TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI
--------------------
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA: 2005 - 2009
Đề tài:
CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA HOẠT ĐỘNG ĐẤU THẦU
Giáo viên hướng dẫn
Phạm Mai Phương
Sinh viên thực hiện
Võ Thị Lệ Thu
MSSV: 5054944
Lớp: Luật Thương mại 2-K31
Cần Thơ, 4/2009
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
...........................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................................1
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẤU THẦU ...................... 4
1. 1. Khái niệm đấu thầu, hoạt động đấu thầu ..................................................... 4
1.1.1. Khái niệm về đấu thầu .............................................................................. 4
1.1.2. Khái niệm về hoạt động đấu thầu .............................................................. 4
1.2. Phân biệt giữa đấu thầu và đấu giá............................................................... 5
1.2.1. Hoạt động mua hay bán..........................................................................5
1.2.2. Về đối tượng mua và bán ........................................................................6
1.2.3. Xét trên giác độ giá cả.................................................................................... 6
1.2.4. Đặt cọc tham dự mua và bán ..................................................................6
1.3. Đặc điểm của hoạt động đấu thầu .................................................................. 6
1.4. Chủ thể của hoạt động đấu thầu..................................................................... 7
1.5. Vai trò, tầm quan trọng của hoạt động đấu thầu ......................................... 7
1.6. Mục tiêu của hoạt động đấu thầu................................................................... 9
1.6.1. Các mục tiêu chung của công tác đấu thầu............................................9
1.6.1.1. Các mục tiêu căn bản......................................................................9
1.6.1.2. Các mục tiêu khác của công tác đấu thầu ...................................... 10
1.6.2. Các mục tiêu cơ bản của công tác đấu thầu của Việt Nam ................ 11
1.6.2.1. Tăng cường cạnh tranh trong đấu thầu....................................... 11
1.6.2.2. Thống nhất quản lý việc chi tiêu sử dụng tiền của Nhà nước......... 11
1.6.2.3. Công khai, minh bạch trong đấu thầu ........................................... 12
1.6.2.4. Đảm bảo công bằng trong đấu thầu .............................................. 13
1.6.2.5. Bảo đảm hiệu quả của công tác đấu thầu ...................................... 13
1.6.2.6 Phòng, chống tham nhũng trong đấu thầu ...................................... 14
1. 7. Tính tất yếu của hoạt động đấu thầu ........................................................... 14
CHƯƠNG 2. CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA HOẠT ĐỘNG ĐẤU THẦU .......................17
2.1. Phương pháp đấu thầu............................................................................17
2.1.1. Hình thức lựa chọn nhà thầu............................................................. 17
2.1.2. Mua sắm trực tiếp ...............................................................................19
2.1.3. Chào hàng cạnh tranh trong mua sắm hàng hóa............................... 19
2.4.4.3. Phê duyệt kế hoạch đấu thầu......................................................................... 30
2.5. Quy trình đấu thầu...................................................................................... 30
2.5.1. Chuẩn bị đấu thầu..............................................................................31
2.5.1.1. Sơ tuyển nhà thầu...........................................................................31
2.5.1.2. Lập hồ sơ mời thầu ........................................................................32
2.5.1.3. Mời thầu ........................................................................................37
2.5.2. Tổ chức đấu thầu................................................................................39
2.5.2.1. Phát hành hồ sơ mời thầu .............................................................. 39
2.5.2.2. Làm rõ hồ sơ mời thầu ...................................................................39
2.5.2.3. Tiếp nhận và quản lý hồ sơ dự thầu................................................40
2.5.2.4. Mở thầu .........................................................................................40
2.5.3. Đánh giá hồ sơ dự thầu ..............................................................................41
2.5.3.1. Đánh giá sơ bộ hồ sơ dự thầu ........................................................41
2.5.3.2. Đánh giá chi tiết hồ sơ dự thầu ......................................................42
2.5.5. Làm rõ hồ sơ dự thầu................................................................................. 44
2.5.6. Xét duyệt trúng thầu ...........................................................................44
2.6. Trình duyệt, thẩm định, phê duyệt, thông báo kết quả đấu thầu,
thương thảo, hoàn thiện hợp đồng và ký kết hợp đồng ..........................................44
2.6.1. Trình duyệt và thẩm định kết quả đấu thầu .......................................44
2.6.2. Phê duyệt kết quả đấu thầu ................................................................ 46
2.6.3. Thông báo kết quả đấu thầu............................................................... 47
2.6.4. Thương thảo, hoàn thiện hợp đồng và ký kết hợp đồng.....................47
2.7. Trách nhiệm pháp lý của các bên trong hoạt động đấu thầu................49
CHƯƠNG 3. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẤU THẦU VÀ GIẢI PHÁP
HOÀN THIỆN ......................................................................................................... 53
3.1. Đánh giá công tác đấu thầu trong thời gian qua và sự cần thiết ban hành
Luật đấu thầu.................................................................................................................... 53
3.2. Những hạn chế, tồn tại trong Luật đấu thầu.............................................. 54
Hoạt động đấu thầu được áp dụng vào Việt Nam trong khoảng thời gian trên 10
năm trở lại đây, kể từ khi hoạt động viện trợ của các định chế tài chính được nối lại.
