BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
-------------------
NGUYỄN THỊ QUỲNH
LQT 12 – 01
CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THEO QUY ĐỊNH CỦA
CÔNG ƢỚC LUẬT BIỂN 1982 – MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ
VÀ THỰC TIỄN
Ngành Luật Quốc Tế
Mã số: 52010056
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Hà Nội, 6/2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
-------------------
NGUYỄN THỊ QUỲNH
LQT 12 – 01
CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THEO QUY ĐỊNH CỦA
CÔNG ƢỚC LUẬT BIỂN 1982 – MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ
VÀ THỰC TIỄN
Ngành Luật Quốc Tế
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ........................................................................................6
PHẦN MỞ ĐẦU ..............................................................................................................1
1.
Tính cấp thiết của đề tài: .......................................................................................... 1
2.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài....................................................................2
3.
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài .........................................................................3
4.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.............................................................................3
5.
Phương pháp nghiên cứu ......................................................................................... 4
6.
Kết cấu của khóa luận.............................................................................................. 4
CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRANH CHẤP QUỐC TẾ VÀ GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP QUỐC TẾ .............................................................................................. 5
1.1.
nguyên tắc lựa chọn biện phápgiải quyết tranh chấp ....................................................18
b.
Phạm vi tranh chấp được giải quyết theo quy định của Công ước Luật biển 1982...21
CHƢƠNG 2: CÁC BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THEO QUY ĐỊNH
CỦA CÔNG ƢỚC LUẬT BIỂN 1982 ...........................................................................24
2.1.
Thương lượng ...................................................................................................24
2.2.
Hòa giải ............................................................................................................24
a.
Đối tượng: ........................................................................................................24
b.
Thủ tục .............................................................................................................25
2.3.
Giải quyết tranh chấp tại Tòa án Công lý quốc tế của Liên hợp quốc......................28
a.
Thành phần của Tòa .......................................................................................... 28
d.
Chức năng và thẩm quyền của Tòa .....................................................................36
e.
Thẩm quyền áp dụng các kết luận tạm thời .......................................................... 39
f.
Thẩm quyền về việc giải phóng ngay tàu thuyền và thủy thủ đoàn ......................... 40
g.
Thủ tục tố tụng và giá trị pháp lý phán quyết của Tòa án Luật biển quốc tế ............40
2.5.
Giải quyết tranh chấp theo phương thức trọng tài .................................................42
a.
Tòa trọng tài được thành lập theo đúng phụ lục VII của công ước Luật biển ..........42
b.
Tòa trọng tài đặc biệt ......................................................................................... 42
CHƢƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA CÔNG ƢỚC LUẬT
BIỂN 1982 TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP QUỐC TẾ......................... 43
Thực tiễn giải quyết các tranh chấp của các nước trong khu vực biển Đông...........52
3.3.
Thực tiễn giải quyết tranh chấp trên biển Đông của Việt Nam ............................... 55
a. Thực tiễn các biện pháp giải quyết tranh chấp mà Việt Nam đã sử dụng để giải quyết
các tranh chấp trên biển Đông....................................................................................55
b.
Một số đề xuất và kiến nghị nhằm tăng cường hiệu quả trong việc giải quyết tranh
chấp của Việt Nam ....................................................................................................59
KẾT LUẬN....................................................................................................................63
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ĐQKT
: Đặc quyền kinh tế
CIJ
: Tòa án công lý quốc tế
LHQ
: Liên hợp quốc
ngày càng phát triển về cả số lượng và mức độ nghiêm trọng. Tranh chấp quốc tế có thể nảy
sinh từ việc hai quốc gia không thỏa thuận được với nhau trong việc phân chia vùng biển chồng
lấn hoặc xác định biên giới trên biển; tranh chấp cũng có thể bắt đầu từ sự bất đồng giữa hai hay
một nhóm quốc gia có liên quan đến tình hình bất ổn định của một khu vực nào đó trên thế giới;
hay chỉ đơn giản là từ việc hiểu và giải thích không thống nhất một quy phạm pháp luật quốc
tế… Tranh chấp tồn tại một cách tất yếu như là mặt trái của quan hệ hợp tác giữa các quốc gia.
Theo thống kê của một số học giả nước ngoài thì từ năm 1951 đến năm 1975 đã có 86 xung
đột quốc tế trong đó có có 36 xung đột xuất phát từ tranh chấp chủ quyền lãnh thổ biển đảo.
Để xây dựng môi trường hoà bình và ổn định, thuận lợi cho việc phát triển, các quốc gia
cần phải quyết thoả đáng các tranh chấp quốc tế của mình. Trong lịch sử hình thành và phát
triển của luật pháp quốc tế, có 2 hình thức giải quyết tranh chấp quốc tế phổ biến là giải quyết
bằng biện pháp hoà bình và giải quyết bằng vũ lực. Tuy nhiên, với sự phát triển của luật pháp
quốc tế, nhất là với sự ra đời của hệ thống LHQ thì việc giải quyết tranh chấp quốc tế bằng vũ
lực đã bị loại bỏ hoàn toàn và bị coi là bất hợp pháp trong quan hệ quốc tế. Nguyên tắc hòa bình
giải quyết tranh chấp quốc tế là một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế. Điều 33
Hiến chương Liên hợp quốc quy định: “ Trong mỗi vụ tranh chấp nếu kéo dài có thể đe dọa sự
hòa bình và an ninh quốc tế, các đương sự phải tìm giải pháp bằng con đường đàm phán, điều
tra, trung gian hòa giải, trọng tài, bằng con đường tư pháp, bằng việc sử dụng những cơ quan
hoặc những hiệp định khu vực, hoặc các biện pháp hòa bình khác tùy theo sự lựa chọn”.
Chiếm 72% diện tích bề mặt trái đất, biển và đại dương được thừa nhận là cái nôi của
sự sống loài người. Không ai có thể phủ nhận là tất cả các quốc gia, dù có chế độ kinh tế chính
trị xã hội, tiềm lực kinh tế quân sự khác nhau, không kể lớn hay nhỏ về mặt địa lý, có biển hay
không có biển đều có những lợi ích thiết thực gắn liền với biển và đại dương. Vai trò của biển
và đại dương càng lớn, giá trị và lợi ích của biển và đại dương đem lại cho các quốc gia càng
nhiều thì các tranh chấp liên quan đến biển và và đại dương ngày càng phức tạp và đa dạng và
diễn ra phổ biến trong quan hệ giữa các quốc gia.
2
Bằng việc áp dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học từ đó tác giả đã xây
dựng lên một bài nghiên cứu mang ý nghĩa cả về mặt pháp lý và thực tiễn trong việc áp dụng cơ
chế giải quyết tranh chấp trong Công ước Luật biển 1982. Với việc nghiên cứu đề tài khóa luận
3
này đã mang đến cái nhìn tổng quan nhất về tình hình giải quyết tranh chấp liên quan đến các
vấn đề về biển trên thế giới cũng như trong khu vực biển Đông. Đồng thời việc nghiên cứu
khóa luận cũng đã đi sâu phân tích nghiên cứu về cơ chế giải quyết tranh chấp của Công ước
Luật biển 1982, giúp cho các bên tranh chấp hiểu rõ và áp dụng đúng Công ước trong việc giải
quyết tranh chấp của họ. Đặc biệt việc nghiên cứu khóa luận có ý nghĩa đối với Việt Nam trong
việc giải quyết tranh chấp trên biển Đông trong thời gian tới.
3.
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài
Xuất phát từ tính cấp thiết việc nghiên cứu đề tài nhằm mục đích:
- Giới thiệu một cách có hệ thống về tranh chấp quốc tế và giải quyết tranh chấp quốc tế
- Đi sâu phân tích và trình bày những nội dung cơ bản, làm rõ đặc trưng cơ bản của cơ
chế giải quyết tranh chấp trong Công ước Luật biển 1982 là việc các quốc gia thành viên có
nghĩa vụ giải quyết theo thủ tục bắt buộc các tranh chấp phát sinh từ quá trình áp dụng hoặc giải
thích Công ước;
- Đánh giá và phân tích các loại tranh chấp và thực tiễn giải quyết tranh chấp về biển theo
Công ước Luật biển 1982 của các quốc gia trên thế giới và của các nước nằm trong khu vực
biển Đông trong đó có Việt Nam
- Đưa ra một số đánh giá và đề xuất kiến nghị đối với việc áp dụng Công ước Luật biển
1982 trong giải quyết tranh chấp trên biển của các khu vực trên thế giới mà đặc biệt là ở biển
Đông và Việt Nam
giả và các bài báo có giá trị khác.
6.
Kết cấu của khóa luận
Ngoài Phần mở đầu và Kết luận, Phần nội dung khóa luận gồm 3 chương cùng phần
danh mục tài liệu tham khảo:
Chƣơng 1: Lí luận chung về tranh chấp quốc tế và giải quyết tranh chấp quốc tế
Chƣơng 2: Các biện pháp giải quyết tranh chấp theo quy định của Công ước Luật biển
1982
Chƣơng 3: Thực tiễn áp dụng các quy định trong CƯLB 1982 vào giải quyết tranh
chấp quốc tế
5
CHƢƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRANH CHẤP QUỐC TẾ VÀ GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP QUỐC TẾ
1.1. Khái niệm tranh chấp quốc tế
a.
Định nghĩa tranh chấp quốc tế
Tranh chấp được hiểu là sự đấu tranh giằng co khi có ý kiến bất đồng, thường là trong
vấn đề quyền lợi giữa hai bên.Tranh chấp là một hiện tượng phổ biến và không tránh khỏi trong
bất cứ một xã hội nào nó diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi và trên mọi lĩnh vực khác nhau của đời
sống xã hội, từ các tranh chấp trong nội bộ các gia đình, các nhóm xã hội, các công ty đến tranh
chấp giữa các quốc gia.
Quan hệ quốc tế được đặc trưng bởi các mối quan hệ, tương tác giữa các quốc gia trong
khuôn khổ một xã hội quốc tế và khi tham gia vào các mối quan hệ này, mỗi quốc gia đều theo
đuổi những lợi ích, mục tiêu riêng của mình. Tuy nhiên, không phải lúc nào, những lợi ích, mục
chống bán phá giá của Mỹ không phải là tranh chấp quốc tế.
Tính chất
Tranh chấp quốc tế phải thể hiện rõ sự xung đột, mâu thuẫn về lợi ích giữa các chủ thể.
Trong tranh chấp quốc tế, các bên chủ thể không chỉ có những quan điểm khác nhau mà còn có
những yêu cầu, đòi hỏi cụ thể về quyền lợi trái ngược nhau. Sự không đáp ứng hoặc đáp ứng
không đầy đủ những yêu cầu, đòi hỏi về quyền lợi của chủ thể này trong mối quan hệ với chủ
thể khác chính là biểu hiện cụ thể của tranh chấp quốc tế.
Cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế
Cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế mang nét đặc thù riêng. Trong cơ chế đó, tranh
chấp giữa các chủ thể Luật Quốc tế được giải quyết bằng các biện pháp đa dạng, phong phú dựa
trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Luật Quốc tế như nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa
các quốc gia, nguyên tắc không dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế… và đặc biệt là nguyên tắc
hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế. Ngoài ra đặc thù của cơ chế này là ý chí của các bên
tranh chấp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Luật Quốc tế không có các quy định cứng nhắc,
mang tính áp đặt về biện pháp giải quyết tranh chấp bắt buộc các chủ thể phải áp dụng. Việc áp
dụng một biện pháp giải quyết tranh chấp nào đó hoàn toàn do các bên tranh chấp thỏa thuận
lựa chọn với điều kiện biện pháp đó phải là những biện pháp hòa bình.
Luật áp dụng giải quyết tranh chấp quốc tế
Luật áp dụng giải quyết tranh chấp quốc tế bao gồm cả luật quốc gia và luật quốc tế.
Luật quốc tế gồm có điều ước quốc tế mà quốc gia là thành viên, các nguyên tắc cơ bản của
Luật quốc tế liên quan đến vấn đề giải quyết tranh chấp quốc tế, như các điều ước đa phương
Tranh chấp song phương: giữa hai chủ thể của Luật Quốc tế
-
Tranh chấp đa phương: giữa ba chủ thể của Luật Quốc tế trở lên
(Bao gồm cả tranh chấp có tính chất khu vực và tranh chấp có tính toàn cầu)
Ví dụ: sau hội thảo “Biển Đông hợp tác vì an ninh và phát triển khu vực”, các học giả
phương tây nhất trí rằng tranh chấp ở biển Đông bao gồm tranh chấp song phương và tranh
chấp đa phương.
Dựa vào chủ thể tranh chấp có thể chia ra
- Tranh chấp giữa các quốc gia
- Tranh chấp giữa các tổ chức quốc tế
- Tranh chấp giữa quốc gia với tổ chức quốc tế...
Dựa vào nội dung tranh chấp sẽ có
- Tranh chấp về kinh tế thương mại
- Tranh chấp về biên giới lãnh thổ
- Tranh chấp về việc thực hiện nghĩa vụ thành viên điều ước quốc tế hoặc tổ chức quốc tế
- Tranh chấp về bảo hộ công dân
- Tranh chấp về thẩm quyền tài phán...
Dựa vào tính chất tranh chấp có thể phân ra
- Tranh chấp chính trị: là những tranh chấp giữa các bên liên quan đến các yêu cầu đòi
hỏi phải thay đổi các quy định hiện hành gắn liền với các quyền và nghĩa vụ của các bên hữu
quan (biên giới lãnh thổ rất dễ gây ra nguy hiểm cho nền hòa bình an ninh quốc tế).
Tranh chấp về pháp lý: là tranh chấp liên quan đến quyền và lợi ích của các bên
thể hiện trong các điều ước quốc tế hay các tập quán quốc tế (thường liên quan đến vấn đề giải
thích và áp dụng các điều ước quốc tế).
được với nhau về quyền và lợi ích của các chủ thể làm phát sinh các tranh chấp quốc tế.Ngay từ
thời kỳ sơ khai, khi có tranh chấp đã có nhiều biện pháp hòa bình được sử dụng như đàm phán,
môi giới, trung gian... nhưng việc sử dụng các biện pháp không phải là nghĩa vụ bắt buộc đối
với các chủ thể vì nên cạnh đó còn tồn tại nguyên tắc quyền chiến tranh, cho phép các chủ thể
sử dụng vũ lực như một phương thức hiệu quả để giải quyết tranh chấp quốc tế.
Công ước Lahaye năm 1899 về hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế kêu gọi các quốc
gia ngăn ngừa việc sử dụng vũ lực thông qua sử dụng các biện pháp trung gian, hòa giải trước
khi dùng vũ khí. Quy chế Hội quốc liên đã xác định nghĩa vụ của các quốc gia giải quyết các
tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình nhưng vẫn cho phép các quốc gia dùng chiến tranh.
Hiệp ước Paris 1928 về khước từ chiến tranh đã nêu rõ trách nhiệm của các quốc gia chỉ giải
quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình. Hiến chương Liên hợp quốc 1945 đã khẳng định:
hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế thành nguyên tắc điều chỉnh quan hệ giữa các thành
viên Liên hợp quốc và rộng hơn là quan hệ quốc tế nói chung: “Tất cả các thành viên Liên hợp
quốc giải quyết các tranh chấp quốc tế của họ bằng biện pháp hòa bình, an ninh và công lý”.
Khái niệm
9
Hiến chương Liên hợp quốc ra đời, cùng với những quy định cơ bản về mục đích,
nguyên tắc, cơ cấu tổ chức hoạt động của Liên hợp quốc, quy chế thành viên, các cơ
quan chính của Liên hợp quốc, Hiến chương cũng đã xác lập hệ thống biện pháp hòa bình giải
quyết tranh chấp quốc tế. Điều 33 Hiến chương Liên hợp quốc quy định: “ Trong mỗi vụ tranh
chấp nếu kéo dài có thể đe dọa sự hòa bình và an ninh quốc tế, các đương sự phải tìm giải pháp
bằng con đường đàm phán, điều tra, trung gian hòa giải, trọng tài, bằng con đường tư pháp,
bằng việc sử dụng những cơ quan hoặc những hiệp định khu vực, hoặc các biện pháp hòa bình
khác tùy theo sự lựa chọn”. Như vậy, theo Hiến chương Liên hợp quốc, hòa bình giải quyết
các tranh chấp quốc tế là một nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế, là nghĩa vụ pháp lý của tất cả
các quốc gia và chủ thể khác của luật quốc tế.
Về phương diện khoa học luật quốc tế, hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế là những
Đây là một nguyên tắc không tồn tại bất kỳ ngoại lệ nào. Hội đồng Bảo an Liên hợp
quốc phải tôn trọng biện pháp giải quyết hòa bình mà các bên lựa chọn. Trong trường hợp các
bên tự lựa chọn mà vẫn không giải quyết triệt để vấn đề, Hội đồng Bảo an có quyền kiến nghị
các bên áp dụng các biện pháp khác nhằm nhanh chóng chấm dứt những mối đe dọa.
b.
Các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế
Căn cứ vào bản chất, thẩm quyền và thủ tục giải quyết tranh chấp, các biệnpháp hòa
bình giải quyết tranh chấp quốc tế quy định tại Điều 33 Hiến chương Liên hợp quốc có thể
được chia thanh hai nhóm cơ bản sau đây:
Nhóm 1: Các biện pháp giải quyết tranh chấp mang tính ngoại giao, gồm các biện pháp
đàm phán, điều tra, trung gian, hòa giải, giải quyết trước các tổ chức quốc tế bằng các hiệp định
khu vực, với đặc điểm cơ bản là giải quyết tranh chấpbằng đối thoại, thương lượng thông qua
các diễn đàn, Hội nghị quốc tế do các bên tranh chấp hoặc bên thứ ba tổ chức (có thể là các tổ
chức quốc tế liên chính phủ như ASEAN, Liên minh châu Âu- EU, Liên minh châu PhiAU hoặc các quốc gia khác…) kết quả giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp ngoại giao
thường là các nghị quyết, khuyến cáo của các tổ chức quốc tế hoặc các cam kết và các điều ước
quốc tế được các bên tranh chấp ký kết.
Nhóm 2: Các biện pháp giải quyết tranh chấp bằng tài phán (Tòa án công lý quốc tế và
Trọng tài quốc tế) với đặc điểm cơ bản là giải quyết tranh chấp theo trình tự, thủ tục tố tụng tư
pháp thông qua hoạt động xét xử với kết quả giải quyết tranh chấp là các phán quyết của Toàn
án quốc tế hoặc Trọng tài quốc tế có giá trị chung thẩm, bắt buộc các bên liên quan phải tuân
thủ và thực hiện.
-
Các biện pháp giải quyết tranh chấp mang tính ngoại giao
Biện phán đàm phán
có thể được áp dụng là biện pháp khởi đầu và cũng có thể là biện pháp sau cùng để các bên giải
quyết tranh chấp sau khi các bên đã giải quyết bằng các biện pháp khác.Ví dụ : Hội nghị
Giơnevơ về Đông Dương năm 1954 có sự tham gia của các nước Liên X Trung Quốc, Anh,
Hoa Kỳ, Pháp, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Campuchia, Lào và Chín quyền Bảo Đại nhằm
bàn về vấn đề chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương.
-
Biện pháp môi giới
Môi giới là biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế không được đề cập cụ thể
trong Điều 33 Hiến chương Liên hợp quốc nhưng được áp dụng rất nhiều lần trong thực tiễn
giải quyết tranh chấp quốc tế. Theo đó, các cá nhân có uy tín lớn trong quan hệ quốc tế như
Nguyên thủ, cựu Nguyên thủ quốc gia, Tổng thư ký hoặc nguyên Tổng thư ký Liên hợp quốc
hoặc những người đứng đầu các tổ chức quốc tế liên chính phủ khác tự nguyện hoặc được các
bên tranh chấp đề nghị đứng ra thuyết phục các bên tranh chấp gặp gỡ, tiếp xúc để giải quyết
tranh chấp. Ví dụ, vai trò môi giới của Tổng thư ký Liên hợp quốc trong vấn đề Trung Đông
những năm 1973- 1974; vai trò của Liên Xô làm môi giới cho Ấn Độ và Pakixtan gặp nhau để
đàm phán giải quyết tranh chấp tại Tátxken nhằm chấm dứt xung đột giữa hai nước.
12
-
Biện pháp trung gian
Mặc dù có nhiều thế mạnh song không phải lúc nào đàm phán ngoại giao cũng đem lại
kết quả mong đợi, giải quyết dứt điểm được tranh chấp giữa các bên có liên quan, nhất là khi
các bên vì “thể diện” hoặc thiếu thiện chí trong việc đàm phán, thương lượng. Khi mà biện
pháp này không mang lại hiệu quả thì sự có mặt của bên thứ 3 có thể được xem là một biện
quyết định. Các thỏa thuận cam kết của quá trình hòa giải không có giá trị bắt buộc cưỡng chế
thi hành mà phụ thuộc thiện chí, sự tự nguyện của các bên.Ví dụ: năm 1977, xảy ra tranh chấp
giữa ba quốc gia Kenya, Uganda và Tanzania liên quan đến việc phân chia tài sản và nghĩa vụ
13
pháp lý của Cộng đồng Đông Phi ( tổ chức quốc tế thành lập năm 1967 với 5 quốc gia thành
viên là Kenya, Uganda, Tanzania, Rwanda, Buurundi và tan rã năm 1977). Với sự trợ giúp của
Ngân hàng thế giới và Chương trình phát triển của Liên hợp quốc, ba quốc gia đã thỏa thuận
chọn nhà ngoại giao Thụy Sĩ Victor Umbricht với tư cách hòa giải tranh chấp.
-
Biện pháp thành lậpỦy ban điều tra
Thực tế cho thấy khi một bất đồng giữa các quốc gia về sự việc, luật pháp hoặc chính
sách sâu sắc đến mức có thể làm phát sinh một tranh chấp quốc tế thì các bên sẽ kiên trì quan
điểm của mình, khó có khả năng nhượng bộ hoặc hòa giải. Khi rơi vào hoàn cảnh này một hoặc
tất cả các bên tranh chấp đều dễ từ chối việc thảo luận vấn đề với lý do quan điểm của họ là
“không thể đàm phán”. Trong trường hợp này thì cả đàm phán lẫn trung gian, hòa giải đều khó
có thể đưa đến một giải pháp cho tranh chấp, bởi vậy cần có một biện pháp khác, đó là thành
lập Ủy ban điều tra. Thành lập Ủy ban điều tra là hình thức giải quyết tranh chấp đã được ghi
nhận trong Công ước La hay về giải quyết tranh chấp quốc tế năm 1899 và 1907. Theo đó, các
bên tranh chấp có thể lập ra hoặc đề nghị thành lập một Ủy ban điều tra với nhiệm vụ là cùng
tìm hiểu thực tế của sự việc dẫn đến tranh chấp giữa các bên. Khi kết thúc việc điều tra, Ủy ban
sẽ đệ trình báo cáo lên các bên tranh chấp và báo cáo này không có giá trị pháp lý ràng buộc các
bên. Trong báo cáo các bên có thể trình bày về các văn bản, việc giám sát trên thực địa, nghe
nhân chứng chứng song không đưa ra bình luận về tranh chấp. Thực tiễn quốc tế đã có nhiều
Ủy ban điều tra được thành lập như việc Anh và Đan Mạch đã nhất trí thành lập Ủy ban điều tra
gồm có 3 điều tra viên người Pháp, Bỉ và Hà Lan, điều tra về nguyên nhân vụ tai nạn của tàu
thiết chế có chức năng giải quyết.
Xuất phát từ các nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế, các quốc gia thành
viên của tổ chức quốc tế đồng thời là các bên tranh chấp hoàn toàn có quyền tự do lựa chọn cơ
chế giải quyết tranh chấp của tổ chức quốc tế hoặc bất cứ biện pháp hòa bình khác mà các bên
cho là phù hợp để giải quyết tranh chấp.
Giải quyết tranh chấp trong Liên hợp quốc:
Liên hợp quốc là tổ chức quốc tế đa phương toàn cầu được thành lập với mục đích duy
trì hòa bình và an ninh quốc tế. Bên cạnh việc quy định các biện pháp hòa bình giải quyết tranh
chấp quy định tại điều 33, Hiến chương Liên hợp quốc cũng xác định rõ chức năng, thẩm
quyền của các cơ quan của Liên hợp quốc trong giải quyết tranh chấp quốc tế. Các cơ quan của
Liên hợp quốc, ở mức độ khác nhau, đều tham gia vào qua trình giải quyết tranh chấp quốc tế.
Đại hội đồng là cơ quan bao gồm tất cả các thành viên Liên hợp quốc. Đại hội
đồng có quyền xem xét những nguyên tắc chung về hợp tác duy trì hòa bình và an ninh quốc tế,
trong đó có vấn đề giải trừ quân bị, và dựa vào những nguyên tắc ấy đưa ra những kiến nghị
cho các thành viên Liên hợp quốc và Hội đồng Bảo an. Đại hội đồng có quyền thảo luận mọi
vấn đề liên quan đến duy trì hòa bình và an ninh quốc tế do các quốc gia hoặc Hội đồng Bảo an
đưa ra. Trong trường hợp cần phải hành động để duy trì hòa bình và an ninh quốc tế, Đại hội
đồng chuyển cho Hội đồng Bảo an trước hay sau khi thảo luận. Đại hội đồng có thể lưu ý Hội
đồng Bảo an về những tình thế có thể làm nguy hại đến hòa bình an ninh quốc tế. Tuy nhiên,
khi Hội đồng Bảo an thực hiện chức năng của mình, Đại hội đồng không được đưa ra kiến nghị
nếu Hội đồng Bảo an không yêu cầu.
Hội đồng Bảo an là cơ quan có trách nhiệm chính trong việc duy trì hòa bình và
an ninh quốc tế. Theo quy định của Hiến chương Liên hợp quốc, Hội đồng Bảo an có quyền
lý nói chung phải do các đương sự đưa ra trước Tòa án Quốc tế, theo đúng những quy định của
quy chế tòa án”. Tòa án Công lý quốc tế chỉ giải quyết các tranh chấp quốc tế phát sinh giữa các
quốc gia là thành viên Liên hợp quốc. Các quốc gia không phải là thành viên Liên hợp quốc
nhưng muốn tham gia quy chế Tòa án Công lý quốc tế và đưa tranh chấp ra Tòa thì phải thỏa
mãn những điều kiện do Đại hội đồng quyết định trong từng trường hợp cụ thể theo kiến nghị
của Hội đồng Bảo an. Phán quyết của Tòa án Quốc tế có giá trị bắt buộc đối với các bên tranh
chấp.
16
Tổng thư ký Liên hợp quốc có quyền lưu ý Hội đồng Bảo an về mọi vấn đề mà
theo nhận định của Tổng thư ký có thể đe dọa hòa bình và an ninh quốc tế. Trong thực tiễn,
Tổng thư ký thường có vai trò môi giới, trung gian hoặc hòa giải các tranh chấp quốc tế khi các
bên yêu cầu hoặc theo đề nghị của Đại hội đồng hoặc Hội đồng Bảo an.
Giải quyết tranh chấp quốc tế trong các tổ chức quốc tế và hiệp định khu vực:
Theo điều 52, Hiến chương Liên hợp quốc: “ Không một quy định nào trong Hiến
chương ngăn cản sự tồn tại của những hiệp định hoặc tổ chức quốc tế khu vực nhằm giải quyết
các vấn đề liên quan đến duy trì hòa bình và an ninh quốc tế bằng những hành động có tính chất
khu vực, miễn là những hiệp định hoặc tổ chức đó và những hoạt động của chúng phù hợp với
mục đích và nguyên tắc của Liên hợp quốc”.
Hiến chương của liên đoàn các nước Ả Rập quy định Hội đồng liên đoàn có thể
17
quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế là một trong những nguyên tắc cơ bản trong quan hệ giữa
các nước thành viên. Vấn đề giải quyết tranh chấp cũng được đề cập tại chương VIII của hiến
chương ASEAN. Nhằm cụ thể hóa các quy định của hiến chương, tháng 4 năm 2010 các nước
thành viên của tổ chức đã kí nghị định thư về cơ chế giải quyết tranh chấp. Theo nghị định thư
tranh chấp giữa các quốc gia thành viên được gải quyết thông qua các biện pháp tham vấn, môi
giới, trung gian, hòa giải, trọng tài. Nghị định thư cũng ghi nhận việc áp dụng các biện pháp giải
quyết tranh chấp phải được sự đồng ý của các bên tranh chấp. Nếu tranh chấp không được giải
quyết thông qua các biện pháp nêu trên, các bên có quyền đưa vụ tranh chấp ra Hội đồng điều
phối ASEAN và cơ quan có thẩm quyền cao nhất giải quyết tranh chấp trong ASEAN là Hội
nghị cấp cao ASEAN. Bên cạnh cơ chế giải quyết tranh chấp được quy định trong hiến chương
ASEAN và nghị định thư 2010, các thành viên ASEAN có quyền áp dụng những biện pháp
giải quyết tranh chấp được quy định tại điều 33, Hiến chương Liên hợp quốc hoặc các văn bản
pháp lý quốc tế khác mà các thành viên ASEAN là bên tranh chấp có tham gia.
Các biện pháp giải quyết tranh chấp thông qua cơ quan tài phán quốc tế
Các bên tranh chấp có thể thỏa thuận áp dụng biện pháp giải quyết tranh chấp thông qua
cơ quan tài phán quốc tế như Tòa án Quốc tế, Trọng tài Quốc tế hoặc cơ quan tài phán được
thành lập trong khuôn khổ các tổ chức quốc tế. Thông thường các biện pháp này sẽ được áp
dụng khi mà các nỗ lực giải quyết tranh chấp thông qua đàm phán, thương lượng không thu
được kết quả mà các bên mong muốn.
Giải quyết tranh chấp thông qua cơ quan tài phán quốc tế được quy định trong công ước
Lahaye năm 1899 và 1907 về hòa bình và giải quyết tranh chấp quốc tế, Hiến chương Liên hợp
quốc, Công ước của liên hợp quốc về Luật Biển 1982…
Cơ quan tài phán quốc tế chỉ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp khi các bên tranh
chấp chấp nhận thẩm quyền của cơ quan tài phán thông qua các thỏa thuận được kí kết trước
hoặc sau khi tranh chấp phát sinh. Hoạt động của cơ quan tài phán phải phù hợp với các nguyên
tranh chấp quốc tế, đồng thời cũng tạo ra sự quan ngại cho cộng đồng quốc tế về khả năng
chồng lấn về mặt thẩm quyền cũng như việc hoạt động của các tòa án này có thể dẫn đến việc
phá vỡ sự thống nhất trong hệ thống pháp luật quốc tế.
1.3. Khái quát chung về cơ chế giải quyết tranh chấp theo Công ƣớc Luật biển 1982
a. Biện pháp giải quyết tranh chấp theo quy định của Công ước Luật biển 1982 và
nguyên tắc lựa chọn biện phápgiải quyết tranh chấp
Biện pháp giải quyết tranh chấp theo quy định của Công ước Luật biển 1982
Việc giải quyết tranh chấp trên biển trong Luật quốc tế hiện đại chủ yếu dựa trên các
quy định của Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 (UNCLOS 1982), có hiệu
lực từ ngày 16/11/1994. Công ước Luật biển năm 1982 vừa là cơ sở pháp lý quốc tế quan trọng
hỗ trợ các quốc gia trong việc quản lý, khai thác, sử dụng và bảo vệ có hiệu quả các nguồn tài
nguyên thiên nhiên ở biển, vừa là công cụ hữu hiệu để các quốc gia giải quyết các tranh chấp
phát sinh từ biển. Vấn đề giải quyết tranh chấp về biển được quy định cụ thể tại phần XV, từ
Điều 279 đến Điều 299 của Công ước Luật biển 1982 và các Phụ lục có liên quan, bao gồm
các vấn đề: nguyên tắc giải quyết tranh chấp; trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp, cơ quan có
thẩm quyền giải quyết tranh chấp; trình tự, thủ tục hoà giải; tổ chức, thẩm quyền, và thủ tục tố
tụng của Toà án Quốc tế về Luật biển; thẩm quyền, thủ tục và giải quyết tranh chấp bằng trọng
tài; về việc giải quyết tranh chấp bằng Toà trọng tài đặc biệt, v.v… Nguyên tắc nền tảng, được
19
dùng làm cơ sở cho việc giải quyết tranh chấp theo Công ước 1982, là: Các quốc gia thành
viên giải quyết mọi tranh chấp trong việc giải thích hay áp dụng Công ước bằng các phương
pháp hoà bình theo đúng Điều 2, Khoản 3 của Hiến chương Liên hợp quốc “và, vì mục đích
này, cần phải tìm ra giải pháp bằng các phương pháp đã được nêu ở Điều 33, Khoản 1 của
Hiến chương” (Điều 279). Như vậy, các bên có thể tán thành bất cứ một cách thức giải quyết
tranh chấp nào mà họ lựa chọn. Không một quy định nào của Công ước ảnh hưởng đến quyền
của các quốc gia áp dụng bất cứ lúc nào, bằng bất kỳ phương pháp hoà bình nào theo sự lựa
chọn của mình một vụ tranh chấp xảy ra giữa họ (Điều 280). Và: “Khi có một tranh chấp xảy