LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại QUYỀN và NGHĨA vụ của QUỐC GIA đối với VÙNG BIỂN THUỘC CHỦ QUYỀN và QUYỀN CHỦ QUYỀN - Pdf 48

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
(Niên khóa 2008 – 2012)

QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA QUỐC GIA ĐỐI
VỚI VÙNG BIỂN THUỘC CHỦ QUYỀN VÀ
QUYỀN CHỦ QUYỀN

Giảng viên hướng dẫn:

Sinh viên thực hiện:

Th.s THẠCH HUÔN

ĐOÀN PHƯỚC ĐẠT
MSSV: 5085950
Lớp: THƯƠNG MẠI 2 K34

Cần Thơ, tháng 4 năm 2012


NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................

....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................



Đề tài: Quyền và nghĩa vụ của quốc gia đối với vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền

a) Quyền tài phán dân sự…………………………………………………………...18
b) Quyền tài phán hình sự………………………………………………………….18

GVHD: Thạch Huôn

SVTH: Đoàn Phước Đạt


Đề tài: Quyền và nghĩa vụ của quốc gia đối với vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền

2.1.2. Lãnh hải…………………………………………………………………………19
2.1.2.1. Quyền tài phán của quốc gia ven biển trong vùng lãnh hải đối với tàu dân
sự ................................................................................................................................................ 23
a.) Quyền tài phán hình sự ở trên một tàu nước ngoài ........................................23
b.) Quyền tài phán về dân sự ................................................................................24
2.1.2.2. Quyền tài phán của quốc gia ven biển trong vùng lãnh hải đối với tàu quân
sự ................................................................................................................................................ 23
2.2. Quyền và nghĩa vụ của quốc gia đối với vùng biển thuộc quyền chủ quyền.….25
2.2.1. Vùng tiếp giáp lãnh hải………………………………………………………...25
2.2.2. Vùng đặc quyền kinh tế………………………………………………………..26
2.2.2.1. Quyền của quốc gia ven biển…………………………………………….....27
a) Quyền chủ quyền………………………………………………………………...27
b) Quyền tài phán…………………………………………………………………..28
2.2.2.2. Quyền và nghĩa vụ của các quốc gia khác trong vùng đặc quyền kinh tế..28
2.2.3. Thềm lục địa……………………………………………………………………..30
2.2.3.1. Quyền chủ quyền của quốc gia ven biển………………………………….....30
2.2.3.2. Quyền tài phán của quốc gia ven biển…………………………………….....31

CHƯƠNG 3: CÁC VÙNG BIỂN VIỆT NAM VÀ VẤN ĐỀ THỰC HIỆN QUYỀN
VÀ NGHĨA VỤ

3. Luật Biên giới quốc gia năm 2003,
4. Nghị định 30-CP ngày 29-1-1980 về quy chế hoạt động của tàu thuyền nước ngoài trên
các vùng biển Việt Nam,
5. Nghị định số 55-CP ngày 1-10-1996 về hoạt động của tàu quân sự vào thăm nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
6. Nghị định 61/2003/NĐ-CP về quy chế khu vực biên giới biển...
7. Nghị định 71/2006/NĐ-CP về quản lý cảng biển và luồng hàng hải,
8. Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về lãnh hải, tiếp giáp
lãnh hải, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam ngày 12-5-1977,
9. Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đường cơ sở dùng
để tính chiều rộng của lãnh hải Việt Nam ngày 12-11-1982,
III. Danh mục trang website
1. http://biengioilanhtho.gov.vn/vie/thenaolachuquyencua-nd-711b8be6.aspx,
2. http://biengioilanhtho.gov.vn/vie/thenaolaquyenchuquyen-nd-7f27f0a1.aspx,
3. http://nghiencuubiendong.vn/trung-tam-du-lieu-bien-dong/doc_details/218-cac-vungbin-vit-nam-va-vn--qun-ly-bin.
IV. Giáo trình
Thạc sĩ Kim Oanh Na: Bài giảng luật quốc tế, trường Đại học Cần Thơ, 2006.

GVHD: Thạch Huôn

SVTH: Đoàn Phước Đạt


Đề tài: Quyền và nghĩa vụ của quốc gia đối với vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền

GVHD: Thạch Huôn

SVTH: Đoàn Phước Đạt



chỉnh tất cả các vấn đề quan trọng nhất về quy chế pháp lý của vùng biển thuộc chủ quyền
và quyền chủ quyền của quốc gia ven biển, các vùng biển và đáy biển quốc tế cũng như
việc sử dụng khai thác biển và đại dương vào mục đích hòa bình.
Đây là lý do mà tác giả chọn đề tài: “QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA QUỐC GIA
ĐỐI VỚI VÙNG BIỂN THUỘC CHỦ QUYỀN VÀ QUYỀN CHỦ QUYỀN” làm luận văn
tốt nghiệp.

GVHD: Thạch Huôn

1

SVTH: Đoàn Phước Đạt


Đề tài: Quyền và nghĩa vụ của quốc gia đối với vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền

2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục tiêu nghiên cứu đề tài là làm rõ những quy định của pháp luật đối với vùng biển
thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của quốc gia, quyền và nghĩa vụ của quốc gia đối với
những vùng đó.
Từ những quy định của pháp luật về vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền
của quốc gia, quyền và nghĩa vụ của quốc gia đối với những vùng biển đó, tác giả liên hệ
đến thực tiễn Việt Nam. Đó là những tranh chấp về chủ quyền và quyền chủ quyền đối với
biển giữa Việt Nam và các nước có liên quan, quan điểm và phương pháp giải quyết những
tranh chấp ấy.
3. Phạm vi nghiên cứu
“Quyền và nghĩa vụ của quốc gia đối với vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ
quyền” là đề tài khá rộng nên tác giả chủ yếu tập trung nghiên cứu những quy định trong
Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 và những văn bản pháp luật của Việt
Nam để hoàn thành đề tài này.

THUỘC CHỦ QUYỀN VÀ QUYỀN CHỦ QUYỀN
Chương này nghiên cứu những quy chế pháp lý đối với những vùng biển thuộc chủ
quyền và quyền chủ quyền của quốc gia.
Chương 3: CÁC VÙNG BIỂN VIỆT NAM VÀ VẤN ĐỀ THỰC HIỆN QUYỀN
VÀ NGHĨA VỤ
Chương này đề cập đến vùng biển ở Việt Nam, những tranh chấp về biển với các
nước liên quan, phương pháp giải quyết các tranh chấp đó, những tồn tại và giải pháp liên
quan đến quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ trên các vùng biển ở Việt Nam.
KẾT LUẬN

GVHD: Thạch Huôn

3

SVTH: Đoàn Phước Đạt


Đề tài: Quyền và nghĩa vụ của quốc gia đối với vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền

Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VÙNG BIỂN THUỘC CHỦ QUYỀN VÀ
QUYỀN CHỦ QUYỀN
1.1. Vùng biển thuộc chủ quyền
Vùng biển thuộc chủ quyền của quốc gia ven biển là quyền tối cao của quốc gia
được thực hiện trong phạm vi vùng biển của quốc gia đó. Các quốc gia ven biển có chủ
quyền đối với vùng nước nội thủy và lãnh hải của mình cũng như đối với vùng trời bên
trên, vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên dưới các vùng nước đó.
1.1.1. Nội thủy
“Các vùng nước ở phía bên trong đường cơ sở của lãnh hải thuộc nội thủy quốc
gia1”. Như vậy, nội thủy được hiểu là tất cả các vùng nước được giới hạn giữa một bên là
đường bờ biển của lãnh thổ đất liền hay lãnh thổ đảo của một quốc gia với một bên là

Đề tài: Quyền và nghĩa vụ của quốc gia đối với vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền

cơ sở đó là phương pháp đường cơ sở thông thường1 và phương pháp đường cơ sở thẳng2.
+ Phương pháp đường cơ sở thông thường
Điều kiện áp dụng: Phương pháp đường cơ sở thông thường áp dụng đối với các
quốc gia có bờ biển thẳng, bằng phẳng, không có các đoạn lồi lõm ven bờ, thủy triều ổn
định và thể hiện rõ ràng.
Cách xác định: Quốc gia ven biển sẽ chọn một ngày, tháng, năm khi ngấn nước thủy
triều xuống thấp nhất dọc bờ biển. Dựa vào các điểm, tọa độ đã thể hiện tại ngấn nước thủy
triều vào thời điểm đó, quốc gia ven biển sẽ tuyên bố đường cơ sở của quốc gia mình. Tuy
nhiên, xác định đường cơ sở theo phương pháp thông thường có một số hạn chế sau đây:
Thứ nhất, các điểm, tọa độ thể hiện ngấn nước thủy triều xuống thấp nhất dọc theo
bờ biển để xác định đường cơ sở do chính quốc gia đó tuyên bố nên sẽ không tránh khỏi
tình trạng các quốc gia đưa ra tuyên bố không đúng thực tế nhằm mục đích mở rộng càng
nhiều càng tốt nội thủy của quốc gia mình ra bên ngoài. Chính vì vậy, mức độ chính xác
của các tọa độ, các điểm xác định dựa vào ngấn nước thủy triều sẽ không cao.
Thứ hai, cộng đồng quốc tế sẽ rất khó khăn trong việc chứng minh tính xác thực của
các điểm, các tọa độ mà quốc gia ven biển đã tuyên bố.
Thứ ba, áp dụng phương pháp đường cơ sở thông thường, các quốc gia ven biển sẽ
có một vùng nội thủy rất hẹp và đây chính là lý do mà các quốc gia trên thế giới thường
không muốn áp dụng hoàn toàn đường cơ sở theo phương pháp này mặc dù căn cứ vào các
quy định của Công ước Luật biển 1982 là hoàn toàn phù hợp.
+ Phương pháp đường cơ sở thẳng
Theo qui định của Công ước Luật biển 1982, để xác định đường cơ sở theo phương
pháp đường cơ sở thẳng, bờ biển của quốc gia phải đáp ứng một trong các điều kiện sau
đây:
- Ở nơi nào bờ biển bị khoét sâu và lồi lõm hoặc có một chuỗi đảo nằm sát và chạy
dọc theo bờ biển3;
- Ở nơi nào bờ biển cực kỳ không ổn định do có một châu thổ và những đặc điểm tự


của quốc tế3. Có nghĩa là, các bãi cạn lúc chìm, lúc nổi không phải là các điểm vật chất thực
tế dùng làm căn cứ để vạch đường cơ sở nếu trên các bãi cạn đó không có các công trình
xây dựng thường xuyên nhô trên mặt nước như các đảo và các công trình thiết bị nhân tạo,
các ngọn đèn biển (hải đăng)...
- Trong những trường hợp mà phương pháp kẻ đường cơ sở thẳng được áp dụng theo
khoản 1, khi ấn định một số đoạn đường cơ sở có thể tính đến những lợi ích kinh tế riêng
biệt của khu vực đó mà thực tế và tầm quan trọng của nó đã được một quá trình sử dụng lâu
dài chứng minh rõ ràng4. Có nghĩa là, khi các quốc gia mà địa hình tự nhiên của bờ biển bị
khoét sâu và lồi lõm hoặc nếu có một chuỗi đảo nằm sát và chạy dọc theo bờ biển thì quốc
gia ven biển có thể vạch đến các đảo và các khu vực xung quanh mà quốc gia đó đã khai
thác và sử dụng trong một quá trình lịch sử lâu dài nhưng không có sự phản đối hoặc tranh
chấp của các quốc gia trong khu vực và trên thế giới.
- Phương pháp đường cơ sở thẳng do một quốc gia áp dụng không được làm cho

1

. Khoản 2, Điều 7, Công ước Luật biển 1982.
. Khoản 3, Điều 7, Công ước Luật biển 1982.
3
. Khoản 4, Điều 7, Công ước Luật biển 1982.
4
. Khoản 5, Điều 7, Công ước Luật biển 1982.
2

GVHD: Thạch Huôn

6

SVTH: Đoàn Phước Đạt


Đối với các quốc gia quần đảo (État archipel), khi xác định đường cơ sở, Điều 47

1

. Khoản 6, Điều 7, Công ước Luật biển 1982.

GVHD: Thạch Huôn

7

SVTH: Đoàn Phước Đạt


Đề tài: Quyền và nghĩa vụ của quốc gia đối với vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền

Công ước Luật biển 1982 quy định:
“Một quốc gia quần đảo có thể vạch các đường cơ sở thẳng của quần đảo nối liền
các điểm ngoài cùng của các đảo xa nhất và các bãi đá lúc chìm lúc nổi của quần đảo, với
điều kiện là tuyến các đường cơ sở này bao lấy các đảo chủ yếu và xác lập một khu vực mà
tỷ lệ diện tích nước so với đất, kể cả vành đai san hô, phải ở giữa tỷ lệ 1/1 và 9/11”;
Khi xác định đường cơ sở của quốc gia quần đảo, các quốc gia quần đảo phải tuân
thủ các điều kiện quy định của Công ước Luật biển 1982 đó là:
- Chiều dài của các đường cơ sở này không vượt quá 100 hải lý; tuy nhiên có thể tối
đa 3% của tổng số các đường cơ sở bao quanh một quần đảo nào đó có chiều dài lớn hơn
nhưng không quá 125 hải lý2;
- Tuyến các đường cơ sở này không được tách xa rõ rệt đường bao quanh chung của
quần đảo3;
- Các đường cơ sở không thể kéo đến hay xuất phát từ các bãi cạn lúc chìm lúc nổi,
trừ trường hợp tại đó có xây đặt các đèn biển hay các thiết bị tương tự thường xuyên nhô
trên mặt biển hoặc trừ trường hợp toàn bộ hay một phần bãi cạn ở cách hòn đảo gần nhất

SVTH: Đoàn Phước Đạt


Đề tài: Quyền và nghĩa vụ của quốc gia đối với vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền

như mọi phần của một nền đại dương có sườn dốc đất đứng, hoàn toàn hay gần như hoàn
toàn do một chuỗi đảo đá vôi hay một chuỗi các mỏm đá lúc chìm lúc nổi bao quanh, có thể
được coi như là một bộ phận của đất1.
1.1.2. Lãnh hải
“Chủ quyền của quốc gia ven biển được mở rộng ra ngoài lãnh thổ và nội thủy của
mình và trong trường hợp một quốc gia quần đảo, ra ngoài vùng nước quần đảo đến một
vùng tiếp liền gọi là lãnh hải.
Chủ quyền này được mở rộng đến vùng trời trên lãnh hải, cũng như đến đáy và lòng
đất dưới đáy của vùng biển này.
Chủ quyền ở lãnh hải được thực hiện trong những điều kiện do các quy định của
Công ước và các quy tắc khác của pháp luật quốc tế trù định2”.
Lãnh hải là vùng biển nằm phía ngoài vùng nước nội thuỷ và có chế độ pháp lý
tương tự như lãnh thổ đất liền. Chiều rộng lãnh hải của mỗi quốc gia ven biển tối đa là 12
hải lý (1 hải lý = 1,852 km) tính từ đường cơ sở. Công ước Luật biển 1982 nêu rõ: “Mọi
quốc gia có quyền ấn định chiều rộng lãnh hải của mình; chiều rộng này không vượt quá
12 hải lý kể từ đường cơ sở được vạch ra theo đúng Công ước3”. Đường ranh giới phía
trong của lãnh hải chính là đường cơ sở, và đường ranh giới phía ngoài là đường thẳng
song song với đường cơ sở và cách đường cơ sở một khoảng cách chính bằng chiều rộng
của lãnh hải. Đường ranh giới phía ngoài của lãnh hải được coi là biên giới quốc gia trên
biển.
Lãnh hải được coi như một bộ phận hữu cơ của lãnh thổ quốc gia, trên đó quốc gia
ven biển cũng có chủ quyền hoàn toàn, đầy đủ song không tuyệt đối như trong vùng nước
nội thủy.
Xác định chiều rộng của lãnh hải sẽ được tiến hành trong hai trường hợp khác nhau.
Thứ nhất, nếu quốc gia không đối diện, không tiếp giáp với các quốc gia trên biển.

này không áp dụng trong trường hợp do có những danh nghĩa lịch sử hoặc có các hoàn
cảnh đặc biệt khác cần phải hoạch định ranh giới lãnh hải của hai quốc gia một cách
khác2”.
1.2. Vùng biển thuộc quyền chủ quyền
Quyền chủ quyền là các quyền của quốc gia ven biển được hưởng trên cơ sở chủ
quyền đối với mọi loại tài nguyên thiên nhiên trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa
của mình, cũng như đối với những hoạt động nhằm thăm dò và khai thác vùng đặc quyền
kinh tế và thềm lục địa của quốc gia đó vì mục đích kinh tế, bao gồm cả việc sản xuất năng
lượng từ nước, hải lưu, gió...
1.2.1. Vùng tiếp giáp lãnh hải
Trong quá trình hoạch định biển, các nước ven biển không thể mở rộng vô hạn độ
các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia (nội thủy - lãnh hải). Tuy nhiên, với việc thiết lập
các vùng biển này tương đối hẹp, nhất là trước đây lãnh hải chỉ được phép mở rộng trong
phạm vi 3 hải lý nên các nước ven biển nhận thấy quyền và lợi ích của họ thường xuyên bị
đe dọa về nhiều mặt từ phía biển cả (biển quốc tế). Chính vì vậy, dần dần nhiều quốc gia
ven biển đã lập ra những vùng đặc biệt, tiếp giáp với lãnh hải nhằm bảo vệ lợi ích của họ
trong các lĩnh vực như thuế quan, y tế, nhập cư, bảo vệ tài nguyên và nhất là an ninh quốc
phòng của quốc gia trên biển. Từ đó, cộng đồng quốc tế đã đi đến thảo luận và hình thành

1
2

. Khoản 2, Điều 16 Công ước Luật biển 1982.
. Điều 15, Công ước Luật biển 1982.

GVHD: Thạch Huôn

10

SVTH: Đoàn Phước Đạt

gia này rất hẹp), đã phản ứng lại bằng cách thiết lập một vùng biển mới gọi là “vùng biển
tài sản quốc gia” để thiết lập chủ quyền và quyền tài phán của mình trên vùng biển này. Từ
năm 1947, ba nước ven Thái Bình Dương là Pêru, Êcuađo, Chilê đã ban hành luật quốc gia
1

. Khoản 2, Điều 33, Công ước Luật biển 1982.

GVHD: Thạch Huôn

11

SVTH: Đoàn Phước Đạt


Đề tài: Quyền và nghĩa vụ của quốc gia đối với vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền

đơn phương thiết lập quyền tài phán của họ trên vùng biển này. Khuynh hướng này tiếp tục
được mở rộng đến các quốc gia Mỹ La tinh khác (Vênêxuêla, Argentina, Brazil..,) cũng như
các nước Á Phi (như Êtiôpia, Xômali, Kênia...) với tham vọng thiết lập một vùng biển rộng
200 hải lý tính từ đường cơ sở là lãnh thổ trên biển của quốc gia.
Vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển nằm bên ngoài lãnh hải, đặt dưới chế độ pháp
lý riêng1. Vùng đặc quyền kinh tế không được mở rộng quá 200 hải lý kể từ đường cơ sở
dùng để tính chiều rộng của lãnh hải2.
Cũng như các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền quốc gia khác, muốn
xác định được chiều rộng pháp lý3 và chiều rộng thực tế4 của vùng đặc quyền kinh tế, quốc
gia ven biển phải xác định đường cơ sở và chiều rộng của lãnh hải.
1.2.3. Thềm lục địa
Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và nhu cầu về tài nguyên thiên nhiên, đặc
biệt là nhu cầu về năng lượng phục vụ cho sự phát triển của các quốc gia sau chiến tranh thế
giới lần thứ II. Chính vì vậy, vấn đề khai thác tài nguyên ở đáy biển và lòng đất dưới đáy

SVTH: Đoàn Phước Đạt


Đề tài: Quyền và nghĩa vụ của quốc gia đối với vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền

chiều rộng của thềm lục địa có thể được xác lập theo hai giới hạn sau đây:
- Thứ nhất, nếu thềm lục địa của quốc gia ven biển có chiều rộng hẹp hơn hoặc bằng
200 hải lý tính từ đường cơ sở để đo chiều rộng của lãnh hải thì quốc gia ven biển tuyên bố
thềm lục địa của mình rộng 200 hải lý;
- Thứ hai, nếu thềm lục địa của quốc gia ven biển rộng hơn 200 hải lý, đến bờ ngoài
của rìa lục địa. Trong trường hợp này, quốc gia ven biển xác định bờ ngoài của rìa lục địa
bằng những cách sau đây theo khoản 4 của Điều 76:
- Một đường nối liền các điểm cố định ngoài cùng mà ở đó độ dày của lớp trầm tích
bằng ít nhất 1% khoảng cách giữa điểm đó với chân dốc thềm lục địa;
- Một đường nối liền các điểm cố định cách chân dốc lục địa nhiều nhất là 60 hải lý;
Theo khoản 5, Điều 76, các điểm cố định xác định trên đáy biển, đường ranh giới
ngoài của thềm lục địa, nằm cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải một khoảng
cách không vượt quá 350 hải lý hoặc nằm cách đường đẳng sâu 2500m là đường nối liền
các điểm có độ sâu trung bình 2500m, một khoảng cách không quá 100 hải lý.
Tóm lại, theo quy định tại Điều 76 Công ước Luật biển 1982 nếu thềm lục địa không
rộng (nhỏ hơn hoặc bằng 200 hải lý) thì các quốc gia có quyền tuyên chiều rộng tối đa của
thềm lục địa quốc gia mình là 200 hải lý (trong trường hợp này chiều rộng của thềm lục địa
sẽ bằng chiều rộng của vùng đặc quyền kinh tế); nếu thềm lục địa của quốc gia ven biển
rộng hơn 200 hải lý thì có thể xác định ranh giới phía ngoài của thềm lục địa bằng hai cách:
- Chiều rộng tối đa của thềm lục địa là 350 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để đo
chiều rộng của lãnh hải hoặc;
- Kéo dài thêm 100 hải lý tính từ đường nối những điểm ở độ sâu 2500 m.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, với giải pháp công bằng, Công ước Luật biển 1982 đã ưu
tiên cho những quốc gia có thềm lục địa hẹp (nhỏ hơn 200 hải lý) sẽ được kéo dài thềm lục
địa của mình bằng 200 hải lý. Đối với những quốc gia có thềm lục địa rộng (lớn hơn 200

bên. Chính vì vậy, để thực hiện chủ quyền và quyền chủ quyền của quốc gia ven biển trong
việc bảo vệ, quản lý và khai thác các tài nguyên thiên nhiên trên các vùng biển tiếp liền
hoặc đối diện nhau, đòi hỏi các quốc gia hữu quan phải có sự thỏa thuận cụ thể, chi tiết
nhằm phân định các vùng biển này một cách rõ ràng, nhanh chóng.
1.3.2 Các phương pháp phân định biển
Quá trình phân định biển rất phức tạp, nó có thể do địa hình bờ biển, lập trường, thái
độ của các bên hữu quan…vì vậy, các quốc gia hữu quan khi tiến hành phân định biển, dù
là nội thủy hay lãnh hải…cũng phải dựa trên nguyên tắc thỏa thuận, và nếu như không thỏa
thuận được với nhau, thì có thể nhờ đến tòa án quốc tế hoặc trọng tài quốc tế can thiệp, giải
quyết.
Thực tiễn phân định biển trong thời gian qua cho thấy, các quốc gia liên quan thường
thỏa thuận áp dụng một số phương pháp phân định cơ bản sau:
1

. Thạc sĩ Kim Oanh Na: Bài giảng luật quốc tế, trường Đại học Cần Thơ, 2006, trang 67.

GVHD: Thạch Huôn

14

SVTH: Đoàn Phước Đạt


Đề tài: Quyền và nghĩa vụ của quốc gia đối với vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền

+ Phương pháp đường cách đều và đường trung tuyến
Theo phương pháp này, đường ranh giới để phân định biển chính là đường mà tất cả
các điểm nằm trên đường đó đều cách đều các điểm gần nhất của đường cơ sở của mỗi quốc
gia.
Phương pháp đường cách đều hoặc đường trung tuyến thường được áp dụng để phân

định rõ ràng và chủ yếu trong các văn bản pháp luật quốc gia. Theo pháp luật Việt Nam,
chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia trong vùng nội thủy được quy định trong nhiều
văn bản pháp lý khác nhau, từ Hiến pháp1 đến các luật và các văn bản dưới luật như Luật
hình sự Việt Nam năm 1999, Luật biên giới quốc gia năm 20032, Tuyên bố của Chính phủ
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về lãnh hải, tiếp giáp lãnh hải, đặc quyền kinh tế
và thềm lục địa Việt Nam ngày 12-5-19773, Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải Việt Nam ngày
12-11-19824, Nghị định 30-CP ngày 29-1-1980 về quy chế hoạt động của tàu thuyền nước
ngoài trên các vùng biển Việt Nam, Nghị định số 55-CP ngày 1-10-1996 về hoạt động của
tàu quân sự vào thăm nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nghị định 71/2006/NĐCP về quản lý cảng biển và luồng hàng hải, Nghị định 61/2003/NĐ-CP về quy chế khu vực
biên giới biển...
Tàu quân sự và tàu nhà nước sử dụng vào mục đích phi thương mại muốn vào nội thủy

1

. Điều 1 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ
quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời”.
2
. Điều 7 quy định: “Nội thủy của Việt Nam bao gồm: 1. Các vùng nước phía trong đường cơ sở; 2. Vùng nước cảng
được giới hạn bởi đường nối các điểm nhô ra ngoài khơi xa nhất của các công trình thiết bị thường xuyên là bộ
phận hữu cơ của hệ thống cảng”.
3
. Đoạn 2, Điểm 1 quy định: “Vùng biển ở phía trong đường cơ sở và giáp với bờ biển là nội thủy của nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
4
. Điểm 5 quy định: “ Vùng nước phía trong đường cơ sở và giáp với bờ biển, hải đảo của Việt Nam là nội thủy của
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

GVHD: Thạch Huôn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status