Thông qua đấu thầu, các chủ đầu tư đã lựa chọn được những nhà thầu đủ năng lực, kinh
nghiệm để thực hiện các dự án, gói thầu làm thay đổi diện mạo kết cấu hạ tầng kinh tế-xã
hội của đất nước. Hàng loạt các con đường, cây cầu, bến cảng, sân bay, nhà máy điện, xi
măng, các công trình cấp nước, thoát nước, dầu khí... đã được xây dựng, góp phần quan
trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế đất nước phát triển. Thông qua đấu thầu, các nhà
thầu trong nước từ khi chỉ làm thầu phụ cho các nhà thầu nước ngoài đến nay đã lớn
mạnh có thể tham gia đấu thầu cạnh tranh bình đẳng với nhà thầu nước ngoài để dành
được các hợp đồng lớn. Ngoài ra, các chủ đầu tư, bên mời thầu đã được tăng cường rất
nhiều về năng lực, từ chỗ hiểu đấu thầu còn mơ hồ đến nay đã có thể thực hiện công tác
đấu thầu thuần thục.
Có thể nói trong giai đoạn hiện nay hoạt động đấu thầu là hoạt động có vai trò
quan trọng và đặc biệt không thể thiếu được trong nền kinh tế hội nhập. Và để tạo ra
sự cạnh tranh trong hoạt động đấu thầu nhà nước đã có nhiều biện pháp tiến hành,
nhưng một biện pháp hiệu quả nhất là nhà nước đã ban hành các văn bản như là Luật
Đấu thầu được Quốc Hội thông qua ngày 29/11/2005, Nghị định 58/2008/NĐ-CP ngày
05/5/2008 hướng dẫn thi hành Luật Đấu thầu và lựa chọn nhà thầu xây dựng theo Luật
Xây dựng (sau đây gọi tắt là Nghị định 58) làm cơ sở pháp lý cho hoạt động đấu thầu.
GVHD: Phạm Mai Phương
1
SVTH: Võ Thị Lệ Thu
Luận văn tốt nghiệp
Cơ sở pháp lý của hoạt động đấu thầu
Làm rõ thực trạng của hoạt động đấu thầu đã và đang diễn ra, bên cạnh đó cũng
đưa ra những biện pháp nhằm khắc phục những hạn chế và phát huy những mặt tiến
bộ.
3. Phạm vi nghiên cứu.
Việc làm rõ phạm vi nghiên cứu của đề tài có ý nghĩa quan trọng trong việc nêu
rõ những nội dung cơ bản của đề tài, đồng thời còn xác định được khuynh hướng
nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu. Trong đề tài người viết đi sâu nghiên cứu những
quy định của luật về hoạt động đấu thầu, mà chủ yếu là về hoạt động đấu thầu xây lắp.
GVHD: Phạm Mai Phương
2
SVTH: Võ Thị Lệ Thu
Luận văn tốt nghiệp
Cơ sở pháp lý của hoạt động đấu thầu
4. Phương pháp nghiên cứu.
Để thực hiện đề tài nghiên cứu người viết đã sử dụng các phương pháp truyền
thống đó là những phương pháp sau:
+ Phương pháp phân tích luật viết.
+ Phương pháp tổng hợp.
+ Phương pháp so sánh kết hợp lý luận với thực tiễn.
+ Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: thu thập thông tin dựa trên những qui
định của pháp luật và các sách báo, tạp chí, internet…
5. Cơ cấu của luận văn.
Lời nói đầu.
Phần nội dung: gồm 3 chương
Thuật ngữ “đấu thầu” đã xuất hiện trong thực tế xã hội từ xa xưa. Theo Từ điển
tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học xuất bản năm 1998) thì đấu thầu được giải thích là việc
“đọ công khai, ai nhận làm, nhận bán với điều kiện tốt nhất thì được giao cho làm hoặc
được bán hàng (một phương thức giao làm công trình hoặc mua hàng)”. Như vậy bản
chất của việc đấu thầu đã được xã hội thừa nhận như là một sự ganh đua (cạnh tranh) để
được thực hiện một việc nào đó, một yêu cầu nào đó.
Từ khi đất nước ta tiến hành công cuộc đổi mới, nền kinh tế đã mở cửa với thế
giới thì bắt đầu xuất hiện khái niệm “đấu thầu”. Ta có thể hiểu “đấu thầu” là một quá
trình chủ đầu tư lựa chọn được một nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của mình”. Trong nền
kinh tế thị trường, người mua tổ chức đấu thầu để người bán (các nhà thầu) cạnh tranh
nhau. Mục tiêu của người mua là có được hàng hóa và dịch vụ thỏa mãn các yêu cầu của
mình về kỹ thuật, chất lượng và chi phí thấp nhất. Mục đích của nhà thầu là giành được
quyền cung cấp hàng hóa dịch vụ đó với giá đủ bù đắp các chi phí đầu vào và đảm bảo
mức lợi nhuận cao nhất có thể.
Theo khoản 2 điều 4 Luật đấu thầu 2005 thì “đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà
thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu để thực hiện gói thầu thuộc các dự án quy
định tại Điều 1 của Luật Đấu thầu trên cơ sở bảo đảm tính cạnh tranh, công bằng, minh
bạch và hiệu quả kinh tế”.
1.1.2. Khái niệm về hoạt động đấu thầu.
Nhằm tạo ra tính đúng đắn, khách quan, công bằng, đồng thời đảm bảo được tính
cạnh tranh trong các hoạt động tuyển chọn tư vấn, mua sắm vật tư thiết bị và thi công xây
lắp để triển khai các dự án đầu tư thì cấn phải tiến hành đấu thầu. Đấu thầu là quá trình
lựa chọn nhà thầu đáp ứng được các yêu cầu của bên mời thầu trên cơ sở cạnh tranh giữa
các nhà thầu. Thực chất của hoạt động đấu thầu đó là sự cạnh tranh của các nhà cung ứng
hàng hóa hay dịch vụ. Trong hoạt động đấu thầu thì bên mua (nhà đầu tư) là có một
người, còn bên bán (các nhà thầu) là có nhiều người. Tất cả các nhà thầu đều muốn bán
được hàng hóa của mình, nhưng người mua chỉ có một và chỉ mua được hàng của một
người. Vì vậy tất cả những người bán đều cạnh tranh với nhau để được người mua lựa
chọn. Trên ưu thế của mình, người mua sẽ lựa chọn hàng hóa, dịch vụ mà họ cho là tốt
nhất. Sự cạnh tranh của người bán làm cho giá cả của hàng hóa, dịch vụ rẻ hơn và chất
vậy là chưa chuẩn xác. Hai ví dụ nêu trên xét về bản chất là hai hoạt động đấu giá và
đấu thầu riêng biệt, nhưng lại được sử dụng ngôn ngữ đấu thầu trong thông báo. Hoạt
động thứ nhất không phải là hoạt động đấu thầu vì người bán lại chính là người có khu
đầm nuôi tôm. Đây chính là hoạt động đấu giá. Họ sẽ chọn người nào (bên mua) chào
giá cao nhất (ngược với hoạt động đấu thầu). Hoạt động thứ hai mới là hoạt động đấu
thầu. Người mua sẽ chọn được người bán máy tính văn phòng đảm bảo các tính năng
kỹ thuật theo yêu cầu và có chi phí trên một mặt bằng thấp nhất và bảo đảm không
vượt dự toán đã định. Sau đây là một số điểm lưu ý giúp ta phân biệt khái niệm đấu
thầu và đấu giá.
1.2.1. Hoạt động mua hay bán.
Xét trên giác độ quan hệ mua-bán của chủ thể là Nhà nước, các cơ quan, tổ chức
đại diện cho Nhà nước (bên chủ động tiến hành, tổ chức hoạt động đấu thầu hay đấu
giá), có thể nói đấu thầu là hoạt động mua, ngược lại đấu giá là hoạt động bán. Trong
đấu thầu, bên chủ động tổ chức cuộc thầu (bên mời thầu) là người mua hàng hoá, dịch
vụ, công trình từ các nhà thầu. Bên mời thầu chủ động tổ chức hoạt động đấu thầu nhằm
mua được hàng hoá, dịch vụ có chất lượng tốt nhất, giá cả thấp nhất, đảm bảo các yêu
cầu kỹ thuật, chất lượng, và tiến độ đề ra. Trong đấu giá, bên chủ động tổ chức phiên
đấu giá nhằm bán được hàng hoá, dịch vụ của mình với giá cao nhất có thể.
1.2.2. Về đối tượng mua và bán.
1
Khoản 3 điều 4 Luật đấu thầu.
GVHD: Phạm Mai Phương
5
SVTH: Võ Thị Lệ Thu
định trong một thời gian xác định. Theo đó, hoạt động đấu thầu để mua sắm bằng tiền
của Nhà nước được gọi là “Mua sắm công” hay “Mua sắm chính phủ”. Các quy định để
thực hiện các hành vi mua sắm thông qua đấu thầu được chi phối, điều tiết bởi người sở
hữu nguồn tiền sử dụng cho việc mua sắm. Tuỳ thuộc vào nguồn tiền được sử dụng mà
việc mua sắm có những đặc điểm khác nhau. Với việc sử dụng tiền của Nhà nước, hoạt
động đấu thầu mua sắm có những đặc điểm riêng, khác với các nguồn tiền không phải
của Nhà nước.
Mua sắm từ nguồn vốn tư nhân (không phải vốn Nhà nước).
Trong trường hợp mua sắm từ nguồn vốn không phải của Nhà nước công tác mua
sắm có thể hiểu như công tác “đi chợ” hàng ngày, đi mua sắm đồ dùng trang thiết bị, xây
dựng nhà cửa cho nhu cầu của bản thân, gia đình. Việc mua sắm này không tuân theo
GVHD: Phạm Mai Phương
6
SVTH: Võ Thị Lệ Thu
Luận văn tốt nghiệp
Cơ sở pháp lý của hoạt động đấu thầu
một quy định bắt buộc, tự cá nhân có tiền tuỳ ý thích mua sắm miễn là bảo đảm không
trái các quy định của pháp luật và khả năng tài chính của cá nhân.
Một cách khái quát, đây là cách mua sắm theo cách “mặc cả hay thương thảo”
trực tiếp. Theo đó bên bán thường đưa ra giá bán có tính chất gợi ý để cùng người mua
thảo luận theo cách nâng lên hạ xuống. Khi đã có sự thống nhất thì việc mua bán được
hoàn tất.
Trong mua sắm theo hình thức này có nhiều nội dung được điều chỉnh tuỳ theo sự
làm rõ giữa hai phía. Nguồn vốn ở đây thường là các khoản tiền thuộc sở hữu của người
7
SVTH: Võ Thị Lệ Thu
Luận văn tốt nghiệp
Cơ sở pháp lý của hoạt động đấu thầu
Thứ tư là Tổ chuyên gia đấu thầu, bao gồm các cá nhân được Chủ đầu tư quyết
định thành lập để thực hiện nhiệm vụ đánh giá hồ sơ dự thầu, lựa chọn nhà thầu phù hợp
với yêu cầu căn cứ hồ sơ mời thầu.
Bên bán: Nhà thầu (nhà cung cấp, nhà xây dựng và nhà tư vấn) tham gia đấu thầu
các gói thầu phù hợp với điều kiện năng lực và kinh nghiệm của mình để dành được các
hợp đồng trên cơ sở cạnh tranh hoặc thông qua các hình thức lựa chọn khác theo quy
định.
Các đối tượng tham gia gián tiếp vào hoạt động đấu thầu:
Ngoài bên mua và bên bán là các đối tượng tham gia trực tiếp hoạt động đấu thầu
còn có một bộ phận thứ ba gián tiếp tham gia vào hoạt động đấu thầu, bao gồm:
o Cơ quan thanh tra, kiểm tra, giám sát;
o Tổ chức, công ty kiểm toán độc lập;
o Công luận, các cơ quan báo chí;
o Sự tham gia của cộng đồng với vai trò giám sát.
1.5. Vai trò, tầm quan trọng của hoạt động đấu thầu.
Thông qua hoạt động đấu thầu, các hoạt động kinh tế đều được kích thích phát
triển như các ngành sản xuất trực tiếp, các ngành công nghiệp phụ trợ, chế biến. Với việc
nhiều nhà thầu đứng vai trò tổng thầu để kết hợp được các nhà chế tạo, nhà sản xuất, các
chuyên gia tư vấn nhằm thực hiện các gói thầu quy mô lớn, tổng hợp nhiều lĩnh vực đã
làm cho hoạt động kinh tế được diễn ra theo hướng chuyên môn hóa sâu và đa phương
tăng cường về năng lực, họ có thêm kiến thức, thông tin và trở thành những người mua
ngày một thông thái hơn. Bên cạnh đó, hoạt động đấu thầu góp phần tạo động lực cho sự
phát triển nhờ tăng cường sự công khai, minh bach, công bằng, hiệu quả và thúc đẩy cạnh
tranh các hoạt động mua sắm bằng nguồn vốn của Nhà nước cho các công trình công
cộng;
Là một công cụ quan trọng giúp các chính phủ quản lý chi tiêu, sử dụng các
nguồn vốn của Nhà nước sao cho có hiệu quả và chống thất thoát, lãng phí. Đó là những
khoản tiền được chi dùng cho đầu tư phát triển mà có sự tham gia của các tổ chức nhà
nước, doanh nghiệp nhà nước ở một mức độ nào đó, cũng như cho mục tiêu duy trì các
hoạt động của bộ máy Nhà nước;
Cùng với pháp luật về thực hành tiết kiệm chống lãng phí, pháp luật về tham
phòng-chống tham nhũng tạo thành công cụ hữu hiệu để chống lại các hành vi gian lận,
tham nhũng và lãng phí trong việc chi tiêu các nguồn tiền của Nhà nước, góp phần làm
lành mạnh hóa các quan hệ xã hội nhờ thực hiện các hoạt động mua sắm công theo đúng
luật pháp của Nhà nước;
Thúc đẩy chuyển giao công nghệ, chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm giữa các quốc
gia, các tổ chức phát triển với các quốc gia đang phát triển. Hoạt động đấu thầu không chỉ
diễn ra trong phạm vi hẹp mà được diễn ra trên toàn thế giới. Các nhà thầu danh tiếng
trên thế giới họ là những người sẵn sàng và có khả năng tham gia vào tất cả các hoạt
động của các quốc gia, thông qua đó họ sẵn sàng chuyển giao công nghệ, chia sẻ kiến
thức, kinh nghiệm;
Việc chi tiêu, sử dụng tiền của Nhà nước thông qua đấu thầu sẽ giúp các cơ quan
quan lý có điều kiện xem xét, quản lý và đánh giá một cách minh bạch các khoản chi tiêu
do quá trình đấu thầu phải tuân thủ các quy trình chặt chẽ với sự tham gia của nhiều bên;
Tạo điều kiện để thúc đẩy tiến trình đổi mới nền kinh tế từ cơ chế tập trung bao
cấp, cơ chế “xin”, “cho” sang cơ chế cạnh tranh;
Thực hiện dân chủ hóa nền kinh tế, khắc phục những nhược điểm của những thủ
tục hành chính nặng nề cản trở sự năng động, sáng tạo.
1.6. Mục tiêu của hoạt động đấu thầu.
1.6.1. Các mục tiêu chung của công tác đấu thầu.
Hiệu quả
Hiệu quả của hoạt động đấu thầu mua sắm công với nghĩa một hệ thống được
vận hành đúng cách, giảm thiểu thủ tục hành chính nhưng vẫn đạt được các yêu cầu cơ
bản của một gói thầu là các hàng hóa, dịch vụ được mua sắm và các công trình được
xây dựng.
Công khai
Một hệ thống công khai mang đến cơ hội công bằng cho tất cả các nhà thầu hợp
lệ trong việc cạnh tranh để cung cấp hàng hóa, công trình và dịch vụ.
Minh bạch
Một hệ thống minh bạch có các quy định và cơ chế rõ ràng để đảm bảo tuân thủ
đúng các quy định đó. Các quy định về cạnh tranh được biết trước và đưa ra một cách
rõ ràng để tạo thuận lợi cho việc thanh tra của các nhà kiểm toán công và các cơ quan
liên quan, như trong trường hợp một nhà thầu không trúng thầu. Sự minh bạch khuyến
khích sự đóng thuế tự nguyện của các bên tham gia vào hệ thống đấu thầu mua sắm
công.
1.6.1.2. Các mục tiêu khác của công tác đấu thầu.
Hệ thống đấu thầu mua sắm công ở nhiều các quốc gia thường được sử dụng
để thực hiện các mục tiêu riêng của chính phủ các nước. Các mục tiêu đó có thể bao
gồm:
Thúc đẩy công nghiệp trong nước và giải quyết việc làm.
Bảo đảm cho các vấn đề an ninh quốc gia.
Thực hiện các phúc lợi xã hội, chính sách lương tối thiểu và loại trừ việc sử
dụng lao động trẻ em.
GVHD: Phạm Mai Phương
10
SVTH: Võ Thị Lệ Thu
đấu thầu và trang thông tin điện tử về đấu thầu của cơ quan quản lý Nhà nước về đấu
thầu 2.
1.6.2.2. Thống nhất quản lý việc chi tiêu sử dụng tiền của Nhà nước.
Việc mua sắm bằng nguồn vốn nhà nước (mua sắm công) cần phải được quản
lý thống nhất, tránh việc mỗi nơi lại theo những chỉ đạo, hướng dẫn khác nhau, thậm
chí trái ngược nhau. Nhìn chung việc tổ chức đấu thầu ở Việt Nam thời gian qua đảm
bảo thực hiện theo luật pháp của Nhà nước. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, việc tuân thủ
luật pháp còn mang nặng tính hình thức. Điều đó có nghĩa là chúng ta đã có quy định,
người thực hiện tuân thủ một cách nghiêm túc, nhưng trên thực tế rất nhiều hoạt động
không diễn ra công khai (như thông đồng, dàn xếp, móc nối, quân xanh quân đỏ,...) để
2
Điều 5, Điều 6 và Điều 8 Luật đấu thầu.
GVHD: Phạm Mai Phương
11
SVTH: Võ Thị Lệ Thu
Luận văn tốt nghiệp
Cơ sở pháp lý của hoạt động đấu thầu
“lách Luật”. Do vậy, ngoài việc hiểu Luật, tuân thủ Luật Đấu thầu, điều quan trọng là
cần phải tăng cường thanh tra các hoạt động đấu thầu và xử lý các vi phạm pháp luật
về đấu thầu.
Để bảo đảm thống nhất quản lý việc chi tiêu, sử dụng vốn nhà nước thì hoạt
động đấu thầu cần bảo đảm như sau:
thầu, quá trình xét thầu không được thêm bớt, bổ sung.
GVHD: Phạm Mai Phương
12
SVTH: Võ Thị Lệ Thu
Luận văn tốt nghiệp
Cơ sở pháp lý của hoạt động đấu thầu
Các thông tin liên quan tới việc tham dự thầu, tổ chức các cuộc thầu, thông tin
về dự án, thông tin về trao thầu... đều phải được thông báo công khai rộng rãi theo quy
định.
1.6.2.4. Đảm bảo công bằng trong đấu thầu.
Đây là mục tiêu rất quan trọng trong đấu thầu. Trong toàn bộ quá trình thực
hiện Luật Đấu thầu, phải hết sức tôn trọng quyền lợi của các bên có liên quan. Mọi
thành viên từ chủ đầu tư đến các nhà thầu, các tổ chức tư vấn được thuê thực hiện một
phần công việc của đấu thầu đều bình đẳng với nhau trước pháp luật. Mỗi bên có
quyền và trách nhiệm được quy định. Chủ đầu tư không được phép cho rằng mình là
người có quyền cao nhất muốn làm gì thì làm, muốn cho ai trúng thầu thì cho. Nhà
thầu không được lợi dụng quan hệ thân thiết, hoặc những tác động vật chất đối với các
thành viên tổ chuyên gia đấu thầu để làm sai lệch kế hoạch đấu thầu theo hướng có lợi
cho mình.
Tính công bằng trong đấu thầu thể hiện rằng các chủ thể tham gia đều phải thực
hiện theo quy định của pháp luật về đấu thầu. Cụ thể hơn là người có thẩm quyền phê
duyệt các nội dung quan trọng trong đấu thầu phải thực hiện theo quy định mà không
thể dùng ảnh hưởng cá nhân để phê duyệt tạo thuận lợi cho một hoặc một số cá nhân,
xã hội được nâng cấp, cải thiện sẽ là những động lực để thu hút đầu tư nước ngoài, tạo
môi trường thông thoáng cho các hoạt động đầu tư kinh doanh.
1.6.2.6 Phòng, chống tham nhũng trong đấu thầu.
Mục tiêu tiếp theo của đấu thầu là loại trừ tham nhũng. Đây là mục tiêu vừa có
tính lâu dài, vừa có tính cấp bách trước mắt vì Việt nam đã ký vào công ước quốc tế về
chống tham nhũng. Có thể nói rằng, tham nhũng là một trong những căn bệnh dễ có
nguy cơ nảy sinh trong quá trình mua sắm công vì công quỹ, tài sản là của Nhà nước,
của chung, thuộc sở hữu toàn dân, đặc biệt trong lĩnh vực xây lắp, xây dựng giao
thông, lĩnh vực mua sắm công có lượng vốn đầu tư thường rất lớn.
Tham nhũng có thể xẩy ra trong đấu thầu dưới nhiều hình thức khác nhau, có
thể kể đến các hành vi tham nhũng như:
+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao, cố ý làm trái pháp luật dẫn đến có
hành động sai trong việc quyết định trúng thầu, ký hợp đồng để được hưởng bổng lộc
từ nhà thầu;
+ Nhũng nhiễu, đòi hỏi các thứ có giá trị từ tổ chức, cá nhân có liên quan đến quá
trình đấu thầu, và do đó có hành động làm sai lệch kế hoạch đấu thầu;
+ Rút ruột công trình, sử dụng các vật tư, nguyên liệu không đúng với cam kết
trong hồ sơ dự thầu và trong hợp đồng đã ký kết làm giảm chất lượng, tuổi thọ của
công trình...
Để thực hiện mục tiêu loại trừ tham nhũng này, công tác đấu thầu cần phải:
Thứ nhất, công khai các thông tin về đấu thầu, các yêu cầu, điều kiện, tiêu
chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu trong hồ sơ mời thầu;
Thứ hai, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra về đấu thầu nhằm phát hiện và
ngăn chặn kịp thời các hành vi tham nhũng;
Thứ ba, xử lý nghiêm theo đúng quy định của luật pháp những hành vi tham
nhũng.
7. Tính tất yếu của hoạt động đấu thầu.
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật là những thành tựu kinh tế. Chúng ta
đã đạt được những kết quả to lớn trong công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước. Những
giao cho và họ buộc phải thực hiện. Cơ chế này được gọi là cơ chế ”giao-nhận”. Các đơn
vị kinh tế không có quyền tự tìm kiếm công việc, không được tự thỏa thuận và ký kết hợp
đồng. Vì vậy trong cơ chế này không thể tồn tại được chế độ đấu thầu. Bởi vậy nếu có
hoạt động đấu thầu là có sự tự do tìm kiếm công việc, tự do ký kết và thực hiện hợp
đồng. Và như vậy là có mâu thuẫn với nguyên tắc chung của nền kinh tế kế hoạch hóa
tập trung.
Cơ chế “giao - nhận” trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung có nhiều điểm giống
với hình thức “chỉ định thầu” trong chế độ đấu thầu. Chỉ định đấu thầu có nhiều hạn chế
là đáp ứng được yêu cầu về tính cạnh tranh, tính công bằng, bình đẳng nên không có sự
rộng rãi. Chỉ định thầu là hình thức chủ đầu tư giao một công việc nào đó cho nhà thầu và
gần giống với việc Nhà nước giao chỉ tiêu pháp lệnh cho một đơn vị kinh tế. Vì vậy trong
nền kinh tế thị trường phải tổ chức đấu thầu chứ không thể áp dụng hình thức chỉ định
thầu một cách rộng rãi được.
Khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, yêu cầu của các dự án công trình ngày
càng hiện đại, thẩm mĩ, vì vậy vấn đề đặt ra là các nhà đầu tư phải có năng lực về kỹ
thuật, về công nghệ tiên tiến mới có thể đáp ứng được. Sự lựa chọn nhà thầu đáp ứng tốt
nhất các yêu cầu của trình độ khoa học kỹ thuật hiện nay là tất yếu khách quan.
Hoạt động đấu thầu thống nhất quản lý các nguồn vốn đầu tư trong cả nước thông
qua quy định của Nhà nước về quy mô của dự án là bao nhiêu thì phải đấu thầu. Nó tạo ra
một cơ sở pháp lý hoàn chỉnh cho hoạt động của các chủ thể trong phạm vi điều chỉnh
cho hoạt động của các chủ thể trong phạm vi điều chỉnh Luật đấu thầu. Thông qua chế độ
đấu thầu, các chủ thể sẽ căn cứ để xác định hành vi của mình trong khuôn khổ pháp luật.
Chế độ đấu thầu quy định các mối quan hệ ràng buộc giữa chủ đầu tư, nhà thầu và nhà
nước, tạo ra quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể tham gia. Chế độ đấu thầu do Nhà
nước ban hành đưa ra các chỉ dẫn, trình tự, thủ tục của hoạt động đấu thầu. Thông qua đó,
hoạt động của các chủ thể nhanh chóng, hiệu quả và đúng pháp luật.
GVHD: Phạm Mai Phương
15
SVTH: Võ Thị Lệ Thu
Luận văn tốt nghiệp
Cơ sở pháp lý của hoạt động đấu thầu
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA HOẠT ĐỘNG ĐẤU THẦU
2.1. Phương pháp đấu thầu.
2.1.1. Hình thức lựa chọn nhà thầu.
Trong hoạt động đấu thầu, tùy theo tính chất của từng dự án mà có hình thức
lựa chọn nhà thầu khác nhau. Đó là hình thức: Đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế và
chỉ định thầu.
Nhóm hình thức không có điều kiện (đấu thầu rộng rãi).
Đấu thầu rộng rãi là hình thức đấu thầu này khuyến khích áp dụng nhằm đạt được
tính cạnh tranh cao trên cơ sở tham gia của nhiều nhà thầu 3. Tuy nhiên, hình thức đấu
thầu này được áp dụng tùy theo từng dự án cụ thể trong phạm vi một địa phương, một
vùng, liên vùng, toàn quốc hoặc quốc tế. Khi tổ chức đấu thầu rộng rãi, vấn đề quan
trọng là thông tin. Mọi nhà thầu đều phải biết được những thông tin về dự án mời thầu
tham gia càng đông và kết quả đấu thầu sẽ tốt hơn.
Nhóm hình thức có điều kiện:
Đấu thầu hạn chế: được áp dụng trong các trường hợp sau đây:
Theo yêu cầu của nhà tài trợ nước ngoài đối với nguồn vốn sử dụng cho gói
thầu.
Gói thầu có yêu cầu về kỹ thuật hoặc kỹ thuật có tính đặc thù; gói thầu có tính
chất nghiên cứu, thử nghiệm mà chỉ có một số nhà thầu khả năng đáp ứng của gói
thầu.
Khi thực hiện gói thầu hạn chế, phải mời tối thiểu 5 nhà thầu được xác định là
+ Gói thầu mua sắm các loại vật tư, thiết bị để phục hồi, duy tu, mở rộng công
suất của thiết bị, dây truyền công nghệ sản xuất mà trước đó đã được mua từ một nhà
thầu cung cấp và không thể mua từ các nhà thầu cung cấp khác do phải bảo đảm tính
tương thích của thiết bị công nghệ.
+ Gói thầu dịch vụ tư vấn có giá gói thầu dưới 500 triệu đồng, gói thầu mua
sắm hàng hóa, xây lắp có giá gói thầu dưới 1 tỷ đồng thuộc dự án đầu tư phát triển;
gói thầu mua sắm hàng hóa có giá gói thầu dưới 100 triệu đồng thuộc dự án hoặc dự
toán mua sắm thường xuyên; trường hợp thấy cần thiết thì tổ chức đấu thầu.
+ Khi thực hiện chỉ định thầu, phải lựa chọn một nhà thầu được xác định là có
đủ năng lực và kinh nghiệm đáp ứng các yêu cầu của gói thầu và phải tuân thủ quy
trình thực hiện chỉ định thầu do Chính phủ quy định 5.
Ba trường hợp đặc biệt 6.
1. Lập đồ án quy hoạch xây dựng;
2. Lập dự án đầu tư xây dựng công trình và thiết kế xây dựng công trình sau
khi thi tuyển phương án thiết kế kiến trúc công trình xây dựng.
Sau khi có kết quả thi tuyển, chủ đầu tư và tác giả của phương án thiết kế kiến
trúc được lựa chọn trực tiếp đàm phán, ký kết hợp đồng để thực hiện việc lập dự án
đầu tư xây dựng công trình và thiết kế xây dựng khi tác giả của phương án thiết kế
kiến trúc có đủ điều kiện năng lực theo quy định; trường hợp tác giả phương án kiến
trúc không đủ điều kiện năng lực thì có thể liên danh với tổ chức tư vấn thiết kế có đủ
điều kiện năng lực để ký kết hợp đồng với chủ đầu tư. Nếu tác giả của phương án thiết
kế kiến trúc được lựa chọn từ chối thực hiện lập dự án đầu tư xây dựng công trình và
thiết kế xây dựng thì chủ đầu tư tổ chức lựa chọn nhà thầu khác theo quy định của
pháp luật;
3. Rà phá bom mìn, vật nổ để chuẩn bị mặt bằng thi công xây dựng công trình
thuộc đối tượng quy định tại Quyết định số 96/2006/QĐ-TTg ngày 04 tháng 05 năm
2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc quản lý và thực hiện công tác rà phá bom,
mìn, vật nổ.
Tư vấn lập, đánh giá báo cáo chiến lược, quy hoạch.
Tư vấn lập PFC, báo cáo đầu tư.
nội dung mua sắm tương tự thông qua đấu thầu hạn chế và mua sắm.
Thời gian áp dụng không qua 6 tháng kể từ khi nhà thầu trước đó ký hợp đồng.
Đơn giá đối với các nội dung thuộc gói thầu áp dụng mua sắm trực tiếp không
được vượt đợn giá của các nội dung tương ứng thuộc gói thầu tương tự đã ký hợp
đồng trước đó.
Được áp dụng mua sắm trực tiếp để thực hiện gói thầu tương tự thuộc cùng
một dự án hoặc thuộc dự án khác.
2.1.3. Chào hàng cạnh tranh trong mua sắm hàng hóa 8.
Chào hàng cạnh tranh được áp dụng trong trường hợp có đủ các điều kiện sau
đây:
Gói thầu có giá gói thầu nhỏ hơn 2 tỷ đồng.
Nội dung mua sắm là những hàng hóa thông dụng, sẳn có trên thị trường với
đặc tính kỹ thuật được tiêu chuẩn và tương đương nhau về chất lượng.
Khi thực hiện chào hàng cạnh tranh, phải gửi yêu cầu chào hàng cho các nhà
thầu. Nhà thầu gửi báo giá đến bên mời thầu một cách trực tiếp, bằng fax hoặc qua
đường bưu điện. Đối với mỗi gói thầu phải có tối thiểu ba báo giá từ ba nhà thầu khác
nhau.
2.1.4. Tự thực hiện 9.
Chủ đầu tư có đủ năng lực và kinh nghiệm.
Dự án do chủ đầu tư quản lý và sử dụng.
Phải có dự toán được duyệt.
Phải tư vấn giám sát độc lập: áp dụng giám sát độc lập khi pháp luật chuyên
nghành có yêu cầu, gói thầu cải tạo, sửa chữa lớn các thiết bị, dây chuyền sản xuất
không buộc phải thuê tư vấn giám sát.
7
Điều 21 Luật đấu thầu.
Điều 22 Luật đấu thầu.
9
hồ sơ mời thầu.
Việc mở thầu được tiến hành hai lần; trong đó, đề xuất kỹ thuật sẽ được mỏ
trước để đánh giá, đề xuất về tài chính của tất cả các nhà thầu có đề xuất kỹ thuật
được đánh giá là đáp ứng yêu cầu được mở sau để dánh giá tổng hợp. Trường hợp gói
thầu có yêu cầu kỹ thuật cao thì đề xuất về tài chính của nhà thầu đạt số điểm kỹ thuật
cao nhất sẽ được mở để xem xét thương thảo.
2.2.3. Phương thức đấu thầu hai giai đoạn.
Phương thức đấu thầu hai giai đoạn áp dụng đối với hình thức đấu thầu rộng rãi
và hạn chế cho gói thầu mua sắm hàng hóa, xây dựng, EFC có kỹ thuật công nghệ
mới, phức tạp, đa dạng và được thực hiện theo trình tự sau đây:
+ Trong giai đoạn một, theo hồ sơ mời thầu giai đoạn một, các nhà thầu nộp
đề xuất về kỹ thuật, phương án tài chính nhưng chưa có giá dự thầu; trên cơ sở trao
đổi với từng nhà thầu tham gia giai đoạn này sẽ xác định hồ sơ mời thầu giai đoạn hai.
+ Trong giai đoạn hai, theo hồ sơ mời thầu giai đoạn hai, các nhà thầu đã
tham gia giai đoạn một được mời nộp hồ sơ dự thầu giai đoạn hai bao gồm: đề xuất về
kỹ thuật, đề xuất về tài chính, trong đó có giá dự thầu; biện pháp bảo đảm dự thầu.
10
Điều 24 Luật đấu thầu.
Khoản 1 điều 26 Luật đấu thầu.
12
Khoản 2 điều 26 Luật đấu thầu.
11
GVHD: Phạm Mai Phương
20
SVTH: Võ Thị Lệ Thu