BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀ O TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
----------------------------
NGUYỄN VĂN BÌNH
ĐÁNH GIÁ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC
MUA LẠI CỔ PHIẾU CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT
TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN TP.HCM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP.Hồ Chí Minh – Năm 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀ O TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
----------------------------
NGUYỄN VĂN BÌNH
ĐÁNH GIÁ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC
MUA LẠI CỔ PHIẾU CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT
TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN TP.HCM
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
MÃ SỐ: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. NGUYỄN VĂN SĨ
TP.Hồ Chí Minh - Năm 2017
1.3.
Phạm vi, đối tượng ........................................................................................ 2
1.3.1.
Đối tượng nghiên cứu ............................................................................. 2
1.3.2.
Phạm vi nghiên cứu ................................................................................ 3
1.4.
Phương pháp nghiên cứu ............................................................................... 3
1.5.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài....................................................... 3
1.5.1. Ý nghĩa khoa học ........................................................................................ 3
1.5.2. Ý nghĩa thực tiễn ........................................................................................ 3
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT ................................................... 5
2.1. Tổng quan về thị trường chứng khoán ............................................................. 5
2.1.1. Khái niệm ................................................................................................... 5
2.1.2. Đặc điểm của thị trường chứng khoán ....................................................... 6
2.1.3. Các nguyên tắc hoạt động của TTCK ....................................................... 7
2.2. Thanh khoản chứng khoán ................................................................................ 8
2.2.1. Thanh khoản chứng khoán ......................................................................... 8
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Báo cáo tài chính
BCTC
Hội đồng quản trị
HĐQT
Sở giao dịch chứng khoán
SGDCK
Thị trường chứng khoán
TTCK
Ủy ban chứng khoán
UBCK
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 : Thống kê doanh nghiệp theo ngành nghề ............................................... 37
Bảng 4.2 : Thống kê mô tả biến khảo sát ................................................................. 39
Bảng 4.3 : Kiểm tra đa cộng tuyến ........................................................................... 42
Bảng 4.4 : Phân tích tương quan .............................................................................. 43
Bảng 4.5 : Kiểm định Hausman Test mô hình ......................................................... 45
Bảng 4.6 : Kiểm định hiện tượng bỏ sót biến .......................................................... 46
Bảng 4.7 : Kiểm định phương sai số thay đổi .......................................................... 47
tiền mặt. Lượng tiền mặt của doanh nghiệp được thể hiện trên bảng cân đối kế toán
của doanh nghiệp, các chủ doanh nghiệp muốn khả năng thanh khoản của mình cao
sẽ để lượng tiền mặt lớn, nó sẽ giúp doanh nghiệp xử lý các vấn đề phát sinh, các kế
hoạch đang xấu đi, nhằm tạo ảnh hưởng tốt đối với các chủ đầu tư. Nếu trường hợp
doanh nghiệp dư thừa một lượng tiền mặt cao hơn mức cần thiết thì lượng tiền đó
nên được phân phối lại cho các cổ đông thông qua cổ tức, hoặc có thể mua lại cổ
phiếu. Mua lại cổ phiếu là một phương pháp nhanh chóng và rất linh hoat. Có thể
thấy, việc doanh nghiệp mua lại cổ phiếu của mình cũng giống như một hình thức
2
chi trả cổ tức của doanh nghiệp, bởi vì cổ đông của doanh nghiệp cũng nhận được
một khoản lợi từ việc bán lại cổ phần của mình. Vì vậy, hành động này được xem
như là một cơ chế phân phối tiền cho các cổ đông mà một doanh nghiệp có thể lựa
chọn thay cho việc trả cổ tức bằng tiền. Sự phân biệt giữa thực tế mua lại cổ phiếu
và phản ứng của thị trường khi công bố việc mua lại là rất quan trọng trong bối cảnh
cơ cấu vốn, dòng tiền, quản trị, quyền sở hữu của công ty.
Nhằm góp phần vào sự hiểu biết tốt hơn về vấn đề mua lại cổ phiếu trong
thực tế. Tác giả đã lựa chọn đề tài “Đánh giá những yếu tố tác động đến việc mua
lại cổ phiếu của các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM”
Nghiên cứu tìm hiểu các xu hướng cho việc mua lại cổ phiếu trong bối cảnh cơ cấu
vốn, dòng tiền, quản trị, quyền sở hữu của công ty trên TTCK Việt Nam. Nghiên
cứu này cũng tương tự như hầu hết các nghiên cứu của Dittmar (2000) về các công
ty Hoa Kỳ; nghiên cứu của Wada (2005), Kang, Kim, Kitsabunnarat-Chatjuthamard
và Nishikawa (2013) và Jiao Tong, Marc Bremer (2016) cũng xem xét việc mua lại
cổ phiếu.
1.2.
Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
tác giả tiến hành tổng hợp, thống kê và xử lý tài liệu thông qua phương pháp định
lượng. Phương pháp định lượng sử dụng để xây dựng mô hình hồi quy, phân tích
tương quan và phân tích hồi quy tuyến tính mô hình dữ liệu bảng bằng phần mềm
STATA 12 sử dụng các hiệu ứng RE, FEvà OLS để phân tích, kiểm định mô hình
các yếu tố tác động đến việc mua lại cổ phiếu của các công ty hiện đang niêm yết
trên SGDCK TP.HCM cho dữ liệu bảng.
1.5.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.5.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần đánh giá kỹ càng hơn những yếu tố
tác động đến việc mua lại cổ phiếu của các công ty hiện đang niêm yết trên SGDCK
Thành Phố Hồ Chí Minh.
1.5.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ mang lại những ý nghĩa thiết thực cho các
doanh nghiệp niêm yết trên TTCK như sau:
- Nhận diện được các yếu tố tác động đến hoạt động mua lại cổ phiếu một
cách có logic và khoa học.
- Nhận diện được mô hình các yếu tố tác động đến hoạt động mua lại cổ
phiếu của các công ty hiện đang niêm yết trên SGDCK TP.HCM.
-Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tác động đến hoạt động mua lại
cổ phiếu của các công ty hiện đang niêm yết trên SGDCK TP.HCM.
4
- Đề xuất một số gợi ý chính sách với hoạt động mua lại cổ phiếu, quản lý
vốn của các công ty hiện đang niêm yết trên SGDCK TP.HCM.
Bố cục của nghiên cứu
thường khác vì hàng hoá của thị trường chứng khoán là loại hàng hoá đặc biệt , là
quyền sở hữu về tư bản . Loại hàng hoá này cũng có giá trị và giá trị sử dụng. Như
vậy , có thể nói , bản chất của thị trường chứng khoán là thị trường thể hiện mối
quan hệ giữa cung và cầu của vốn đầu tư nào đó , giá cả của chứng khoán chứa đựng
thông tin về chi phí vốn hay giá cả của vốn đầu tư.Thị trường chứng khoán là hình
thức phát triển bậc cao của nền sản xuất và lưu thông hàng hoá.
6
2.1.2. Đặc điểm của thị trường chứng khoán
Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế: Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán
do các công ty phát hành, số tiền nhàn rỗi của họ được đưa vào hoạt động sản xuất
kinh doanh và qua đó góp phần mở rộng sản xuất xã hội. Thông qua TTCK, Chính
phủ và chính quyền ở các địa phương cũng huy động được các nguồn vốn cho mục
đích sử dụng và đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ các nhu cầu chung của xã
hội.
Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng: TTCK cung cấp cho công
chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các cơ hội lựa chọn phong phú. Các
loại chứng khoán trên thị trường rất khác nhau về tính chất, thời hạn và độ rủi ro,
cho phép các nhà đầu tư có thể lựa chọn loại hàng hoá phù hợp với khả năng, mục
tiêu và sở thích của mình.
Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán: Nhờ có TTCK các nhà đầu tư có
thể chuyển đổi các chứng khoán họ sở hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán
khác khi họ muốn. Khả năng thanh khoản là một trong những đặc tính hấp dẫn của
chứng khoán đối với người đầu tư. Đây là yếu tố cho thấy tính linh hoạt, an toàn của
vốn đầu tư. TTCK hoạt động càng năng động và có hiệu quả thì tính thanh khoản
của các chứng khoán giao dịch trên thị trường càng cao.
Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp: Thông qua chứng khoán, hoạt động
của các doanh nghiệp được phản ánh một cách tổng hợp và chính xác, giúp cho việc
đánh giá và so sánh hoạt động của doanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện, từ
công ty chứng khoán và các tổ chức có liên quan.
Nguyên tắc trung gian: Nguyên tắc này có nghĩa là các giao dịch chứng
khoán được thực hiện thông qua tổ chức trung gian là các công ty chứng khoán.
Trên thị trường sơ cấp, các nhà đầu tư không mua trực tiếp của nhà phát hành mà
mua từ các nhà bảo lãnh phát hành. Trên thị trường thứ cấp, thông qua các nghiệp
vụ môi giới, kinh doanh, các công ty chứng khoán mua, bán chứng khoán giúp các
khách hàng, hoặc kết nối các khách hàng với nhau qua việc thực hiện các giao dịch
mua bán chứng khoán trên tài khoản của mình.
8
Nguyên tắc tập trung: Các giao dịch chứng khoán chỉ diễn ra trên sở giao
dịch và trên thị trường OTC dưới sự kiểm tra giám sát của cơ quan quản lý nhà nước
và các tổ chức tự quản.
2.2. Thanh khoản chứng khoán
2.2.1. Thanh khoản chứng khoán
Thanh khoản được hiểu là một khái niệm trừu tượng với rất nhiều định nghĩa
khác nhau. Hiểu một cách đơn giản nhất thanh khoản là mức độ dễ dàng của việc
giao dịch một chứng khoán nào đó. Hiểu một cách thực tế hơn thị trường được coi là
thanh khoản khi mà các chi phí giao dịch tương ứng được tối thiểu hóa các thành
phần cấu thành nên tính thanh khoản bao gồm: chi phí tìm kiếm đối tác giao dịch,
chi phí rủi ro tồn đọng do trì hoãn giao dịch, rủi ro lựa chọn đối nghịch và các rủi ro
do bất hoàn hảo thị trường (Kyle, 1985).
Dự trên lý luận này nhiều tác giả đã phát triển rủi ro thanh khoản khác nhau
và mỗi thước đo tập trung khai thác một khía cạnh trong định nghĩa về thanh khoản.
Tiêu biểu như Amihud (2002) đo lường thanh khoản bằng độ nhạy cảm của giá,
Lesmond và cộng sự (1999) đo lường thanh khoản bằng tần suất giao dịch có tỉ suất
sinh lời bằng 0 hay Roll (1984) đo lường thanh khoản dựa trên chênh lệch hỏi mua
chào bán.
Tính thanh khoản được hiểu là việc chứng khoán hay các khoản nợ, khoản
trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán với các nhà đầu tư.
Tính thanh khoản cho thấy sự linh hoạt và an toàn của vốn đầu tư, thị trường
hoạt động càng năng động và có hiệu quả thì tính thanh khoản của chứng khoán giao
dịch càng cao.
Có mối quan hệ chặt chẽ giữa chỉ số P/E và tính thanh khoản của chứng
khoán chứng khoán, nhìn vào bảng thống kê tính thanh khoản của cổ phiếu, nhà đầu
tư dễ dàng nhận ra những cổ phiếu giao dịch sôi động nhất cũng là những cổ phiếu
có P/E cao hơn mức trung bình của thị trường (được đánh giá cao hơn các cổ phiếu
có cùng lợi tức). Đây là những chứng khoán có tốc độ tăng giá cao và mang lại giá
trị thặng dư cao cho cổ đông thông qua việc chia tách cổ phiếu hay phát hành cổ
phiếu mới.
10
2.2.2. Rủi ro thanh khoán chứng khoán
Các cuộc thảo luận nghiên cứu về rủi ro thanh khoản trước đây cho thấy rằng
lợi nhuận cổ phiếu phổ thông sẽ không chỉ hồi quy các đặc điểm cá nhân của thanh
khoản, chẳng hạn như chênh lệch mua bán, lựa chọn bất lợi, sâu, hoặc xác suất của
thông tin giao dịch, mà là còn phản ánh tổng hợp hạn chế thanh khoản (toàn thị
trường). Bước đầu tiên là tính thanh khoản của một cổ phiếu cá nhân, và sau đó tính
toán bình quân gia quyền tính thanh khoản của thị trường; bước thứ hai là sử dụng
ARMA (1,1) để trích xuất rủi ro thanh khoản là phương pháp thường được sử dụng
để tính toán các yếu tố rủi ro thị trường. Mặc dù có rất nhiều tài liệu nghiên cứu
cung cấp các biện pháp để xem xét để đánh giá tính thanh khoản của thị trường, ít
công trình nghiên cứu được biết về ước lượng cơ bản để đo lường thanh khoản thị
trường. Do đó, nghiên cứu này sử dụng bốn biện pháp nhằm so sánh kết quả. Để đối
phó với các vấn đề tiềm năng với việc cung cấp một biện pháp thanh khoản phù hợp
cho tất cả các thị trường, Amihud (2002) giới thiệu biện pháp quy định tác động giá
là giá trị tuyệt đối của lợi nhuận cổ phiếu theo tỷ lệ khối lượng giao dịch trong việc
đánh giá mối quan hệ giữa thanh khoản và lợi nhuận. Ý tưởng đằng sau biện pháp
pháp này tăng không cung cấp các hành vi bảo hiểm rủi ro mong muốn các nhà đầu
tư, do đó, khoản bù đắp thêm là cần thiết để giữ các cổ phiếu này. Điều này ngụ ý
rằng mối quan hệ tiêu cực giữa phí bảo hiểm với yếu tố rủi ro ILLIQ. Thứ hai, chỉ số
của Pastor và stambaugh (2003) được đề xuất tính toán. Các yếu tố thanh khoản
toàn thị trường bởi Pastor và stambaugh đề xuất trong một tháng nhất định là trung
bình có trọng số của các biện pháp đo lường thanh khoản của cổ phiếu riêng lẻ, mà
được tính toán dựa trên dữ liệu lợi nhuận hàng ngày và khối lượng giao dịch của cổ
phiếu trong tháng đó đặc biệt. Do đó hồi quy OLS sau đây được thực hiện bằng cách
sử dụng dữ liệu hàng ngày, miễn là các cổ phiếu có ít nhất 15 quan sát trong tháng
đó:
Trong đó biến phụ thuộc là lợi nhuận vượt từng cổ phiếu vào ngày T + 1
tháng m; υ là nhật ký của khối lượng giao dịch. Các γi hệ số ước lượng, m đo thanh
khoản. Mô hình này giải thích rằng một thị trường tài chính có thể được coi là thanh
khoản nếu nó có thể nhanh chóng hấp thụ một lượng lớn các giao dịch mà không
bóp méo giá cả. Nói cách khác, khi một sự thay đổi lớn trong giá của một cổ phiếu
là cần thiết để đáp ứng nhu cầu của nó, tài sản được coi là thanh khoản. Nếu có bán
(mua) áp lực lên tài sản j của các nhà đầu tư không cung cấp thông tin, liên quan đến
thị trường, giá cả và lợi nhuận (tác động tiêu cực đến thị trường) đi xuống (lên), và
lợi nhuận dự kiến cho giai đoạn tăng (giảm) theo. Nói cách khác, thứ tự dòng chảy
(khối lượng đã ký trong hồi quy ở trên) sẽ có mối quan hệ với lợi nhuận dự kiến sẽ
trong tương lai nếu các tài sản không có khả năng thanh khoản. Do đó kỳ vọng γi, m
là tiêu cực và lớn hơn về giá trị tuyệt đối khi thanh khoản giảm. Việc gia tăng khố
lượng sẽ làm thay đổi lợi nhuận kỳ vọng. Cổ phiếu covarian tích cực với γ sẽ yêu
cầu lợi nhuận cao hơn. Do đó, phần bù rủi ro tác động tích cực với yếu tố rủi ro dự
kiến trong chuỗi thời gian. Sau đó, các biện pháp Pastor-stambaugh được sử dụng
cho PS γ. Về mặt kỹ thuật, PS γ là một biện pháp đo lường thanh khoản: giá trị lớn
hơn hàm ý thanh khoản hơn. Thứ ba, bid-ask SPREAD cũng được xem xét.
Trong đó Dm là số ngày trong tháng m. Các chỉ số thanh khoản thị trường Lt
được tính theo mô hình chuỗi thời gian. Để tính toán rủi ro thanh khoản, theo đề
nghị của Black (1976) và French et al. (1987), mỗi chỉ số thanh khoản được lắp vào
một ARMA (1,1) mô hình và còn lại ước tính được định nghĩa là rủi ro thanh khoản.
ARMA (1,1) hồi quy được thực hiện dưới đây:
Trong đó ARMA được xác định là rủi ro thanh khoản. Hơn nữa, các yếu tố
HML và SMB chỉ đơn thuần là sự khác biệt của hai lợi nhuận trung bình, được tính
như sau:
Trong đó các kí hiệu H và L biểu thị, tương ứng, cao và thấp tỷ lệ giá trị sổ
sách thị trường, và S và B biểu thị, tương ứng, cổ phiếu nhỏ và lớn. Một số giá trị
cho K = 5, 15 và 25, và K = 15 được báo cáo. Hơn nữa, xu hướng (lợi nhuận quá
khứ) là lợi nhuận tích lũy trong 5 tháng kết thúc vào đầu tháng trước, và các yếu tố
xu hướng được xây dựng phù hợp với Avramov và Chordia (2006). Trong một tháng
nhất định, 6-ngày biến động giá trung bình được tính toán cho từng công ty, và họ
được tổng hợp trên cơ sở tháng-qua-tháng; xuất phát từ yếu tố xu hướng công ty cụ
thể. Thứ hai, giá trị trung bình chuỗi thời gian được tính toán là yếu tố xu hướng
của toàn thị trường.
2.3. Hoạt động mua lại cổ phiếu
Mua lại cổ phiếu là hành động công ty tiến hành mua lại toàn bộ hoặc một
phần số cổ phiếu do chính công ty phát hành đang thuộc sở hữu của các cổ đông.
Sau khi việc mua lại tiến hành, số cổ phần của công ty sẽ giảm xuống. Số cổ phần
được mua lại đó được gọi là cổ phiếu quỹ (Cổ phiếu quỹ sau khi được mua lại sẽ
không được chi trả cổ tức). Cổ phiếu ngân quỹ làm thuận lợi hơn cho hoạt động
M&A, đáp ứng các điều khoản về chuyển đổi cổ phần ưu đãi và trái khoán của công
ty, sử dụng các chứng chỉ đặc quyền để mua chứng khoán, và đáp ứng các nhu cầu
14
về cổ phần mới trong các chương trình quyền được mua chứng khoán của các cấp
Cổ phiếu định giá thấp
Tại thời điểm khi các công ty cảm thấy cổ phiếu được định giá thấp, hành
động mua lại sẽ được sử dụng để bơm giá chứng khoán. Điều này giống như một sự
hỗ trợ hoặc tạo ra cơ sở mới cho cổ phiếu. Bên cạnh đó, việc mua lại cổ phần cũng
là cách các công ty đảm bảo với nhà đầu tư sự tự tin vào tình hình kinh doanh của
mình cũng như trong việc tạo ra giá trị cho cổ đông.
15
-
Thiếu cơ hội tăng trưởng
Đây là một điểm thường gây tranh cãi nhưng không thể phủ nhận đó cũng là
cách các công ty thường làm khi không thấy tiềm năng, cơ hội tăng trưởng.
-
Lợi thế thuế
Hầu hết các công ty có lượng tiền mặt lớn và đang phải trả cổ tức thường
xuyên có thể muốn mua lại cổ phần để đối mặt với thanh toán cổ tức. Thuế cổ tức
đang trở thành vật cản mà về cơ bản các công ty sẽ phải dùng đến cách mua lại cổ
phiếu.
Thông thường, việc mua lại được thực hiện theo một trong hai cách sau:
-
Chào mua
Các cổ đông sau khi nhận được đề nghị chào mua của công ty có thể bỏ qua
sẽ rất lớn trong các doanh nghiệp có tỷ số nợ cao, và ngược lại đòn bẩy tài chính sẽ
rất nhỏ trong các doanh nghiệp có tỷ số nợ thấp. Những doanh nghiệp không mắc nợ
(tỷ số bằng không) sẽ không có đòn bẩy tài chính.Như vậy, đòn bẩy tài chính đặt
trọng tâm vào tỷ số nợ. Khi đòn bẩy tài chính cao, chỉ cần một sự thay đổi nhỏ của
lợi nhuận trước thuế và lãi vay cũng làm thay đổi lớn tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên
vốn chủ sở hữu nghĩa là tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu sẽ rất nhạy cảm
với lợi nhuận trước thuế và lãi vay. Về thực chất, đòn bẩy tài chính phản ánh sự thay
đổi của tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ trước sự thay đổi của lợi nhuận trước
thuế và lãi vay.
Như vậy, độ lớn của đòn bẩy tài chính được xem như là tỷ lệ thay đổi của tỷ
suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu phát sinh do sự thay đổi của lợi nhuận
trước thuế và lãi vay.
Tỷ lệ thay đổi về tỷ suất lợi nhuận sau thuế
Độ lớn đòn bẩy tài chính
(DFL)
=
trên vốn chủ sở hữu
Tỷ lệ thay đổi lợi nhuận trước thuế và lãi vay
Trong đó:
Tỷ lệ thay đổi về
tỷ suất lợi
nhuận sau thuế trên vốn chủ sở =
hữu
Chênh lệch giữa tỷ suất lợi nhuận sau thuế
trên vốn chủ sở hữu kỳ phân tích so với kỳ
nhuận trước thuế và lãi vay
hữu
Khái niệm đòn bẩy tài chính cung cấp cho các nhà phân tích một công cụ
quan trọng để dự kiến tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu.Cần lưu ý là
khi lợi nhuận trước thuế và lãi vay không đủ lớn đẻ trang trải lãi vay thì tỷ suất lợi
nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu bị giảm sút. Nhưng khi lợi nhuận trước thuế và
lãi vay đủ lớn thì chỉ cần sự gia tăng nhỏ về lợi nhuận trước thuế và lãi vay đã có sự
gia tăng lớn về tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu
2.5. Lý thuyết về cổ tức
2.5.1.Khái niệm
Theo mục 9 điều 4 Luật Doanh nghiệp 2005 có viết “Cổ tức là khoản lợi
nhuận ròng được trả cho mỗi cổ phần bằng tiền mặt hoặc bằng tài sản khác từ nguồn
lợi nhuận còn lại của công ty sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài chính”.
18
Chính sách cổ tức của công ty là quyết định tài chính quan trọng nhất và là
trách nhiệm của các cấp quản lý. Chính sách cổ tức là quyết định bao nhiêu phần
trăm thu nhập của doanh nghiệp sẽ được chuyển giao cho các cổ đông. Nó phản ánh
phân phối lợi nhuận giữa các cổ tức cho cổ đông và tái đầu tư (Droms & Wright,
2010, trang 260). Mục tiêu cơ bản của chính sách cổ tức là tối đa hóa lợi nhuận của
chủ sở hữu (cổ đông). Nó được đưa ra không chỉ để nâng cao giá cổ phiếu trong
ngắn hạn, mà còn tối đa hoá lợi nhuận của chủ sở hữu trong dài hạn (Brigham &
Gapenski, 1998).
2.5.2. Các chính sách trả cổ tức
Tùy theo tình hình bên trong và ngoài mà mỗi công ty có thể có những chính
sách chi trả cổ tức khác nhau; trong đó có thể kể tới chính sách lợi nhuận giữ lại thụ
động, chính sách cổ tức tiền mặt ổn định. Cụ thể như sau: