sở trên biển, thực trạng quy định và áp dụng pháp luật về
đường cơ sở trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về
đường cơ sở. Từ những mục đích trên, đề tài có nhiệm vụ:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về đường cơ sở như: đặc điểm của
đường cơ sở, các quy định của pháp luật về đường cơ sở trên biển theo quy định của
Công ước Luật biển 1982 và pháp luật Việt Nam. Từ đó cho thấy những yêu cầu của
việc điều chỉnh pháp luật đối với đường cơ sở.
- Nghiên cứu và đánh giá một cách toàn diện thực trạng các quy định và thực tiễn
áp dụng pháp luật về đường cơ sở. Thông qua đó nêu lên những tồn tại, hạn chế, bất
cập của các quy phạm pháp luật văn bản về đường cơ sở hiện hành.
- Đề ra các định hướng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy phạm pháp luật
văn bản về đường cơ sở trên biển.
3. Phạm vi nghiên cứu
Việc xác định đường cơ sở là một vấn đề nhạy cảm, có ảnh hưởng lớn đến việc
xác định quyền, chủ quyền trên biển của một quốc gia. Vì vậy có nhiều quan điểm, ý
kiến khác nhau về việc xác định đường cơ sở. Trong đề tài người viết chủ yếu tập
trung nghiên cứu các vấn đề lý luận cơ bản về đường cơ sở. Quy định về đường cơ sở
theo Công ước về Luật biển 1982 và pháp luật Việt Nam, thực tiễn đường cơ sở của
Việt Nam. Qua đó nêu lên một số tồn tại, hạn chế của pháp luật về đường cơ sở và
những giải pháp để hoàn chỉnh đường cơ sở của nước ta.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở quan điểm của Đảng và Nhà nước ta, hệ thống quy phạm pháp luật
về biển của Việt Nam và Công ước Luật biển 1982, đặc biệt pháp luật về đường cơ sở
3
SVTH: Nguyễn Trọng Toàn
Nghiên cứu về đường cơ sở theo quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật
biển 1982 và pháp luật Việt Nam
CHƯƠNG 1 :
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BIỂN, LUẬT BIỂN VÀ ĐƯỜNG
CƠ SỞ ĐỂ TÍNH CHIỀU RỘNG LÃNH HẢI
1.1 Khái quát chung về biển
1.1.1. Khái quát về biển quốc tế
Biển và đại dương chiếm 71% diện tích Trái đất. Biển và đại dương có những
nguồn tài nguyên sinh vật, năng lượng, khoáng sản đa dạng và to lớn. Nói đến biển là
nói đến cái nôi của sự đa dạng sinh học với 15 vạn loài động vật và 2 vạn loài thực vật
đã được phát hiện, trong đó có 400 loài cá và hơn 100 loài hải sản có giá trị kinh tế
cao. Biển không chỉ có tài nguyên sinh vật mà còn rất giàu khoáng sản.
Biển và Đại dương được cấu tạo từ các thành phần được quan tâm nhiều:
- Khối lượng nước có nhiều tài nguyên sinh vật quý giá cũng như các tài nguyên
không sinh vật hòa tan trong nước biển (trên 40 thành phần hóa chất trong nước biển ).
- Thềm lục địa chứa 90% trữ lược dầu khí ngoài khơi; đáy đại dương và các dải
núi đại dương nơi chứa đựng các quặng đa kim.
Sản lượng đánh bắt cá biển của thế giới từ những năm 1990 là vào khoảng 90 triệu tấn/
năm.
Sản lượng sản xuất thực vật biển vào khoảng 300 tỷ tấn/ năm (chủ yếu là thực vật nổi
), trong đó có các động vật ăn cỏ tiêu thụ 70 tỷ tấn, con người tiêu thụ trực tiếp 250300 triệu tấn.
Tài nguyên không sinh vật của biển có thể chia làm ba loại:
- Các tài nguyên của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển: cát, sỏi, san hô, trai
đã tác động đến toàn bộ đời sống con người một cách trực tiếp hay gián tiếp1.
