Thẩm quyền tài phán của quốc gia ven biển theo quy định của công ước liên hợp quốc về luật biển năm 1982 và liên hệ thực tiển việt nam - Pdf 52

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

CHU HẢI ĐĂNG

THẨM QUYỀN TÀI PHÁN CỦA QUỐC GIA VEN BIỂN THEO QUY ĐỊNH
CỦA CÔNG ƯỚC LIÊN HỢP QUỐC VỀ LUẬT BIỂN NĂM 1982 VÀ LIÊN
HỆ THỰC TIỄN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - NĂM 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

CHU HẢI ĐĂNG

THẨM QUYỀN TÀI PHÁN CỦA QUỐC GIA VEN BIỂN THEO QUY ĐỊNH
CỦA CÔNG ƯỚC LIÊN HỢP QUỐC VỀ LUẬT BIỂN NĂM 1982 VÀ LIÊN
HỆ THỰC TIỄN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Quốc tế



MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ THẨM QUYỀN TÀI PHÁN CỦA QUỐC GIA VEN
BIỂN ĐỐI VỚI TÀU THUYỀN
6
1.1. Khái quát các quy định của Pháp luật quốc tế liên quan đến thẩm
quyền tài phán
6
1.1.1. Hội nghị lần thứ ba của Liên hợp quốc về Luật biển
6
1.1.2. Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982
7
1.2. Tàu thuyền và quốc tịch của tàu thuyền
11
1.2.1. Khái niệm tàu thuyền
11
1.2.2. Quốc tịch của tàu thuyền
12
1.3. Thẩm quyền tài phán của quốc gia ven biển
13
1.3.1. Khái niệm thẩm quyền tài phán
13
1.3.2. Phân biệt quyền tài phán, quyền chủ quyền và chủ quyền
15
1.3.3. Các nguyên tắc xác định thẩm quyền tài phán
16

2.3. Thẩm quyền tài phán của quốc gia ven biển tại vùng biển quốc tế
42
2.3.1. Thẩm quyền tài phán của quốc gia ven biển đối với tàu mang
cờ và cá nhân mang quốc tịch của mình
42


2.3.2. Thẩm quyền tài phán của quốc gia ven biển trong trường hợp
áp dụng quyền truy đuổi
44
2.3.3. Thẩm quyền tài phán của quốc gia ven biển theo nguyên tắc
phổ cập
46
Chương 3
THẨM QUYỀN TÀI PHÁN CỦA VIỆT NAM TRÊN CÁC VÙNG
BIỂN
51
3.1. Quá trình pháp điển hóa Luật biển Việt Nam
51
3.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Luật biển Việt Nam 51
3.1.2. Luật biển Việt Nam năm 2012
56
3.2. Thẩm quyền tài phán của Việt Nam trong các vùng biển thuộc
chủ quyền quốc gia
59
3.2.1. Thẩm quyền tài phán của Việt Nam trong nội thủy
59
3.2.2. Thẩm quyền tài phán của Việt Nam trong lãnh hải
63
3.3. Thẩm quyền tài phán của Việt Nam trong các vùng biển thuộc

Việt Nam là một quốc gia nằm ven biển Đông có đường bờ biển dài
3.260 km, với các vùng biển rộng lớn có tổng diện tích lên tới 1 triệu km2.
Điều kiện địa lý như vậy không những đem lại lợi ích từ tài nguyên thiên
nhiên như hải sản, dầu khí, năng lượng sạch hay du lịch và vận tải biển mà
còn có ý nghĩa đặc biệt về quốc phòng - an ninh đối với Việt Nam.
Các hoạt động trên biển ngày càng gia tăng và phức tạp, quyền và lợi
ích các quốc gia trên biển rất đa dạng và quan trọng, đồng thời sự tranh chấp
trên biển cũng ngày càng gay gắt và quyết liệt. Yêu cầu tất yếu đặt ra là phải
tăng cường quản lý Nhà nước để bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền
tài phán và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của Việt Nam trên biển. Việc
bảo vệ và thực thi chủ quyền, các quyền và lợi ích hợp pháp khác là nhu cầu
không chỉ của riêng Việt Nam mà của tất cả các quốc gia trên thế giới, đặc
biệt là những quốc gia ven biển.
Quyền tài phán là hệ quả của quyền chủ quyền, có tác dụng hỗ trợ, tạo
ra môi trường để thực hiện quyền chủ quyền được tốt hơn. Việc thực thi
quyền tài phán sao cho phù hợp với pháp luật quốc tế mà nổi bật là Công
ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 (UNCLOS) và lợi ích của quốc
gia là đòi hỏi vô cùng cấp thiết. Xuất phát từ các lý do như đã trình bày trên,
học viên chọn đề tài luận văn với nội dung: “Thẩm quyền tài phán của quốc
gia ven biển theo quy định của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển
năm 1982 và liên hệ thực tiễn Việt Nam”, với mong muốn phục vụ nhu cầu
của khoa học pháp lý và đáp ứng những đòi hỏi thực tiễn đặt ra.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Thẩm quyền tài phán của quốc gia ven biển là một vấn đề pháp lý và
thực tiễn khá phức tạp, vì vậy, số lượng các tài liệu nghiên cứu, đánh giá một
cách tổng quan về vấn đề này chưa nhiều. Ở Việt Nam, trong những năm gần
đây, do ý thức được tầm quan trọng của biển đảo trong việc đảm bảo an ninh
- quốc phòng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đặc biệt là trước
tình hình tranh chấp trên biển Đông giữa các quốc gia trong khu vực diễn
biến ngày càng phức tạp, nhiều học giả cũng đã có những công trình nghiên

Tác giả đặt ra và giải quyết các mục tiêu sau:
- Khái quát về lịch sử hình thành, phát triển của Luật Biển quốc tế, đặc biệt
chú trọng sự ra đời của UNCLOS 1982.
- Trình bày và phân tích làm rõ các khái niệm có liên quan như: tàu thuyền,
quốc tịch tàu thuyền, thẩm quyền tài phán và đưa ra các nguyên tắc xác định
thẩm quyền tài phán.
- Phân tích tình hình thực tiễn thực hiện quyền tài phán trên biển của Việt
Nam.
5. Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn


9

Với mục tiêu, phạm vi và nhiệm vụ đã đặt ra, nội dung của luận văn
dự kiến sẽ đạt tới những kết quả mới sau đây. Cụ thể là tiếp tục góp phần
làm sáng tỏ bản chất pháp lý của các quy định về thẩm quyền tài phán của
quốc gia ven biển trên các vùng biển theo Luật quốc tế (cụ thể là theo quy
định của UNCLOS); Trên cơ sở phân tích Pháp luật quốc tế và pháp luật
Việt Nam cũng như thông qua thực tiễn thực hiện, đề xuất các giải pháp cho
Việt Nam trong việc thực hiện thẩm quyền tài phán trên biển hiện nay. Một
số khó khăn mà Việt Nam có thể gặp phải khi thực hiện thẩm quyền tài phán
trên biển của mình.
6. Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn
Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của
Chủ nghĩa Mác - Lê nin và quan điểm đường lối, chính sách của Đảng, Nhà
nước ta. Để làm sáng tỏ nội dung đề tài nghiên cứu, tác giả sử dụng tổng hợp
các phương pháp nghiên cứu khoa học nói chung và phương pháp nghiên
cứu khoa học pháp lý nói riêng như: phương pháp luận duy vật biện chứng,
phương pháp luận duy vật lịch sử, phương pháp logic, phương pháp so
sánh,...

nghị quốc tế về luật biển được tổ chức vào các thời gian khác nhau có vai trò
hết sức quan trọng. Có thể thấy rằng Luật biển trong giai đoạn trước năm
1930 bao gồm chủ yếu các quy phạm mang tính tập quán. Do vậy, kết quả
đạt được của các hội nghị về luật biển được tổ chức từ sau năm 1930 đánh
dấu bước phát triển mới của luật biển về cả nội dung và hình thức, theo
hướng đa dạng, mở rộng phạm vi các vấn đề được điều chỉnh bởi quy phạm
của luật biển quốc tế và qua đó chứng tỏ sự thống nhất chung của cộng đồng
quốc tế trong việc thiết lập trật tự pháp lý quốc tế trên biển.
Hội nghị lần thứ ba của Liên hợp quốc về Luật biển bao gồm 11 phiên
họp, kéo dài 9 năm từ tháng 12 năm 1973 đến tháng 12 năm 1982. Hội nghị
đã thảo luận nhiều vấn đề quan trọng như: thiết lập thống nhất về chiều rộng
lãnh hải là 12 hải lý; đảm bảo sự qua lại tự do cho các tàu thuyền trong các
eo biển dùng cho hàng hải quốc tế; giải quyết các vấn đề về đánh bắt cá; thiết
lập vùng đặc quyền kinh tế với chiều rộng là 200 hải lý; bảo đảm tự do hàng
hải và nghiên cứu khoa học biển ở vùng biển quốc tế; xác định ranh giới
ngoài và quy chế pháp lý của thềm lục địa; thiết lập quy chế đáy biển ngoài
thềm lục địa và thành lập tổ chức quốc tế về các tài nguyên ở đáy biển này;
thông qua các quy phạm nhằm ngăn ngừa ô nhiễm biển,...
Ngày 10 tháng 12 năm 1982, tại Montego Bay (Giamaica), sau 5 năm
trù bị (1967 - 1972) và 9 năm thương lượng (1973 - 1982), Hội nghị lần thứ
ba của Liên hợp quốc về Luật biển đã thông qua được Công ước của Liên
hợp quốc về Luật biển. Phù hợp với quy định tại điều Điều 308, Công ước đã
chính thức có hiệu lực ngày 16 tháng 11 năm 1994.1

1 Theo quy định của Điều 308, Công ước sẽ chính thức phát sinh hiệu lực sau 12 tháng kể từ ngày lưu chiểu
văn bản phê chuẩn hay tham gia thứ 60. Ngày 16 tháng 11 năm 1993, Guyana là nước thứ 60 phê chuẩn
Công ước.


12

của rìa lục địa, hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải
200 hải lý khi bờ ngoài của rìa lục địa của quốc gia đó ở khoảng cách gần
hơn3. Các quyền của quốc gia ven biển đối với thềm lục địa mang tính chất
2 Tính đến tháng 23/6/2016.
3 UNCLOS, Điều 76. Theo quy định tại điều này, ranh giới phía trong của thềm lục địa là đường biên giới
quốc gia trên biển (ranh giới ngoài của lãnh hải). Ranh giới ngoài của thềm lục địa là bờ ngoài của rìa lục
địa. Việc xác định đường ranh giới này sẽ khác nhau trong hai trường hợp: (i) Khi bờ ngoài của rìa lục địa ở
khoảng cách gần hơn 200 hải lý tính từ đường cơ sở, chiều rộng của thềm lục địa được mở rộng tới 200 hải


13

đặc quyền, tồn tại một cách thực tế và đương nhiên (ipso facto and ab initio),
không phụ thuộc vào sự chiếm hữu thật sự hay danh nghĩa, cũng như vào bất
cứ tuyên bố rõ ràng nào. Điều đó có nghĩa các quốc gia khác không được
quyền tiến hành thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên ở thềm lục địa của
quốc gia ven biển, nếu không được sự cho phép của quốc gia này, ngay cả
trong trường hợp quốc gia ven biển không thăm dò thềm lục địa hay không
khai thác tài nguyên thiên nhiên của thềm lục địa4.
- Tất cả các quốc gia đều có quyền tự do truyền thống về hàng hải, tự
do hàng không, tự do nghiên cứu khoa học và tự do đánh bắt hải sản trên
vùng biển quốc tế. Các quốc gia có trách nhiệm hợp tác với nhau trong việc
thông qua các biện pháp để quản lý và bảo tồn các tài nguyên sinh vật biển.
- Các quốc gia có chung biên giới tại vùng biển kín hoặc nửa kín cần
hợp tác với nhau trong việc quản lý tài nguyên sinh vật, có chính sách và
hoạt động về môi trường cũng như nghiên cứu khoa học. Các quốc gia có
nghĩa vụ ngăn chặn, kiểm soát ô nhiểm môi trường biển và phải chịu trách
nhiệm đối với những thiệt hại về môi trường do quốc gia đó gây ra.
- Các quốc gia có nghĩa vụ giải quyết bằng biện pháp hoà bình các
tranh chấp liên quan đến giải thích và áp dụng UNCLOS. Công ước không

9 Trích lời Tổng Thư kí LHQ Ban Ki-moon nhân kỉ niệm 30 năm ra đời UNCLOS ngày 11/12/2012.
10 Nguyên văn: “‘Ship’ means a vessel of any type whatsoever operating in the marine environment and
includes hydrofoil boats, air-cushion vehicles, submersibles, floating craft and fixed or floating platforms”,
tham khảo tại địa chỉ: ngày truy
cập 11/07/2016.


15

tàu thuyền (vessel) là “bất kì kiểu tàu (ship), phương tiện hoặc cấu trúc có
khả năng hàng hải”.11
Ở đây ta thấy có hai thuật ngữ dùng để định nghĩa khái niệm tàu
thuyền là “vessel” và “ship”. Tàu thuyền (vessel) là cấu trúc nổi di động
được thiết kế để hoạt động trên biển và các vùng nước liên quan, với chức
năng chuyên chở người hoặc hàng hoá;12 Tàu thuyền (ship) là loại cấu trúc
nổi (vessel) có kích cỡ lớn và có khả năng vượt qua những vùng biển rộng.13
Có thể thấy, “vessel” mang ý nghĩa rộng hơn và bao gồm “ship”. Tuy nhiên,
theo quan điểm của Ủy ban luật quốc tế của Liên hợp quốc, thuật ngữ “ship”
bao gồm tất cả các loại “vessel” hoạt động trên biển hoặc tham gia một phần
vào hoạt động trên biển.14
UNCLOS không đưa ra bất kì định nghĩa nào về tàu thuyền. Trong
UNCLOS xuất hiện cả hai thuật ngữ “vessel” và “ship”, các thuật ngữ này
được dùng tùy vào từng ngữ cảnh khác nhau và không có sự phân biệt giữa
chúng trong Công ước.15
Dù có nhiều cách hiểu và tiếp cận khác nhau song có thể thấy thuật
ngữ tàu thuyền được giải thích chung gắn liền với các phương tiện tham gia
hoạt động trên biển.16 Khái niệm tàu thuyền có thể được định nghĩa như sau:
Là các phương tiện, cấu trúc có khả năng hàng hải và tham gia hoạt động
trên biển.
1.2.2. Quốc tịch của tàu thuyền

“thẩm quyền tài phán” (Jurisdiction).18 Thuật ngữ “thẩm quyền tài phán”
được đề cập trong nhiều điều khoản của UNCLOS. Tuy nhiên, Công ước
cũng không đưa ra bất kì định nghĩa nào về thẩm quyền tài phán. Có nhiều
định nghĩa về thẩm quyền tài phán như “là tổng thể những quyền hạn của
Tòa án hoặc cơ quan hành chính về việc đánh giá khía cạnh pháp lý của
những sự kiện cụ thể, trong đó có việc giải quyết tranh chấp và áp dụng
những chế tài theo luật định”19 hay “quyền tài phán là quyền của cơ quan
hành pháp và tư pháp của một quốc gia xem xét và giải quyết vụ việc theo
thẩm quyền của mình. Trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, quốc gia thực hiện
quyền tài phán đầy đủ,... Quốc gia còn thực hiện quyền tài phán đối với một
số nơi bên ngoài lãnh thổ quốc gia: vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, các
phương tiện bay, tàu biển, tàu thuyền nước ngoài đi lại trong lãnh hải của
mình”.20
Theo nghĩa rộng, thẩm quyền tài phán bao gồm quyền lập pháp (ban
hành pháp luật để điều chỉnh các vấn đề liên quan), hành pháp (đảm bảo thực
thi các quy phạm pháp luật) và tư pháp (xét xử các hành vi vi phạm). Theo
nghĩa hẹp, thẩm quyền tài phán được xác định là quyền xét xử của quốc gia
đối với hành vi vi phạm.21 Hoạt động tài phán có thể thực hiện bởi nhiều loại
cơ quan khác nhau. Không chỉ tòa án mà các cơ quan hành chính hay các cơ
quan khác cũng có quyền tài phán. Quyền tài phán có thể do một cơ quan
độc lập, chuyên trách thực hiện hoặc có thể do một cơ quan thực hiện nhiều
chức năng, trong đó có chức năng tài phán. Điều đó phụ thuộc vào cơ cấu,
phương thức tổ chức quyền lực trong bộ máy nhà nước, vào thẩm quyền mỗi
cơ quan theo quy định của pháp luật. Tùy thuộc vào từng hành vi vi phạm
mà quốc gia có thể áp dụng các biện pháp dân sự, hành chính hay hình sự.
18 Jurisdiction tạm dịch: Thẩm quyền tài phán/ Quyền tài phán.
19 Nguyễn Cửu Việt (2005), Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 678.
20 Trung Tâm Từ Điển Bách Khoa Quân Sự (2004), Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam, Nxb Quân Đội
Nhân Dân, tr. 851.
21 Rudolf Bernhardt (ed., 1997), Encyclopedia of Public International Law, Vol 3, North-Holland, tr. 55.

trong đó có việc lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo các thiết bị và công
trình; nghiên cứu khoa học về biển; bảo vệ và gìn giữ môi trường biển trong
vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa của quốc gia đó.
Có thể phân biệt các khái niệm này thông qua các tiêu chí:
Về phạm vi thực hiện: Chủ quyền và quyền chủ quyền bị hạn chế về mặt
không gian hơn quyền tài phán. Cụ thể, thực hiện chủ quyền sẽ hạn chế trong
lãnh thổ quốc gia; quyền chủ quyền chỉ được áp dụng trên các vùng biển
thuộc quyền chủ quyền của quốc gia là vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục
địa; còn quyền tài phán không bị giới hạn bởi lãnh thổ hay các vùng biển, mà


18

quyền tài phán còn có thể áp dụng rộng ra bên ngoài, như áp dụng với tàu
thuyền mang quốc tịch của mình trên vùng biển quốc tế hay áp dụng với cá
nhân là công dân nước mình ở trên lãnh thổ nước khác...
Về tính chất: Quyền tài phán là cụ thể hóa của chủ quyền và quyền chủ
quyền, có chủ quyền, quyền chủ quyền thì đương nhiên sẽ xuất hiện quyền
tài phán. Chủ quyền chính là cơ sở để mở rộng quyền chủ quyền và quyền tài
phán của quốc gia ra ngoài lãnh thổ quốc gia.
1.3.3. Các nguyên tắc xác định thẩm quyền tài phán
Trên các vùng biển khác nhau, các quốc gia thực hiện thẩm quyền tài
phán với những mức độ, giới hạn khác nhau. Nhìn chung luôn có sự dung
hòa trong việc cân bằng giữa thẩm quyền của quốc gia ven biển và các quốc
gia khác. Cụ thể là càng xa đất liền thì thẩm quyền của quốc gia ven biển
càng giảm và đồng thời thẩm quyền của các quốc gia khác cũng tăng dần.
Thực tiễn cho thấy, các quốc gia thường áp dụng các nguyên tắc sau
để xác định thẩm quyền tài phán đối với hành vi vi phạm xảy ra trên các
vùng biển:
Nguyên tắc lãnh thổ: xác định thẩm quyền tài phán bằng cách dựa trên tham

1.3.3.3. Nguyên tắc cờ tàu
Lá cờ là cơ sở để xác định quốc tịch của con tàu đang hoạt động trên
biển. Các quy định về việc đăng ký quốc tịch cho tàu thuyền đã tạo ra một
liên kết giữa quốc gia mà tàu mang cờ và chiếc tàu đó. Sau khi mối liên kết
đó được xác lập, tàu thuyền sẽ đặt dưới quyền tài phán và sự kiểm soát của
quốc gia mà nó mang quốc tịch. “Mọi quốc gia đều thực sự thi hành quyền
tài phán và sự kiểm soát của mình trong các lĩnh vực hành chính, kỹ thuật và
xã hội đối với các tàu thuyền mang cờ của mình [...] Thi hành quyền tài phán
theo đúng luật trong nước mình đối với bất kỳ tàu thuyền nào mang cờ nước
mình, cũng như đối với thuyền trưởng, sĩ quan và đoàn thủy thủ về các vấn
đề hành chính, kỹ thuật và xã hội liên quan đến tàu thuyền”.23 Khi hoạt động
trên biển cả, các tàu thuyền treo cờ quốc tịch có địa vị pháp lí ngang bằng
nhau và chỉ chịu thẩm quyền tài phán của quốc gia mà tàu mang cờ, trừ một
số trường hợp ngoại lệ cho phép các quốc gia thực hiện thẩm quyền tài phán
phổ cập.
1.3.3.4. Nguyên tắc phổ cập
Trong một số trường hợp đặc biệt, khi cần sự hợp tác của tất cả các
quốc gia nhằm đối phó với một số loại tội phạm có tính chất quốc tế, nguyên
tắc phổ cập sẽ được áp dụng nhằm cho phép các quốc gia thực hiện thẩm
quyền tài phán không phụ thuộc vào địa điểm hay quốc tịch của cá nhân nữa.
22 Nguyên tắc "đất thống trị biển" được đề cập nhiều lần trong các phán quyết của Tòa công lý quốc tế.
Xem Phán quyết của Tòa ngày 20/2/1969 trong vụ Thềm lục địa biển Bắc, Tuyền tập các phán quyết của
Tòa công lý quốc tế, 1969, tr. 51; Phán quyết của Tòa ngày 19/12/1978 trong vụ Thềm lục địa biển Egée,
Tuyền tập các phán quyết của Tòa công lý quốc tế, 1978, tr. 36; Phán quyết của Tòa ngày 16/3/2001 trong
vụ Hoạch định ranh giới trên biển và các vấn đề lãnh thổ giữa Qatar và Bahreïn, Tuyền tập các phán quyết
của Tòa công lý quốc tế, 2001, tr. 97.
23 Điều 94 UNCLOS.


20

gia ven biển, UNCLOS ghi nhận hai phương pháp xác định đường cơ sở:
Phương pháp đường cơ sở thông thường: Đường cơ sở thông thường
dùng để tính chiều rộng lãnh hải là ngấn nước triều thấp nhất dọc theo bờ
biển, như được thể hiện trên các hải đồ tỷ lệ lớn đã được quốc gia ven biển
chính thức công nhận.25 Việc xác định ngấn nước thủy triều thấp nhất là một
quy trình khá đơn giản. Ưu điểm của phương pháp này là phản ánh đúng
đường bờ biển thực tế, hạn chế việc mở rộng thái quá các vùng biển. Mặt
khác, có hạn chế là phương pháp này khó áp dụng đối với các bờ biển khúc
khuỷu, phức tạp hoặc có nhiều đảo gần bờ.
Phương pháp đường cơ sở thẳng: Đây là phương pháp nối liền những
điểm thích hợp được lựa chọn (điểm ngoài cùng nhô ra nhất của bờ biển khi
ngấn nước thủy triều xuống thấp nhất) của bờ biển, các đảo ven bờ tạo thành
một đường liên tiếp gãy khúc và đường này chính là đường cơ sở của quốc
gia ven biển.
UNCLOS quy định một số điều kiện khi áp dụng phương pháp đường
cơ sở thẳng:
24 Đối với quốc gia quần đảo, vùng nước quần đảo cũng là bộ phận lãnh thổ thuộc chủ quyền của quốc gia
đó.
25 Điều 5 UNCLOS.


22

- Ở nơi nào bờ biển bị khoét sâu và lồi lõm;
- Ở nơi nào có một chuỗi đảo nằm sát ngay và chạy dọc theo bờ biển;
- Ở nơi nào bờ biển cực kỳ không ổn định do có một châu thổ và
những đặc điểm tự nhiên khác.
Ngoài ra quốc gia ven biển còn phải đảm bảo đường cơ sở không được
đi chệch quá xa hướng chung của bờ biển và các vùng biển ở bên trong
đường cơ sở này phải gắn với đất liền đủ đến mức đạt được chế độ nội

Trong trường hợp các con sông đổ ra biển trực tiếp, thì phần nước nội
thuỷ cũng được xác định là phần nước nằm bên trong đường cơ sở về phía
lục địa, khép cửa sông. Đường cơ sở này là một đường thẳng được kẻ ngang
qua cửa sông, nối liền các điểm ngoài cùng của ngấn nước triều thấp nhất ở
hai bên bờ sông.28
Vịnh thiên nhiên:
Điều 10 của UNCLOS định nghĩa vịnh tự nhiên do bờ biển của một
quốc gia bao bọc là một vùng lõm sâu rõ rệt vào đất liền mà chiều sâu của
vùng lõm đó so sánh với chiều rộng ở ngoài cửa của nó đến mức là nước của
vùng lõm đó được bờ biển bao quanh và vùng đó lõm sâu hơn là một sự uốn
cong của bờ biển. Tuy nhiên, vùng lõm chỉ được coi là một vịnh pháp lý nếu
nó thoả mãn hai điều kiện:
- Diện tích của vịnh ít nhất cũng bằng diện tích một nửa hình tròn có
đường kính là đường thẳng kẻ ngang qua cửa vào của vùng lõm. Theo Điều
10 khoản 3, diện tích của một vùng lõm được tính giữa ngấn nước triều thấp
nhất dọc theo bờ biển của vùng lõm và đường thẳng nối liền các ngấn nước
triều thấp nhất ở các điểm của cửa vào tự nhiên. Nếu do có các đảo mà một
vùng lõm có nhiều cửa vào thì nửa hình tròn nói trên có đường kính bằng
tổng số chiều dài các đoạn thẳng cắt ngang các cửa vào đó. Diện tích các đảo
nằm trong một vùng lõm được tính vào diện tích chung của vùng lõm.
- Đường khép cửa vào tự nhiên của cửa vịnh không vượt quá 24 hải lý.
Trong trường hợp ngược lại thì cần phải vạch các đoạn cơ sở thẳng dài 24
hải lý ở phía trong cửa vịnh sao cho phía trong của nó có một diện tích nước
tối đa.
Vùng nội thủy có quy chế pháp lý tương tự như lãnh thổ đất liền, tại
đó quốc gia ven biển thực hiện chủ quyền hoàn toàn, tuyệt đối và đầy đủ.
Chủ quyền này bao trùm lên cả vùng trời bên trên và vùng đáy biển và lòng
đất dưới đáy biển bên dưới vùng nước nội thuỷ. Tuy nhiên, do là một vùng
biển, việc thực hiện chủ quyền trong nội thủy vẫn có khác biệt so với thực
hiện chủ quyền trên đất liền, thể hiện qua quy chế ra vào và hoạt động của

Đối với tàu thuyền Nhà nước dùng vào những mục đích không thương
mại và tàu quân sự, Công ước Bruxelles ngày 10 tháng 4 năm 1926 về quyền
miễn trừ của tàu Nhà nước đã trù định mọi miễn trừ về bắt, giữ, cầm cố, hay
các biện pháp tư pháp khác. Trong trường hợp tàu này có hành vi vi phạm,
quốc gia ven biển có quyền yêu cầu quốc gia tàu treo cờ chịu trách nhiệm và
thực hiện các biện pháp cần thiết.
- Thẩm quyền tài phán hình sự:
Đối với tàu dân sự, thương mại, theo nguyên tắc lãnh thổ, quốc gia
ven biển có quyền tài phán đối với vụ việc hình sự xảy ra trên con tàu đang
neo đậu và hoạt động trong nội thủy của quốc gia đó. Mặc dù không đề cập
một cách cụ thể song UNCLOS ngầm định cho phép quốc gia ven biển có


25

quyền tài phán đối với mọi vụ việc hình sự xảy ra trên tàu hay ngoài tàu đang
hoạt động trong nội thủy29.
Thực tiễn cho thấy, các quốc gia một mặt ghi nhận nguyên tắc quyền
tài phán theo lãnh thổ, mặt khác cơ quan có thẩm quyền của quốc gia ven
biển thường không xem xét, giải quyết những vụ vi phạm xảy ra trên con tàu,
trừ trường hợp người có hành vi vi phạm không phải là thuỷ thủ đoàn; khi
được thuyền trưởng hoặc đại diện cơ quan ngoại giao, lãnh sự của quốc gia
tàu treo cờ yêu cầu; hậu quả của vụ vi phạm mở rộng đến quốc gia ven biển.
Giải pháp nói trên đã được nhiều quốc gia thừa nhận và thực hiện trên thực
tế.
Tàu quân sự là tàu thuyền thuộc lực lượng vũ trang của quốc gia,
mang dấu hiệu bên ngoài thể hiện rõ quốc tịch nước đó, do một sĩ quan hải
quân phục vụ quốc gia đó chỉ huy; người chỉ huy này phải có tên trong danh
sách sĩ quan hay trong tài liệu tương đương và đoàn thuỷ thủ phải tuân theo
các điều lệnh kỉ luật quân sự.30 Tàu thuyền công vụ là tàu thuyền chuyên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status