BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN LÊ YẾN NHI
CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ
THÔNG TIN VỀ CÔNG CỤ TÀI CHÍNH Ở CÁC CÔNG
TY NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN
TP. HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành :
Kế toán
Mã số
60340301
:
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. BÙI VĂN DƯƠNG
TP. Hồ Chí Minh - Năm 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, không
sao chép của bất kỳ ai. Nội dung của luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu,
1.3
Câu hỏi nghiên cứu ........................................................................................3
1.4
Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ....................................................................3
1.5
Phương pháp nghiên cứu ..............................................................................3
1.6
Ý nghĩa của nghiên cứu .................................................................................4
1.7
Các nghiên cứu liên quan trên thế giới và ở Việt Nam ................................4
1.7.1
Các nghiên cứu liên quan trên thế giới ...................................................4
1.7.2
Các nghiên cứu liên quan ở Việt Nam ....................................................6
1.8
Lý thuyết ngẫu nhiên ............................................................................15
2.2
Quy định về trình bày công cụ tài chính theo chuẩn mực kế toán quốc tế.16
2.2.1
Định nghĩa về công cụ tài chính ...........................................................16
2.2.2
Phân loại công cụ tài chính ...................................................................16
2.2.3
Trình bày công cụ tài chính ..................................................................19
2.2.4
Công bố công cụ tài chính ....................................................................20
2.3
Quy định về trình bày công cụ tài chính ở Việt Nam hiện nay ...................23
2.3.1
Định nghĩa về công cụ tài chính ...........................................................23
3.4
Mẫu nghiên cứu ...........................................................................................43
3.5
Phương pháp phân tích dữ liệu ...................................................................44
CHƯƠNG 4 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.............................................................46
4.1
Phân tích thống kê mô tả ............................................................................46
4.2
Phân tích hồi qui .........................................................................................47
4.2.1
Phân tích kết quả các kiểm định ..........................................................47
4.2.2
Thảo luận kết quả phân tích dữ liệu .....................................................51
CHƯƠNG 5 - KIẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN........................................................56
5.1 Các kiến nghị ...................................................................................................56
5.1.1 Kiến nghị đối với công ty niêm yết ...........................................................56
5.1.2 Kiến nghị đối với cơ quan nhà nước .........................................................57
5.1.3 Kiến nghị đối với nhà đầu tư .....................................................................58
Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội
IAS
Chuẩn mực kế toán quốc tế
IFRS
Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế
TTCK
Thị trường chứng khoán
VAS
Chuẩn mực kế toán Việt Nam
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
SỐ
TÊN
HIỆU
Bảng biểu
Bảng tổng hợp kết quả các nhân tố tác động đến mức độ công bố
2.1
thông tin từ các nghiên cứu thực nghiệm
Bảng tổng hợp kết quả các nhân tố tác động đến mức độ công bố
2.2
Mô hình nghiên cứu
Biểu đồ
4.1
Biểu đồ tần số của phần dư chuẩn hóa
1
CHƯƠNG 1 - GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1
Lý do chọn đề tài
Nền kinh tế của Việt Nam đang hội nhập kinh tế quốc tế theo xu thế toàn cầu
hóa và tự do hóa thương mại của kinh tế thế giới. Tiến trình hội nhập kinh tế của
Việt Nam đã có một bước đi quan trọng khi chính thức trở thành thành viên của Tổ
chức thương mại thế giới (WTO) vào ngày 11 tháng 01 năm 2007. Việt Nam hiện là
thành viên của các tổ chức quốc tế như: WTO, ASEAN, APEC; tham gia Diễn đàn
APEC, Diễn đàn ASEM; tích cực tham gia đàm phán, ký kết các Hiệp định thương
mại tự do; đặc biệt, vào ngày 04 tháng 02 năm 2016 đã ký Hiệp định Đối tác xuyên
Thái Bình Dương. Khi là thành viên của các Tổ chức, Diễn đàn và Hiệp định này,
chính phủ đã tiến hành nhiều cải cách chính sách thương mại, thực hiện các cam kết
mở cửa thị trường.
Quá trình tự do hóa thương mại và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu
rộng của Việt Nam tạo ra nhiều cơ hội thu hút nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài và
đồng thời cũng nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp, rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh
doanh thương mại, nhất là rủi ro tài chính. Do đó, quản trị rủi ro tài chính rất quan
trọng đối với doanh nghiệp trong nền kinh tế có nhiều biến động hiện nay. Một
tin về công cụ tài chính nên tác giả chọn đề tài “Các nhân tố tác động đến mức độ
công bố thông tin về công cụ tài chính ở các công ty niêm yết trên Sở giao dịch
chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh” để đánh giá mức độ công bố thông tin công
cụ tài chính các công ty trên Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh và
xác định nhân tố tác động làm ảnh hưởng đến mức độ công bố.
1.2
Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu nghiên cứu là nhận dạng các nhân tố tác động và mức ảnh hưởng
của các nhân tố này đến mức độ trình bày, công bố thông tin công cụ tài chính trên
báo cáo tài chính của các công ty niêm yết phi tài chính ở Sở giao dịch chứng khoán
thành phố Hồ Chí Minh.
1.2.2
Mục tiêu cụ thể
Nhận dạng những nhân tố có ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin công
cụ tài chính.
3
Xây dựng và kiểm định mô hình nghiên cứu để xác định nhân tố nào có tác
động đến mức độ trình bày và công bố thông tin công cụ tài chính trên báo cáo tài
chính của các công ty niêm yết phi tài chính ở Sở giao dịch chứng khoán thành phố
Hồ Chí Minh.
1.3
Câu hỏi nghiên cứu
4
1.6
Ý nghĩa của nghiên cứu
Đóng góp vào lý thuyết các yếu tố tác động đến mức độ trình bày và công bố
thông tin công cụ tài chính trong điều kiện ở Việt Nam.
Xác định nhân tố tác động và mức ảnh hưởng đến mức độ thông tin công cụ
tài chính trình bày và công bố trên báo cáo tài chính ở các công ty niêm yết phi tài
chính trên Sở giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh.
1.7
Các nghiên cứu liên quan trên thế giới và ở Việt Nam
1.7.1 Các nghiên cứu liên quan trên thế giới
Trên thế giới có nhiều nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tính minh bạch và
mức độ công bố thông tin của một công ty. Owusu-Ansah (1998), Barako et al.
(2006), Mangena và Tauringana (2007), Otchere et al. (2012) cho rằng mức độ tập
trung quyền sở hữu ảnh hưởng đến mức độ thông tin công bố; và theo OwusuAnsah (2005) thời gian công ty hoạt động, sự tồn tại của Ủy ban kiểm toán, quy mô
công ty, khả năng thanh khoản, lợi nhuận, loại công ty kiểm toán ảnh hưởng đến
mức độ thông tin công bố. Huafang và Jianguo (2007) khi xem xét tác động của cơ
cấu sở hữu, thành phần hội đồng quản trị đến mức độ công bố thông tin tự nguyện
của các công ty tại Trung Quốc cho thấy mức độ tập trung quyền sở hữu, mức độ
độc lập của hội đồng quản trị, quy mô công ty, cơ hội phát triển tác động đến mức
độ công bố thông tin. Theo kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của quản trị doanh
nghiệp đến báo cáo tài chính của Zhizhong et al. (2011) để cải thiện chất lượng của
thông tin kế toán và giảm tính cơ hội của các nhà quản lý, phải thiết lập quản trị
doanh nghiệp hiệu quả, nâng cao tỷ lệ thành viên độc lập trong hội đồng quản trị, và
hồi qui đơn và hồi qui bội, tác giả kết luận rằng mức độ thông tin công cụ tài chính
được công bố có ảnh hưởng đáng kể bởi quy mô công ty, loại công ty kiểm toán,
tình trạng niêm yết (có niêm yết ở nước ngoài), loại doanh nghiệp (tài chính hay phi
tài chính). Nghiên cứu còn đưa ra phân tích cơ cấu tài chính vốn và các đặc điểm
quản trị doanh nghiệp, tuy nhiên các đặc điểm trên không có ảnh hưởng ở thời điểm
tác giả tiến hành nghiên cứu. Theo tác giả, hạn chế của nghiên cứu là về kích thước
mẫu, và các báo cáo hàng năm không phải là phương tiện duy nhất mà các công ty
công bố thông tin công cụ tài chính.
6
Nghiên cứu tác động của quản trị doanh nghiệp đối với thực tiễn trình bày
công cụ tài chính của các công ty năng lượng Úc của Taylor et al. (2008) được thực
hiện ngay trước khi bắt buộc áp dụng IFRS tại Úc. Sử dụng dữ liệu từ báo cáo
thường niên của 30 công ty năm 2005 (21 công ty dầu mỏ và 9 công ty khí đốt)
được lựa chọn ngẫu nhiên từ tổng thể 130 công ty năng lượng niêm yết ở Úc, theo
tác giả để phòng ngừa rủi ro các công ty năng lượng thường sử dụng công cụ tài
chính, do tính chất của ngành công nghiệp này cần đầu tư nhiều vốn. Tác giả đo
lường mức độ công bố công cụ tài chính bằng cách sử dụng 120 mục công bố công
cụ tài chính bao gồm bắt buộc và tự nguyện được phát triển từ Chuẩn mực kế toán
Úc AASB 1033 và AASB 132 về trình bày và công bố công cụ tài chính. Qua thống
kê cho thấy các công ty được chọn trong mẫu trình bày và công bố thông tin về
công cụ tài chính khá thấp so với quy định. Kết quả phân tích mô hình hồi qui bội
MLR chỉ ra rằng đặc điểm quản trị công ty là yếu tố quyết định quan trọng, cùng
với đòn bẩy tài chính, quy mô doanh nghiệp, và đặc điểm ngành công nghiệp ảnh
hưởng tích cực mức độ trình bày công cụ tài chính của các công ty. Nghiên cứu cho
thấy cấu trúc quản trị doanh nghiệp hiệu quả đã hỗ trợ các công ty trong chính sách
và thực hiện công bố thông tin, và thông tin công cụ tài chính trong các báo cáo.
Adznan và Nelson (2014) kiểm tra thực tiễn mức độ công bố công cụ tài
chính của các công ty niêm yết Malaysia tuân theo chuẩn mực báo cáo tài chính
tần suất các cuộc họp của Hội đồng quản trị, chất lượng kiểm toán, quy mô công ty,
lợi nhuận có ảnh hưởng tích cực đến công bố thông tin tự nguyện trên báo cáo
thường niên của các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ
Chí Minh. Ngoài ra, có các nghiên cứu về nhân tố tác động đến mức độ thông tin
công cụ tài chính công bố đã được thực hiện ở Việt Nam.
Hà Thị Mỹ (2012) nghiên cứu mức độ thông tin công cụ tài chính được công
bố trên báo cáo tài chính của ngân hàng thương mại Việt Nam qua 28 ngân hàng
thương mại cung cấp báo cáo tài chính năm 2010 và năm 2011. Sử dụng các kỹ
thuật phân tích thống kê mô tả, phân tích hệ số tương quan và phân tích phương sai
(ANOVA), tác giả kiểm định mô hình với bảy nhân tố tác động là: quy mô, lợi
nhuận kinh doanh (ROE), đòn bẩy tài chính, tình trạng niêm yết, loại công ty kiểm
toán, loại hình sở hữu, hội đồng quản trị. Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đưa ra mô
8
hình gồm sáu nhân tố tác động tích cực đến thông tin công cụ tài chính công bố:
quy mô, lợi nhuận kinh doanh (ROE), đòn bẩy tài chính, tình trạng niêm yết, công
ty kiểm toán, loại hình sở hữu. Nghiên cứu này củng cố và bổ sung lý thuyết về các
nhân tố ảnh hưởng đến công bố thông tin công cụ tài chính của Ngân hàng thương
mại.
Phan Thị Thùy An (2015) phân tích dữ liệu thu thập từ báo cáo tài chính năm
2014 của mẫu gồm 100 doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Thành
phố Hồ Chí Minh bằng phương pháp hồi qui tương quan đa tuyến tính để phân tích
mối tương quan giữa các nhân tố tác động và thông tin công cụ tài chính. Tác giả
đưa ra mô hình nghiên cứu gồm bốn nhân tố tác động: quy mô, kết quả kinh doanh,
tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu, doanh nghiệp kiểm toán. Qua kết quả khảo sát cho
thấy tuy chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính về công cụ tài chính của các
công ty được cải thiện đáng kể từ sau khi thông tư 210/2009/TT-BTC được ban
hành nhưng các công ty chưa thực sự tuân thủ những yêu cầu khi trình bày và công
bố công cụ tài chính theo thông tư. Tác giả kết luận là đối với các doanh nghiệp
chính phát triển và xuất hiện nhiều công cụ tài chính.
Ngày 01/4/1990 hình thành kho bạc nhà nước, khi đó, kho bạc nhà nước phát
hành tín phiếu ngắn hạn nhằm huy động vốn giúp chính phủ cân đối ngân sách tạm
thời.
Ngày 10/7/1993 ban hành quyết định số 132/QĐ-NH14 thành lập thị trường
nội tệ liên ngân hàng. Lúc này quan hệ tín dụng giữa các tổ chức tín dụng gần như
không phát sinh hoặc phải thông qua trung gian là ngân hàng nhà nước.
Năm 1994 thành lập thị trường ngoại tệ liên ngân hàng thay cho trung tâm
giao dịch ngoại tệ được thành lập năm 1991 để tạo một thị trường có tổ chức cho
giao dịch ngoại tệ giữa các ngân hàng thương mại.
Trước 1995, tín phiếu kho bạc được phát hành dưới hình thức bán lẻ, đến
năm 1995 thực hiện phiên đấu thầu tín phiếu kho bạc đầu tiên, từ đó, Bộ Tài chính
phát hành tín phiếu kho bạc đấu thầu qua ngân hàng nhà nước theo phương thức
chiết khấu. Ngoài ra, kho bạc nhà nước phát hành trái phiếu với kỳ hạn từ một năm
trở lên được bán lẻ qua hệ thống kho bạc nhà nước, sau đó nhiều loại trái phiếu với
kỳ hạn và lãi suất khác nhau được phát hành. Trái phiếu được tự do chuyển nhượng,
cầm cố giúp cho thị trường tài chính Việt Nam phát triển hơn.
10
Thị trường chứng khoán là một bộ phận quan trọng của thị trường tài chính,
để xây dựng một thị trường tài chính lành mạnh thì thị trường chứng khoán giữ vai
trò là kênh huy động vốn quan trọng của nền kinh tế.
Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) được thành lập ngày
28/11/1996 theo Nghị định số 75-CP của Chính phủ, là cơ quan thuộc Chính phủ
thực hiện chức năng tổ chức và quản lý Nhà nước về chứng khoán và thị trường
chứng khoán. Việc thành lập cơ quan quản lý thị trường chứng khoán trước khi thị
trường ra đời là bước đi phù hợp với chủ trương xây dựng và phát triển thị trường
chứng khoán ở Việt Nam, làm cơ sở cho sự ra đời thị trường chứng khoán Việt
Nam sau này.
Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 nêu rõ mục tiêu nghiên cứu của đề tài và giới thiệu phương pháp
nghiên cứu sử dụng để đạt mục tiêu nghiên cứu và trả lời cho câu hỏi nghiên cứu.
Chương này cũng trình bày kết quả các nghiên cứu trong nước và trên thế giới liên
quan đến đề tài. Kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học trên đã nhận dạng
một số nhân tố tác động đến mức độ công bố thông tin và thông tin công cụ tài
chính. Tuy nhiên, các nghiên cứu này được thực hiện ở các quốc gia khác nhau và
còn một số hạn chế trong nghiên cứu về mẫu, biến nghiên cứu. Do nghiên cứu về
mức độ trình bày, công bố thông tin công cụ tài chính cho các công ty niêm yết thực
hiện ở Việt Nam chưa đánh giá các nhân tố phi tài chính, tác giả lựa chọn nghiên
cứu đề tài này ở Việt Nam góp phần đóng góp vào lý thuyết nghiên cứu trong điều
kiện ở Việt Nam.
12
CHƯƠNG 2 - CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1
Các lý thuyết liên quan
2.1.1 Lý thuyết ủy nhiệm
Jensen và Meckling (1976) định nghĩa mối quan hệ ủy nhiệm như một hợp
đồng theo đó một hoặc nhiều người (bên ủy nhiệm) liên kết với một người khác
(bên được ủy nhiệm) thực hiện một số dịch vụ thay họ, bao gồm việc ủy thác một số
niêm yết. Chẳng hạn lý thuyết có thể cho thấy các công ty có mức vốn vay cao sẽ
công bố nhiều thông tin hơn để đáp ứng nhu cầu của chủ nợ. Thông qua các công ty
công bố thông tin nhiều hơn cố gắng giảm chi phí vốn bằng cách giảm sự không
chắc chắn của nhà đầu tư.
Vận dụng lý thuyết ủy nhiệm, bài viết xây dựng giả thuyết nghiên cứu và dự
đoán chiều hướng tác động của các nhân tố quy mô công ty, đòn bẩy tài chính, mức
độ tập trung quyền sở hữu, sự độc lập của hội đồng quản trị tác động đến mức độ
thông tin công cụ tài chính được công bố.
2.1.2 Lý thuyết tín hiệu
Theo Connelly (2011) lý thuyết tín hiệu là hữu ích cho việc mô tả hành vi
khi hai bên là cá nhân hoặc tổ chức có thể tiếp cận thông tin khác nhau. Thông
thường, bên người gửi phải lựa chọn có thực hiện hay không và làm thế nào để
truyền thông tin đó, và bên người nhận phải lựa chọn giải thích các tín hiệu như thế
nào. Theo đó, lý thuyết tín hiệu có vai trò đáng chú ý trong lý thuyết quản trị bao
gồm cả quản trị chiến lược, doanh nghiệp và nguồn nhân lực. Lý thuyết tín hiệu cơ
bản là có liên quan với việc giảm sự bất cân xứng thông tin giữa hai bên (Spence,
2002). Lý thuyết tín hiệu đã được Spence (1973) phát triển để giải thích hành vi
trong thị trường lao động nhưng có thể giúp giải thích việc công bố thông tin trong
kinh doanh. Trong kinh doanh, người phát tín hiệu là người bên trong doanh nghiệp
như giám đốc điều hành, nhà quản lý; họ có thông tin nội bộ tiêu cực hoặc tích cực
và người phát tín hiệu thường có xu hướng không truyền thông tin tiêu cực ra bên
ngoài dẫn đến bất cân xứng thông tin. Người nhận có thể căn cứ thông tin thu được
để ra quyết định, do đó sự hữu ích của tín hiệu đối với người sử dụng phụ thuộc vào
chất lượng thông tin. Sử dụng lý thuyết tín hiệu, Zhang và Wiersema (2009) đề xuất
đặc điểm của giám đốc điều hành, đội ngũ quản lý và chất lượng báo cáo tài chính
14
của công ty gửi tín hiệu quan trọng đến cộng đồng đầu tư, nhà đầu tư sử dụng các
đặc điểm trên để phân biệt chất lượng của các đợt phát hành cổ phiếu lần đầu ra
Có nhiều dạng đại diện cơ bản cho lý thuyết lập quy, nhưng thường phổ biến
ở ba dạng sau:
- Lý thuyết lợi ích xã hội: được phát triển bởi Pigou vào năm 1932, lý thuyết
này cho rằng cần thiết lập các quy định để đáp ứng yêu cầu của xã hội trong việc
điều chỉnh sự bất công hoặc không hiệu quả của giá cả thị trường; từ đó bảo vệ lợi
ích chung của xã hội. Trong lĩnh vực kế toán, lý thuyết này là cơ sở thiết lập các tổ
chức lập quy về kế toán.
- Lý thuyết nắm giữ còn gọi là lý thuyết nhóm lợi ích: cho rằng các nhóm lợi
ích trong xã hội thường yêu cầu các quy định được thiết lập để tối đa hóa lợi ích của
các thành viên trong nhóm. Theo Stigler (1971) thì các nhóm lợi ích sẽ sử dụng
quyền lực để tác động vào chính phủ nhằm ban hành các luật và quy định theo cách
có lợi cho họ.
- Lý thuyết lợi ích cá nhân: giả định rằng những người có trách nhiệm trong
các tổ chức lập quy thường hành xử dựa trên lợi ích cá nhân của họ. Theo Watts và
Zimmerman (1978), khi các cá nhân tối đa hóa lợi ích của mình dẫn đến các công ty
thực hiện vận động hành lang những người trong cơ quan ban hành luật, chuẩn mực
kế toán để ban hành các quy định, chuẩn mực kế toán có lợi.
Vận dụng lý thuyết lập quy, bài viết xây dựng giả thuyết nghiên cứu và dự
đoán chiều hướng tác động của nhân tố mức độ tập trung quyền sở hữu tác động
đến mức độ thông tin công cụ tài chính được công bố.
2.1.5 Lý thuyết ngẫu nhiên
Lý thuyết này cho rằng không có duy nhất một hệ thống quản trị hiệu quả
nào phù hợp cho tất cả các tổ chức và cho mọi hoàn cảnh; do những đặc điểm riêng
của hệ thống và hiệu quả của nó sẽ phụ thuộc vào các đặc thù riêng của tổ chức và
các nhân tố thuộc về hoàn cảnh (Otley, 1980; Ferreira và Otley, 2009).
Nghiên cứu của Lopes và Rodrigues (2007) sử dụng lý thuyết ngẫu nhiên để
xây dựng các biến nghiên cứu và đưa ra các giả thuyết phản ánh các đặc điểm của
16
hợp đồng và các định nghĩa của nợ tài chính, tài sản tài chính và công cụ vốn chủ sở
hữu.
17
- Phân loại tài sản tài chính:
Theo IFRS 9 (tháng 07/2014), đoạn 4.1 thì đơn vị nên phân loại tài sản tài
chính thành hai loại: những tài sản tài chính đo lường theo giá trị hợp lý và các tài
sản tài chính sau ghi nhận ban đầu được đo lường theo nguyên giá phân bổ trên cơ
sở sau:
+ Mô hình kinh doanh của đơn vị để quản lý tài sản tài chính,
+ Các đặc điểm dòng tiền theo hợp đồng của tài sản tài chính.
Tài sản tài chính đo lường theo nguyên giá phân bổ:
IFRS 9, đoạn 4.1.2 quy định một tài sản tài chính nên được đo lường theo
nguyên giá phân bổ nếu thỏa mãn cả hai điều kiện:
(i) mục đích nắm giữ của đơn vị là thu về các dòng tiền theo hợp đồng ;
(ii) điều kiện hợp đồng của tài sản tài chính xác định ngày thanh toán tiền
gốc và lãi, tiền lãi tính trên số tiền gốc chưa thanh toán.
Tài sản tài chính đo lường theo giá trị hợp lý:
Một tài sản tài chính nếu không được đo lường theo nguyên giá phân bổ thì
phải xếp vào nhóm đo lường theo giá trị hợp lý.
Tài sản tài chính được đo lường theo giá trị hợp lý gồm: chênh lệch giá trị
hợp lý được ghi nhận vào kết quả kinh doanh (FVTPL) và chênh lệch giá trị hợp lý
được ghi nhận vào thu nhập tổng hợp khác (FVOCI).
Đoạn 4.1.2A của IFRS 9 quy định một tài sản tài chính nên được đo lường
theo giá trị hợp lý với chênh lệch giá trị hợp lý ghi nhận vào thu nhập tổng hợp khác
(FVOI) nếu thỏa mãn hai điều kiện:
(i) tài sản tài chính được nắm giữ với cả hai mục đích là thu về các dòng tiền
+ Nợ phải trả tài chính được đo lường theo giá trị hợp lý với chênh lệch giá
trị hợp lý ghi nhận vào kết quả kinh doanh (FVTPL) khi thỏa mãn điều kiện sau:
“ (i) Được lựa chọn đo lường theo giá trị hợp lý với chênh lệch giá trị hợp lý
ghi nhận vào kết quả kinh doanh ngay từ khi ghi nhận ban đầu, làm giảm đi tính
không thống nhất trong ghi nhận và đo lường phát sinh khi đo lường tài sản và nợ
phải trả tài chính hay ghi nhận lãi hoặc lỗ theo cơ sở đo lường khác.