1.1.2.Khái quát về biển Việt Nam
Vùng biển Việt Nam thuộc vùng biển Đông, vị trí biển Đông với diện tích toàn
bộ là 3.447.000 ki-lô-mét vuông, (khoảng 648.000 hải lý vuông). Là một trong sáu
biển lớn nhất thế giới, nối với hai đại dương là Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương.
Việt Nam có 2779 hòn đảo lớn nhỏ hợp thành một hệ thống với tổng diện tích
1.636 ki-lô-mét vuông. Do đặc điểm kiến tạo các đảo này phân bố không đều, chủ yếu
tập trung ở 2 khu vực biển vịnh Bắc Bộ và Nam Bộ.
Trong 2779 hòn đảo ven bờ Việt Nam có 82 đảo có diện tích lớn hơn 1 ki-lô-mét
vuông chiếm 92% tổng diện tích, trong đó có 23 đảo có diện tích lớn hớn 10 ki-lô-mét
vuông và 3 đảo có diện tích lớn hơn 100 ki-lô-mét vuông và 1295 đảo nhỏ chưa có tên.
Tuy phân bố không đều nhưng trên tất cả các vùng biển ven bờ Việt Nam đều có các
đảo che chắn ở mức độ khác nhau2.
Việt Nam có 2 quần đảo xa bờ là Hoàng Sa và Trường Sa. Quần đảo Hoàng Sa
chiếm khoảng trên 15.000 ki-lô-mét vuôn, có hơn 30 đảo, bãi đá, bãi cạn. Quần đảo
Trường Sa có trên 1360 đảo lớn, nhỏ (đảo san hô, mỏm đá nổi và chìm) chiếm khoảng
1
2
Ts. Nguyễn Hồng Thao: những điều cần biết về luật biển, Nxb Công an nhân dân 1997,Tr6
Ban Biên giới Chính phủ, Đại học quốc gia Hà Nội, Giáo trình nâng cao trình độ quản lý biển, Hà Nội, 6-1996.
GVHD: Ths. Kim Oanh Na
5
SVTH: Nguyễn Trọng Toàn
Dương sang Ấn Độ Dương trong tương lai sẽ có tiềm năng phát triển các dịch vụ trên
biển.
3
Báo cáo của Bộ Thủy sản tháng 9 năm 1996
GVHD: Ths. Kim Oanh Na
6
SVTH: Nguyễn Trọng Toàn
Nghiên cứu về đường cơ sở theo quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật
biển 1982 và pháp luật Việt Nam
Du lịch: Bờ biển dài có nhiều bãi cát, vụng, vịnh, hang động tự nhiên đẹp, hải
đảo có nhiều loài động vật quý hiếm là tiềm năng du lịch lớn.
Về an ninh quốc phòng: Biển nước ta nằm trên đường giao thông biển quốc tế từ
Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam, vì vậy có vị trí quân sự hết sức quan trọng đây
được coi là đường giao thông biển nhộn nhịp thứ 2 trên thế giới. Đặc biệt ở quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa có ý nghĩa phòng thủ chiến lước quan trọng đối với nhiều
nước. Nằm ở trung tâm biển Đông quần đảo Trường Sa và Hoàng sa là một trong
những những khu vực có nhiều tuyến đường biển đi qua nhất thế giới. Vì vậy, bảo vệ
chủ quyền trên 2 quần đảo là nhiệm vụ vô cùng quan trọng và luôn đặt lên hàng đầu
với nhà nước ta4.
1.1.3. Biển Đông và tầm quan trọng của biển Đông
Biển Đông là một biển rìa lục địa, một phần của Thái Bình Dương bao phủ một
diện tích từ Singapore tới eo biển Đài Loan với diện tích toàn bộ vào khoảng
Nghiên cứu về đường cơ sở theo quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật
biển 1982 và pháp luật Việt Nam
Theo đánh giá của Bộ năng lượng Mỹ, lượng trữ dầu đã được kiểm chứng ở
Biển Đông là 07 tỷ thùng vớ khả năng sản xuất 2,5 triệu thùng/ ngày. Theo đánh giá
của Trung Quốc, trữ lượng dầu khí ở Biển Đông khoảng 313 tỷ thùng, trong đó trữ
lượng dầu tại quần đảo Trường Sa có thể lên tới 105 tỷ thùng. Với trữ lượng này và
sản lượng khai thác có thể đạt 18,5 triệu tấn/năm duy trì được trong vòng 15- 20 năm
tới. Các khu vực có tiềm năng dầu khí còn lại chưa khai thác là khu vực thềm lục địa
ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và bờ biển miền Trung khu vực thềm lục địa Tư Chính6.
Tầm quan trọng của Biển Đông: Biển Đông nằm trên tuyến đường giao thông
biển huyết mạch nối liền Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, Châu Âu - Châu Á, Trung
Đông - Châu Á. Năm trong số mười tuyến đường biển thông thương lớn nhất trên thế
giới liên quan đến Biển Đông gồm: tuyến Tây Âu, Bắc Mỹ qua Địa Trung Hải, kênh
đào Xuy-ê, Trung Đông đến Ấn Độ, Đông Á, Úc, Niu Di Lân; tuyến Đông Á đi qua
kênh đào Panama đến bờ Đông Bắc Mỹ và Caribe; tuyến Đông Á đi Úc và Niu Di
Lân, Nam Thái Bình Dương; tuyến Tây Bắc Mỹ đến Đông Á và Đông Nam Á. Đây
được coi là tuyến đường vận tải quốc tế nhộn nhịp thứ hai của thế giới. Trong khu vực
Đông Nam Á có khoảng 536 cảng biển, trong đó có hai cảng vào loại lớn và hiện đại
nhất thế giới là cảng Singapore và Hồng Công7.
Khu vực Biển Đông có những eo biển quan trọng đối với nhiều nước, với 4
trong 16 con đường chiến lược của thế giới nằm trong khu vực Đông Nam Á
(Malacca, Lombok, Sunda, Ombai - Wetar). Đặc biệt eo biển Malacca là eo biển nhộn
nhịp thứ hai trên thế giới (sau eo biển Hormuz).
Khu vực biển Đông chiếm một phần ba toàn bộ đa dạng sinh học biển thế giới, vì
vậy nó là vùng rất quan trọng đối với hệ sinh thái (Theo những nghiên cứu do Sở môi
trường và các nguồn lợi tự nhiên Philippines). Ngoài ra biển Đông còn có tiềm năng
phát triển kinh tế biển phong phú như các nghành thủy hải sản, khoáng dầu, dầu mỏ,
giao thông và du lịch.
khu vực đồng thời là địa điểm du lịch hấp dẫn trong nước và nước ngoài, Các tài
nguyên sinh vật, khoáng sản đặc biệt là dầu mỏ ở khu vực này có tiềm năng phát triển.
Vì thế nên việc bảo vệ chủ quyền trên quần đảo Trường Sa và Hoàng sa là hết sức
quan trọng. Việt Nam và quần đảo Trường Sa sẽ trở thành chiếc cầu nối cực kì quan
trọng để phát triển thương mại quốc tế và mở rộng giao lưu với các nước trong khu
vực và trên thế giới.
1.2. Khái quát chung về Luật biển
1.2.1.Khái quát về Luật biển quốc tế
* Khái niệm: Luật biển là một ngành luật trong hệ thống pháp luật quốc tế, bao
gồm tổng hợp các nguyên tắc, quy phạm được hình thành bằng sự thỏa thuận giữa các
chủ thể của luật quốc tế (trước tiên và chủ yếu là giữa các quốc gia) nhằm điều chỉnh
các mối quan hệ phát sinh giữa các chủ thể trong hoạt động khai thác, sử dụng, quản lý
và bảo vệ môi trường biển vì mục đích hòa bình.
Về cấu trúc và vị trí pháp luật thì luật biển quốc tế là ngành luật độc lập thuộc hệ
thống Luật quốc tế, bao gồm tổng thể các nguyên tắc, quy phạm điều chỉnh quan hệ
quốc tế phát sinh trong lĩnh vực sử dụng và khai thác biển vì mục đích hòa bình và lợi
ích thiết thực của các chủ thể khác nhau. Luật biển quốc tế mang đầy đủ đặc điểm của
luật quốc tế. Bên cạnh đó, luật biển quốc tế còn có những đặc điểm riêng của một
nghành luật độc lập.
Ở góc độ khoa học luật quốc tế, luật biển quốc tế là môn khoa học pháp lý
chuyên ngành, nghiên cứu về các vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra trong quan hệ quốc
tế giữa các quốc gia và thực thể khác, liên quan đến việc thiết lập, thực thi chủ quyền,
các chủ quyền và hợp tác quốc tế của quốc gia đối với sử dụng và khai thác biển. Tiếp
cận hệ thống quy phạm pháp lý quốc tế áp dụng trên biển từ hai phương diện khoa học
GVHD: Ths. Kim Oanh Na
9
SVTH: Nguyễn Trọng Toàn
triển theo hướng dân chủ, tiến bộ và thích ứng với nhu cầu của thời đại.
- Việc thực thi luật biển quốc tế là quá trình các chủ thể luật biển áp dụng cơ chế hợp
pháp, phù hợp để đảm bảo các quy định của luật biển quốc tế được thi hành và được
tôn trọng đầy đủ trong đời sống quốc tế.
* Nguồn của luật biển:
- Nguồn lịch sử:
GVHD: Ths. Kim Oanh Na
10
SVTH: Nguyễn Trọng Toàn
Nghiên cứu về đường cơ sở theo quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật
biển 1982 và pháp luật Việt Nam
Luật biển đã được hình thành từ rất sớm trong lịch sử, vào thời cổ đại, ở Hy Lạp,
Ai Cập và La Mã đã xuất hiện các tập quán về biển.
Văn kiện phân chia biển đầu tiên đó là Sắc chỉ ''Inter Coetera'' của Giáo hoàng
Alexandre VI ngày 04/5/1493. Đường chia của Giáo hoàng cách phía Tây của đảo
Vert 100 liên (một liên tương đương 182m), phân đại dương thành hai khu vực ảnh
hưởng cho hai nước Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Thực chất đó là đường phân chia
khu vực truyền đạo của hai quốc gia này đã nhanh chóng chuyển thành khu vực ảnh
hưởng của họ8.
Năm 1609, Hugo Grotius viết cuốn ''Mare Liberum'' để biện minh cho các
quyền tự do trên biển. Tư tưởng này được các quốc gia tư bản mới hoan nghênh vì nó
tạo sức cạnh tranh với sự phân chia trên, tạo điều kiện cho các quốc gia hàng hải khác
như Hà Lan, Anh... phát triển. Năm 1635, luật gia người Anh - John Selden đáp lại
bằng cuốn sách ''Mare Clausum'', khẳng định quyền của vua Anh thực hiện chủ quyền
Nghiên cứu về đường cơ sở theo quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật
biển 1982 và pháp luật Việt Nam
Năm 1970, tại Comlombo, trước Ủy ban tư vấn pháp lý Á-Phi và 6/1972, tại hội
nghị khu vực các quốc gia châu Phi tổ chức tại Yaoundé, Kenya đưa ra sáng kiến
thành lập vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý. Năm 1973, sáng kiến này được sửa
đổi dưới dạng “dự thảo các điều khoản về vùng đặc quyền kinh tế do các nước Á-Phi
trình bày cho Ủy ban đáy biển”10.
b/ Các Nghị quyết của Đại Hội đồng Liên hợp quốc.
Nghị quyết 1803 (XVII) 18/12/1962 “Tuyên bố về chủ quyền vĩnh cửu trên các
tài nguyên thiên nhiên”; 3016 (XXVII) năm 1972 về chủ quyền vĩnh cửu của các quốc
gia trên các tài nguyên các vùng biển nằm trong ranh giới tài phán quốc gia và 3171
(XXVIII) 17/12/1973 “chủ quyền trên các tài nguyên thiên nhiên” nhắc lại các nguyên
tắc của hai Nghị quyết trên.
Nghị quyết 2749 (XXV) 17/12/1970 “Tuyên bố về các nguyên tắc quản lý đáy
biển và đại dương cũng như các lòng đất của chúng nằm ngoài ranh giới quyền tài
phán quốc gia”.
c/ Các phán quyết của Tòa án pháp lý quốc tế:
Vụ eo biển Corfou ngày 9/4/1949.
Vụ ngư trường Anh - Na UY ngày 18/12/1951 về đường cơ sở thẳng.
Vụ thềm lục điạ Biển Bắc ngày 20/2/1969.
Các vụ án khác như vụ tàu Lotus ngày 7/9/1927 giữa Pháp và Thổ Nhĩ Kỳ.
Thềm lục địa Anh- Pháp ngày 30/6/1977...đã đóng góp trong việc điển chế hóa Luật
biển.
d/ Các hội nghị pháp điển hóa.
Mãi cho tới năm 1930, Hội nghị quốc tế đầu tiên về luật biển, mới được triệu
tập tại Lahay nhằm giải quyết các vấn đề về quy chế lãnh hải, chống cướp biển, các
nguyên tắc sử dụng tài nguyên thiên nhiên biển. Do có nhiều mâu thuẫn nên hội nghị
Lahay chỉ đạt được về vấn đề công nhận các quốc gia có một lãnh hải rộng ít nhất ba
hải lý và một vùng tiếp giáp lãnh hải.
17/3/1960 tại Giơnevơ về bề rộng lãnh hải. Hội nghị này không đưa ra được một kết
quả khả quan nào.
Hội nghị lần Thứ ba của Liên Hiệp Quốc về luật biển sau năm năm trù bị
(1967-1972). Và chín lần đàm phán thương lượng (1972-1982) với 144 quốc gia và 08
cơ quan đại diện đặc biệt, tham gia đã thông qua được Công ước mới về luật biển. Văn
kiện cuối cùng được thông qua vào ngày 10/12/1982 tại Mongtego-Bay, Giamaica.
Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển 1982 có hiệu lực từ ngày
16/11/1994 thực sự là một bản hiến pháp mới về biển của cộng đồng quốc tế. Là văn
kiện tổng hợp toàn diện, đề cập tới tất cả các vấn đề thuộc lĩnh vực pháp lý, kinh tế,
khoa học kĩ thuật, môi trường…nó phản ánh một sự nhất trí rộng rãi về hầu hết các
vấn đề liên quan đến biển, nhằm mục đích xác lập một trật tự pháp lý để điều chỉnh
hoạt động của các quốc gia trong quá trình khai thác, sử dụng và bảo vệ biển và Đại
dương.
* Các nguyên tắc của luật biển quốc tế:
Có 6 nguyên tắc cơ bản trong luật biển quốc tế hiện đại:
1/ Nguyên tắc tự do biển cả;
2/ Nguyên tắc đất thống trị biển;
GVHD: Ths. Kim Oanh Na
13
SVTH: Nguyễn Trọng Toàn
Nghiên cứu về đường cơ sở theo quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật
biển 1982 và pháp luật Việt Nam
3/ Nguyên tắc sử dụng biển cả vì mục đích hòa bình;
4/ Nguyên tắc Vùng và tài nguyên trên Vùng là di sản chung của nhân loại;
14
SVTH: Nguyễn Trọng Toàn
Nghiên cứu về đường cơ sở theo quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật
biển 1982 và pháp luật Việt Nam
Ngày 23/6/1994, Việt Nam phê chuẩn Công ước về luật biển 1982
Bộ luật hàng hải Việt Nam ngày 30/06/1990 được thông qua ngày 30/6/1990
Các Nghị định của hội đồng bộ Trưởng và nghị định của Chính phủ cũng là một
trong các nguồn của Luật biển Việt Nam trong giai đoạn này.
b/ Nguồn của Luật biển Việt Nam
- Các văn kiện pháp lý chính của Việt Nam
Tuyên bố của chính phủ Nước Cộng hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam ngày
12/5/1977 về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt
Nam;
Nghị định của hội đồng Chính phủ số 30-CP ngày 29/1/1980 về Quy chế cho tàu
thuyền nước ngoài hoạt động trên các vùng biển của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa
Việt Nam;
Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam về đường
cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam ngày 12/11/1982;
Pháp lệnh bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ hải sản ngày 25/4/1989. Hội đồng
nhà nước thông qua ngày 2/6/1990;
Nghị định 195-HĐBT về việc thi hành Pháp lệnh bảo vệ và phát triển nguồn lợi
thủy sản ngày 2/6/1990;
Bộ luật Hàng hải Việt Nam 1990;
Nghị định của Hội đồng bộ trưởng số 242-HĐBT, ban hành ngày 5/8/1991 quy
định về việc các bên nước ngoài và phương tiện nước ngoài vào nghiên cứu khoa học
ở các vùng biển Nước Cộng hòa Xã hội chủ Nghĩa Việt Nam;
tại các cảng biển Việt Nam;
Các quy định của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về cơ bản đều phù
hợp với công ước về Luật biển 1982. Qua đó khẳng định quan điểm của nhà nước Việt
Nam liên quan đến vấn đề biển và chủ quyền trên biển đảo của Việt Nam. Khẳng định
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có sự quan tâm lớn tới Luật biển quốc tế
sẵn sàng hợp tác với các nước trên tinh thần đoàn kết để cùng nhau phát triển trong
hòa bình của Liên Hợp Quốc đề ra đồng thời cũng khẳng định chủ quyền của nhà nước
Việt Nam trên biển và quyền đó là quyền thiêng liêng, bất khả xâm pham.
1.3. Khái quát chung về các vùng biển theo quy định của công ước về luật
biển 1982
Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển 1982, là văn kiện tổng hợp toàn
diện, đề cập tới tất cả các vấn đề thuộc lĩnh vực pháp lý, kinh tế, khoa học kĩ thuật,
môi trường… nó phản ánh một sự nhất trí rộng rãi về hầu hết các vấn đề liên quan đến
biển, và nhằm mục đích xác lập một trật tự pháp lý để điều chỉnh hoạt động của các
quốc gia trong quá trình khai thác, sử dụng và bảo vệ biển và Đại dương.Trật tự pháp
lý biển, được xác định đối với các vùng biển rất đa dạng và phức tạp. Căn cứ vào Công
GVHD: Ths. Kim Oanh Na
16
SVTH: Nguyễn Trọng Toàn
Nghiên cứu về đường cơ sở theo quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật
biển 1982 và pháp luật Việt Nam
ước Luật biển 1982, dựa vào tính chất chủ quyền quốc gia ven biển, các vùng biển
được phân chia thành:
1.3.1.Các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia
Công ước về Luật biển của Liên hợp quốc 1982
GVHD: Ths. Kim Oanh Na
17
SVTH: Nguyễn Trọng Toàn
Nghiên cứu về đường cơ sở theo quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật
biển 1982 và pháp luật Việt Nam
có danh nghĩa lịch sử hay có vị trí địa lý đặc biệt gắn liền với lãnh thổ quốc gia và là
một bộ phận cấu thành không thể tách rời của lãnh thổ quốc gia. Đồng thời nó có ý
nghĩa đặc biệt về an ninh, quốc phòng, kinh tế… đối với quốc gia ven biển và cách xa
đường hàng hải quốc tế.
+ Cảng biển
Cảng biển: là một khu vực trung gian nối liền biển với đất liền có thể là cảng
dùng cho thương mại quốc phòng hay cảng chuyên dùng. Quy chế Geneva ngày
9/12/1922 định nghĩa: cảng biển là tất cả các cảng thường xuyên có tàu biển ra vào và
được sử dụng phục vụ cho mậu dịch đối ngoại.
+ Vũng đậu tàu
Vũng đậu tàu: Nếu nó đóng vai trò là tiền cảng, không tách rời khỏi cảng biển
thì mang chế độ pháp lý của cảng biển tức nội thủy. Nếu mang tính độc lập thì có thể
là một bộ phận của nội thủy nếu nằm trong khu vực nội thủy hoặc thuộc lãnh hải nếu
nằm ở lãnh hải hoặc bên ngoài lãnh hải (điều 12 Công ước Luật biển 1982).
+ Cửa sông
Trong trường hợp quốc gia ven biển có sông trực tiếp đổ ra biển mà không tạo
thành các vũng thì phần nước nội thủy được xác định là vùng nước nằm bên trong
đường cơ sở về phía đất liền lục địa, khép cửa sông. Đường cơ sở này là một đường
nội thủy phải vận hành ở tư thế nổi, phải treo cờ mà tàu mang quốc tịch và phải chấp
hành nghiêm các quy định của nước sở tại đối với các loại tàu nổi của nước ngoài ở
nội thủy. Tàu thuyền nước ngoài khi ở nội thủy không được gây ô nhiêm môi trường.
+ Thẩm quyền tài phán
- Thẩm quyền tài phán dân sự:
Đối với tàu dân sự thương mại, Luật Biển quốc tế công nhận thẩm quyền tài
phán dân sự của quốc gia ven biển trong trường hợp có hành vi vi phạm của tàu thuyền
nước ngoài. Các tranh chấp phát sinh trong nội bộ thủy thủ đoàn thuộc quyền tài phán
của quốc gia mà tàu mang cờ.
Tàu thuyền Nhà nước được hưởng quyền miễn trừ dân sự, tức không bị bắt giữ,
cầm cố và áp dụng các biện pháp tư pháp khác. Trong trường hợp tàu này có hành vi
vi phạm quốc gia ven biển có quyền yêu cầu tàu thuyền nhà nước của nước ngoài phải
rời khỏi vùng nội thủy nước mình.
- Thẩm quyền tài phán hình sự
Trong trường hợp của tàu thương mại thì về nguyên tắc, quốc gia ven biển
không can thiệp vào các xung đột bạo lực diễn ra trên tàu nước ngoài đậu tại cảng biển
của mình. Nhưng cơ quan có thẩm quyền của quốc gia sở tại có quyền can thiệp nếu:
+ Hành vi phạm tội do một người ngoài thủy thủ đoàn thực hiện
+ Thuyền trưởng yêu cầu chính quyền sở tại can thiệp
+ Hậu quả của hành vi pham tội có ảnh hưởng đến an ninh, trật tự của cảng biển
Tàu quân sự và tàu Nhà nước phi thương mại của nước ngoài, về nguyên tắc
được hưởng quyền miễn trừ tài phán tuyệt đối. Trong trường hợp có hành vi vi phạm,
quốc gia nơi tàu đang hoạt động có quyền yêu cầu tàu thuyền vi phạm rời khỏi vùng
biển của mình.
GVHD: Ths. Kim Oanh Na
19
SVTH: Nguyễn Trọng Toàn
Giơnevơ năm 1958 về lãnh hải và vùng tiếp giáp, cũng như Điều 2 của Công ước năm
1982 của Liên Hợp quốc về Luật biển ghi rõ: ''Chủ quyền của quốc gia ven biển được
mở rộng ra ngoài lãnh thổ và nội thủy của mình,... đến một vùng biển tiếp liền, gọi là
lãnh hải''. Tuy nhiên, việc đồng hóa lãnh hải thành lãnh thổ không phải là tuyệt đối.
Chủ quyền giành cho quốc gia ven biển trên lãnh hải không phải là tuyệt đối như trên
các vùng nước nội thủy, do sự thừa nhận quyền đi qua không gây hại của tàu thuyền
nước ngoài trong lãnh hải.
12
Công ước về Luật biển của Liên hợp quốc 1982 Điều 3
GVHD: Ths. Kim Oanh Na
20
SVTH: Nguyễn Trọng Toàn
Nghiên cứu về đường cơ sở theo quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật
biển 1982 và pháp luật Việt Nam
Quyền đi qua không gây hại: Là một nguyên tắc tập quán của luật quốc tế, được
thừa nhận bằng thực tiễn của các quốc gia. Công ước Giơnevơ 1958 đã pháp điển hoá
quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải của quốc gia ven biển cho tàu thuyền nước
ngoài. Công ước cũng gián tiếp công nhận quyền đi qua không gây hại cho tàu thuyền
quân sự nước ngoài, vì nó có điều khoản cho phép quốc gia ven biển được yêu cầu tàu
thuyền quân sự nước ngoài rời khỏi lãnh hải của mình trong trường hợp các tàu này vi
phạm luật lệ của quốc gia ven biển13.
Chiều rộng lãnh hải: Hai hội nghị đầu tiên của Liên Hợp Quốc về Luật biển đã
thất bại trong việc thống nhất hoá chiều rộng lãnh hải. Trước khi có Công ước Luật
SVTH: Nguyễn Trọng Toàn
Nghiên cứu về đường cơ sở theo quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật
biển 1982 và pháp luật Việt Nam
Theo quy định của luật biển, thẩm quyền tài phán dân sự được quy định phụ
thuộc vào từng trường hợp cụ thể như sau:
Quốc gia ven biển sẽ có thẩm quyền xét xử dân sự theo quy định của pháp luật
trong nước của mình, nếu tàu thuyền nước ngoài dừng lại trong lãnh hải hoặc đang đi
qua lãnh hải sau khi rời nội thủy;
Quốc gia ven biển không có quyền cầm giữ, bắt thay đổi hành trình của tàu
thuyền nước ngoài để thực hiện thểm quyền tài phán dân sự đối với một cá nhân đang
ở trên tàu đó, nếu tàu thuyền đó chỉ đi qua lãnh hải;
Quốc gia ven biển có quyền bắt giữ hay tiến hành dự thẩm, nếu tàu thuyền nước
ngoài vi phạm những nghĩa vụ đã cam kết hay các trách nhiệm đã cam kết thực hiện để
được đi qua vùng lãnh hải của quốc gia ven biển.
- Thẩm quyền tài phán hình sự
Các Công ước 1958 cũng như Công ước 1982 đã quy định. Tòa án của quốc gia
ven biển không có quyền bắt giữ để tiến hành thẩm vấn hoặc xét xử sau một vụ vi
phạm hình sự xảy ra trên con tàu khi đi qua lãnh hải để vào nội thủy trừ khi phát sinh
một trong các trường hợp sau đây:
Hậu quả của hành vi vi phạm có ảnh hưởng đến quốc gia ven biển;
Sự vi phạm có tính chất phá hoại hòa bình, trật tự và an ninh của quốc gia này;
Thuyền trưởng hay cơ quan ngoại giao – lãnh sự của quốc gia mà tàu mang cờ
yêu cầu giúp đỡ;
Biện pháp này là cần thiết để ngăn chặn và trừng trị các hành vi buôn lậu ma
túy hay các chất hướng thần.
1.3.2. Các vùng biển thuộc quyền chủ quyền của quốc gia
* Vùng tiếp giáp lãnh hải: