Mục lục
LỜI MỞ ĐẦU..................................................................................................................2
I. Tổng quan về chất lượng và quản trị chất lượng..........................................................3
1. Tổng quan về chất lượng..........................................................................................3
1.1. Khái niệm............................................................................................................3
1.2. Phân loại.............................................................................................................4
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm...............................................4
1.4. Tầm quan trọng của chất lượng sản phẩm dịch vụ............................................6
2. Tổng quan về quản trị chất lượng............................................................................6
2.1. Khái niệm............................................................................................................6
2.2. Các nguyên tắc quản trị chất lượng...................................................................6
II. Hiện trang về chất lượng và quản lý chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam...........7
1. Hiện trang chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam................................................7
1.1. Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng của hạt gạo.....................................................7
1.2. Tình hình chất lượng gạo xuất khẩu...................................................................9
2. Tình hình quản lý chất lượng gạo xuất khẩu..........................................................14
2.1. Hiện trạng quản lý chất lượng giống.............................................................14
2.2. Hiện trạng về quản lý chất lượng gạo xuất khẩu.............................................15
III. Biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của gạo xuất khẩu Việt Nam...................20
1. Hoàn thiện cơ chế và chính sách của Nhà nước....................................................20
2. Đổi mới cơ cấu sản xuất lúa gạo theo hướng tạo sản phẩm chất lượng cao.........21
3. Xây dựng thương hiệu gạo xuất khẩu.....................................................................21
4. Bảo vệ môi trường sinh thái ngành sản xuất lúa....................................................22
1
LỜI MỞ ĐẦU
Xu thế toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại đang là những xu thế cơ bản của
phát triển trên thế giới hiện nay. Đối với Việt Nam, nhất là sau khi gia nhập khối
ASEAN, AFTA, ký kết hiệp định thương mại Việt - Mỹ và việc gia nhập WTO đã mở
về chất lượng:
- Xuất phát từ quan niệm siêu hình: “Chất lượng là sự tuyệt hảo của sản phẩm”.
- Xuất phát từ thuộc tính của sản phẩm: “ Chất lượng là tổng thể những tính chất,
thuộc tính cơ bản của sự vật làm cho sự vật này phân biệt với sự vật khác”.
- Xuất phát từ các nhà sản xuất: “Chất lượng là sự đảm bảo đạt được và duy trì
một tâp hợp các tiêu chuẩn, quy cách hoặc yêu cầu đã được đặt ra từ trước”.
- Xuất phát theo hướng thị trường: người ta đưa ra rất nhiều quan niệm khác nhau
về chất lượng sản phẩm:
+ Theo khách hàng: “ Chất lượng là sự phù hợp của sản phẩm với mục đích sử
dụng của người tiêu dùng”.
+ Theo quan điểm về giá trị: “Chất lượng là đại lượng đo bằng mối quan hệ giữa
lợi ích thu được từ tiêu dùng sản phẩm với chi phí phải bỏ ra để đạt được lợi ích đó”.
+ Theo quan điểm về cạnh tranh: “Chất lượng là việc tạo ra những thuộc tính của
sản phẩm mang lại lợi thế cạnh tranh phân biệt nó với sản phẩm cùng loại trên thị
trường”.
- Theo ISO: “ Chất lượng là mức độ mà một tập hợp các tính chất đặc trưng của
thực thể có khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra hay tiềm ẩn”.
* Đặc điểm của chất lượng:
- Chất lượng có tính tương đối.
- Chất lượng là một phạm trù trừu tượng, vừa có tính khách quan vừa có tính chủ
quan.
- Chất lượng sản phẩm chỉ thể hiện đúng trong những điều kiện xác định, phù hợp
với mục đich sử dụng, mục đích tiêu dùng.
3
1.2. Phân loại
- Căn cứ vào mục tiêu cần đạt được, chất lượng được chia thành: chất lượng thiết
kế và chất lượng tuân thủ thiết kế.
Trình độ chất lượng của sản phẩm không thể vượt quá giới hạn khả năng của trình
độ tiến bộ khoa học công nghệ của một giai đoạn nhất định. Chất lượng sản phẩm thể
hiện ở những đặc trưng về trình độ kỹ thuật, công nghệ tạo ra sản phẩm đó.
* Cơ chế chính sách quản lý kinh tế của các quốc gia:
Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng hoạt động trong một môi trường kinh doanh
nhất định, trong đó có môi trường pháp lý với những chính sách và cơ chế quản lý kinh
tế có tác động trực tiếp và to lớn đến việc tạo ra và nâng cao chất lượng sản phẩm của
các doanh nghiệp. Cơ chế quản lý kinh tế vừa tạo ra môi trường thuận lợi, vừa tạo ra
sức ép thúc đẩy các doanh nghiệp. Một cơ chế phù hợp sẽ kích thích các doanh nghiệp
đẩy mạnh đầu tư cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ.
* Các yếu tố thuộc về văn hóa xã hội:
Ngoài các yếu tố trên, yếu tố văn hóa xã hội của mỗi khu vực thị trường, mỗi
quốc gia, mỗi dân tộc có ảnh hưởng rất lớn đến hình thành các đặc tính chất lượng của
sản phẩm. Những yêu cầu về văn hóa, đạo đức, xã hội và tập tục truyền thống, thói
quen tiêu dùng có ảnh hưởng trực tiếp các thuộc tính của chất lượng sản phẩm đồng
thời có ảnh hưởng gián tiếp thông qua các quy định bắt buộc mỗi sản phẩm phải thỏa
mãn những đòi hỏi phù hợp với truyền thống, văn hóa, đạo đức xã hội của cộng đồng
xã hội.
1.3.2. Các yếu tố bên trong doanh nghiệp
* Lực lượng lao động trong doanh nghiệp: Con người là nhân tố trực tiếp tạo ra và
quyết định đến chất lượng sản phẩm. Năng lực và tinh thần của đội ngũ lao động,
những giá trị chính sách nhân sự đặt ra trong mỗi doanh nghiệp có tác động sâu sắc đến
hình thành chất lượng sản phẩm tạo ra.
* Khả năng về máy móc thiết bị, công nghệ hiện có của doanh nghiệp: Mỗi doanh
nghiệp tiến hành hoạt động trong những điều kiện xác định về công nghệ. Trình độ
hiện đại của máy móc thiết bị và quy trình công nghệ của doanh nghiệp có ảnh hưởng
rất lớn đến chất lượng sản phẩm, đặc biệt là những doanh nghiệp tự động hóa cao, có
dây chuyền sản xuất hàng loạt.
* Nguồn nguyên liệu và hệ thống cung ứng: Một trong những yếu tố tham gia cấu
thành sản phẩm và hình thành các thuộc tính chất lượng là nguyên vật liệu, vì vậy, đặc
Song tiêu chuẩn thị trường đặt ra cho việc tiêu thụ và sản xuất gạo XK lại dựa
vào các chỉ tiêu sau:
(1) Phẩm chất xay chà: đặc biệt quan tâm đến tỷ lệ gạo nguyên, bao gồm: Gạo cấp cao:
thường gọi là gạo 5 (là 95% gạo nguyên, 5 % gạo gãy) hoặc gạo 10 (là 90% gạo
nguyên, 10 là gạo gãy). Gạo cấp thấp: là gạo 30, hoặc 25 (tỷ lệ gạo nguyên thấp hơn).
(2) Phẩm chất cơm chú trọng nhất là hàm lượng amiloze, như sau:
Amiloze 0-2%: nếp, loại này ít có trên thị trường; Amiloze 3-20% cơm dẻo, thị trường
chiếm 30-40%; Amiloze 20-25%: gạo mềm cơm. Loại này chiếm thị trường rất lớn:
8
60%. Hiện gạo nước ta đang tập trung vào nhóm này; Amiloze > 25%: cơm khô cứng,
nhóm này thường được làm bánh tráng hoặc bún.
(3) Độ trở hồ: Ngoài phẩm chất cơm, gạo tốt còn phụ thuộc vào độ trở hồ, có các cấp
độ sau: Độ trở hồ cấp 1: khó nấu; Độ trở hồ cấp 5: Trung bình (giống IR 64); Độ trở hồ
cấp 9: gạo nát và đổ lông. Loại này ăn không ngon.
(4) Độ dài hạt gạo: trên 7 ly là tiêu chuẩn thị hiếu yêu cầu.
(5) Bạc bụng: Yêu cầu đặt ra là không bạc bụng vì đây là thị hiếu của thị trường. Các
giống lúa thơm thường bị khuyết điểm này.
(6) Mùi thơm: được chia làm cấp 1, 2, 3. Có thị trường hẹp và hiện nay Ấn Độ và Thái
Lan là 2 nước độc quyền.
1.2. Tình hình chất lượng gạo xuất khẩu
Việt Nam là 1 trong những nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới nhưng do quá
chú trọng đến sản lượng mà vấn đề chất lượng không được quan tâm đúng mức điều đó
dẫn đến mặc dù xuất khẩu gạo với sản lượng lớn nhưng thương hiệu gạo Việt Nam trên
thế giới vẫn chưa được nhiều người biết đến, gạo Việt chưa xây dựng được thương
hiệu và chất lượng không ổn định.
Cụ thể khi tham tán thương mại Việt Nam tại Trung Quốc năm 2015, gạo Việt
Nam chiếm 54% tổng lượng gạo nhập khẩu của Trung Quốc nhưng khi dạo qua các
Triệu tấn
3,39
5,20
6,89
7,11
8,05
6,61
USD(nghìn
)
616
1219
2912
3507
3450
2950
(nguồn: tổng cục thống kê và kết quả của hiệp hội lương thực Việt Nam)
5.900
5.650-5.750
Gạo nguyên liệu loại 7.3501 làm ra gạo 5% tấm 7.450
7.050
7.150
– 6.800–
6.900
7.400–
7.500
7.100-7.200
Gạo nguyên liệu làm 7.150ra gạo 25% tấm
7.250
6.700
6.800
– 6.550–
6.650
7.300–
7.400
6.850-6.950
8.800
7.700-7.800
Gạo 25% tấm
7.750
7.850
– 7.250
7.350
– 7.350–
7.450
8.150–
8.250
7.350-7.450
Lúa dài
Chất lượng gạo không chỉ thể hiện qua thành phẩm mà nó còn được đánh giá
qua quá trình sản xuất lúa của người nông dân, từ các khâu đó đã có nhiều bất cập và
sai sót dẫn đến chất lượng gạo không cao:
10
Chất lượng giống
Hiện nay Việt Nam đã có 102 giống lúa nhưng chất lượng gạo xuất khẩu vẫn
gạo XK của Việt Nam luôn thấp là lẽ đương nhiên.Chất lượng hạt gạo kém còn do
11
nông dân thiếu hiểu biết khi phơi lúa ngoài đồng, hoặc để lúa chín lâu ngày mới thu
hoạch. Đối với sản xuất lúa hàng hóa, khi phơi qua đêm, độ ẩm gạo tăng do hút sương;
rồi ban ngày nắng, nhiệt độ cao làm cho độ ẩm giảm quá mức dẫn đến hạt gạo rạn vỡ
từ trong vỏ lúa. Do vậy khi xay xát, gạo bị gãy rất nhiều. Trường hợp lúa để chín khô
lâu ngày, độ ẩm thấp xuống, gạo bị giòn, tỷ lệ gạo vỡ sau xay xát cũng lớn, dẫn đến
phẩm cấp hạt gạo XK giảm, đồng nghĩa với giá bán hạ thấp. Hiện nay, tỷ lệ thất thoát
sau thu hoạch ở Việt Nam vẫn còn cao. Theo Viện Lúa ĐBSCL thì tỷ lệ này khoảng
12%-15%. Còn theo Viện Lúa quốc tế (IRRI) thì tỷ lệ thất thoát sau thu hoạch ở Việt
Nam và các nước Đông Nam Á khoảng 15%-20% sản lượng. Trong khi đó TS. Lê Văn
Bảnh, Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL nhận định: “Tổn thất sau thu hoạch không chỉ làm
giảm sản lượng, mà còn ảnh hưởng lớn chất lượng, giá trị hạt gạo, giảm thu nhập của
nông dân”.
Thuốc bảo vệ thực vật
Đã xảy ra rất nhiều trường hợp gạo của chúng ta có chứa hàm lượng thuốc bảo
vệ thực vật vượt mức cho phép đó lad một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến
chất lượng gạo đáng phải lưu tâm. Điều đó thể hiện qua việc người nông dân sử dụng
thuốc bảo vệ thực vật tràn lan thêm vào đó là công tác quản lý còn nhiều kẻ hỡ và sai
sót.
Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng ở nước ta đến năm 2013 đã lên tới
1.643 hoạt chất, trong khi, các nước trong khu vực chỉ có khoảng từ 400 đến 600 loại
hoạt chất, như Trung Quốc 630 loại, Thái Lan, Malaysia 400-600 loại. Hầu hết thuốc
BVTV tại Việt Nam đều phải nhập khẩu từ nước ngoài. Nếu như trước năm 1985 khối
lượng hóa chất BVTV dùng hàng năm khoảng 6.500 - 9.000 tấn thì trong 03 năm gần
đây, hàng nămViệt Nam nhập và sử dụng từ 70.000 - 100.000 tấn, tăng gấp hơn 10 lần.
Các loại thuốc BVTV mà Việt Nam đang sử dụng có độ độc còn cao, nhiều loại thuốc
đã lạc hậu.
không cần phải hướng dẫn cũng có thể làm được. Ở các nước phát triển, họ không nghĩ
như vậy. Mọi người dân trong làng đều được hướng dẫn tỷ mỷ về nghề trồng lúa trước
khi lội xuống ruộng. Hiện có từ 80 đến 90% lao động nông, lâm, ngư nghiệp và những
cán bộ quản lý nông thôn chưa được đào tạo. Điều này phản ánh chất lượng nguồn
nhân lực trong nông dân còn rất yếu kém. Sự yếu kém này đẫ dẫn đến tình trạng sản
xuất nông nghiệp nước ta vẫn còn đang trong tình trạng sản xuất nhỏ, manh mún, sản
xuất theo kiểu truyền thống, hiệu quả sản xuất thấp. Việc liên kết "bốn nhà" (nhà nước,
nhà nông, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp) hiện đang còn là hình thức. Từ khả năng
và trình độ có hạn dẫn đến người nông dân còn thiếu các kỹ năng và kinh nghiệm để áp
dụng vào sản xuất để từ đó có được những hạt gạo có chất lượng tốt.
Tuy nhiên bên cạnh đó tình hình xuất khẩu gạo có chất lượng của Việt Nam cũng
đã có những chuyển biến tích cực. Cụ thể, sau 7 tháng năm 2015,xuất khẩu gạo cao cấp
13
(loại 5% tấm) đã đạt 28,8% tổng lượng gạo XK của cả nước, tăng gần 30% so với cùng
kỳ. Gạo thơm đứng thứ 2 với tỷ lệ 24,67% tổng lượng gạo XK, tăng 15,36% so với
cùng kỳ. Nhờ lượng tăng của 2 loại này, gạo Việt Nam đã quay lại chiếm giữ vị trí cao
ở nhiều thị trường. Đơn cử như sau 2 năm rất khó khăn khi phải cạnh tranh gay gắt với
gạo từ Ấn Độ và Thái Lan, kim ngạch XK gạo vào thị trường châu Phi trong 7 tháng đã
đạt 15,83% tổng kim ngạch XK gạo của nước ta, tăng đến 47,53%, trong đó gạo thơm
là loại gạo được châu Phi ưa chuộng nhất.
Chuyển đổi sản xuất từ phân khúc gạo chất lượng thấp sang gạo chất lượng cao
không phải là việc dễ dàng do gặp khó khăn từ khâu giống đến quản lý chất lượng.
Nhiều giống lúa đã bị thoái hóa nên việc sản xuất gạo chất lượng cao chưa đạt yêu cầu.
Bên cạnh đó, quản lý chất lượng gạo XK cũng gặp nhiều vấn đề khi vẫn còn tình trạng
sau khi mua lúa ở các hộ dân, thương lái sẽ trộn lẫn các loại lúa hạt dài với hạt tròn rồi
đem về nhà máy xay xát ra gạo, bán cho DN. DN XK và DN nhập khẩu ở nhiều thị
trường đều đang chấp nhận cách làm dễ dãi như vậy, tạo thành thói quen khó bỏ. Tuy
nhiên, khi mở rộng ra các thị trường lớn, đặc biệt là những thị trường khó tính, việc
rất khó khăn trong việc xác định phương hướng.
Hơn nữa, tình trạng thanh tra nhận đút lót, hối lộ vẫn diễn ra thường xuyên. Tình trạng
quản lý lỏng lẻo này cũng như lương tâm của những người quản lý là nguyên nhân gây
ra việc chất lượng lúa gạo xuất khẩu vẫn còn kém ở nước ta.
Chính sách đối với giống
Hiện nay nhà nước chưa có chính sách cụ thể cho công tác bảo đảm chất lượng giống.
Nhưng trong chương trình Quốc gia và chương trình khuyến nông hàng năm có một
phần kinh phí hỗ trợ năng lượng và cơ sở vất chất cho các công ty sản xuất giống gốc,
giống lúa lai. Ở một số đipạ phương có trợ giá giống cho sản xuất. Trên cơ sở đó các
địa phương quản lý được chất ượng giống đưa vào sản xuất. Đối với giống nhập khẩu
bằng con đường chính ngạch Nhà nước cũng không thu thuế để trợ giá giống cho sản
xuất.
2.2. Hiện trạng về quản lý chất lượng gạo xuất khẩu
2.2.1. Hệ thống quản lý chất lượng hiện hành
Về quản lý việc khống chế rầy nâu, Việt Nam được đánh giá là đang có biện pháp
quản lý hữu hiệu nhất, đã khống chế được rầy nâu để bảo vệ năng suất và sản lượng lúa
ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, trong khi hầu hết các quốc gia khác đang bị dịch rầy
nâu gây hại nghiêm trọng như Thái Lan, Indonesia, Trung Quốc, Malaysia, Philipines...
Chất lượng gạo phải được cải thiện bằng việc tạo và chọn giống tốt( đặc biệt à có
tính “ kháng ngang” với rầy nâu), tập trung một số ít giống đặc trưng cho từng điều
kiện của tiểu vùng sinh thái. Hiện nay, sản xuất chỉ mới đạt được về số lượng qua tăng
vụ cao theo hướng độc canh cây lúa, nên gây nguy hiểm cho sự trở lại của rầy nâu. Cần
15
phải phát triển được cây màu và vườn cây ăn trái xen với 2 vụ lúa ăn chắc có phẩm
chất gạo...
Nhưng nói chung, tuy gạo là một trong ba mặt hàng xuất khẩu trong tổng kim
ngạch xuất khẩu ( trung bình khoảng 10%) nhưng gạo vẫn chưa có hệ thống quản lý
chất lượng tốt.
33
Yêu cầu vệ sinh
TCVN 4733 – 1989
4
Thuật ngữ và ký hiệu
TCVN 5643-1992
55
Yêu cầu kỹ thuật
TCVN 5644 – 2008
66
Phương pháp xác định mức xát
TCVN 5645 – 2000
77
Bao gói, ghi nhãn, bảo quản và vận TCVN 5646 – 2008
chuyển
88
Độ
ẩm
(%)
Hạt
hư
(%)
Hạt
vàng
(%)
Tạp
chất
(%)
15%
tấm
kỹ
Thái Lan hiện nay đang phải đối mặt với cuộc khủng hoảng lúa gạo vì nông dân
không được hưởng lợi từ những chương trình hỗ trợ nông nghiệp của Thủ tướng Thái
Yingluck Shinawatra và Trung Quốc đã hủy kế hoạch mua gạo Thái, nhưng có vẻ Việt
Nam cũng không tận dụng được cơ hội này để đẩy mạnh xuất khẩu.
2.2.4. Thanh tra
Cũng giống như thanh tra về giống, thanh tra về chất lượng gạo xuất khẩu cũng
chưa có mạng lưới thanh tra và kiểm định chất lượng. Trước tình hình chất lượng lúa
gạo như hiện nay, trước sự cạnh tranh khốc liệt của thị trường, nước nào cũng muốn
giành những hợp đồng xuất khẩu lớn . Như Thái Lan- nước xuất khẩu gọa số một thế
giới, họ có hệ thống thanh tra và kiểm định chất lượng để có thể đưa ra các biện pháp
xử lý kịp thời. Do vậy, việc chưa hình thành mạng lưới thanh tra, kiểm tra chất lượng
19
gạo xuất khẩu khiến cho công tác quản lý chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam vốn
chưa hoàn chỉnh lại càng gặp nhiều khó khăn.
Trên đây là một vài nét về hiện trạng công tác quản lý chất lượng từ khâu quản
lý chất lượng giống đến khâu quản lý chất lượng gạo xuất khẩu. Quản lý chất lượng
giống hay chất lượng gạo đều có mỗi liên hệ mật thiết với nhau. Muốn cho gạo xuất
khẩu có chất lượng quản lý ngay từ khâu giống đến cấy , chăm sóc, gặt hái, chế biến,
bảo quản. Tuy vậy, hiện nay công tác quản lý chất lượng của Vệt Nam từ khâu giống
đến bảo quản chưa được thực hiện tốt, chưa được quan tâm đầy đủ. Mà điển hình là
nhiều cơ quan như các tổ chức thanh tra , tổ chức giám định chưa được đầu tư đầy đủ.
Đây là một trong những nguyên nhân làm cho chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam
chưa đuổi kịp Thái Lan.
Nhìn chung, những năm gần đây chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam có tiến
bộ rõ rệt. Đó là thành quả của những phấn đấu không mệt mỏi của người sản xuất,
người xuất khẩu và cả những người quản lý chất lượng. Tuy vậy, chất lượng gạo xuất
khẩu vẫn còn thấp nên giá xuất vẫn thấp hơn nhiều so với Thái Lan hay Mỹ. Chính vì
vậy, yêu cầu cấp bách hiện giờ à phải có những giải pháp kịp thời và phù hợp cho mặt
chúng ta phải đạt tiêu chuẩn quốc tế. Để thực hiện được điều đó đòi hỏi chúng ta phải
có được sản phẩm cạnh tranh, không có cách nào khác phải xây dựng thương hiệu cho
gạo Việt Nam, nhằm cạnh tranh với các nước trong khu vực và thâm nhập sâu vào một
số nuớc khó tính.
Hạt gạo Việt Nam muốn tìm đến thị trường cao cấp, không có cách nào khác hơn
là phải nâng cao chất lượng sản phẩm, xây dựng bằng được thương hiệu gạo Việt Nam
trên thị trường thế giới.
Các giải pháp nhằm xây dựng thương hiệu
1/ Nghiên cứu tìm ra giống lúa chất lượng cao có giá trị thương phẩm tốt đối với thị
trường nội địa và xuất khẩu, nhưng phải được xem xét trên cơ sở của một nền nông
nghiệp bền vững. Đó chính là đòi hỏi áp dụng các qui trình thâm canh tổng hợp, 3
giảm 3 tăng, 1 phải 5 giảm; chương trình IPM, ICM. Đồng thời, phải đào tạo nông dân
về kỷ thuật canh tác theo tiêu chuẩn GAP (Good Agricultural Practice), từ đó mới
chứng minh được mặt hàng gạo ta luôn đảm bảo được an toàn vệ sinh.
2/ Không sản xuất quá nhiều giống, nghĩa là chúng phải hình thành vùng sản xuất lúa
hàng hóa tập trung, xây dựng những cánh đồng một giống, đòi hỏi phải có một nhóm
nông dân liên kết lại, chứ không phải sản xuất riêng rẽ, nhằm để tạo ra khối lượng lúa
lớn, đồng bộ, như vậy sẽ thuận lợi cho việt thành lập thương hiệu.
3/ Phải có hệ thống thu mua có lợi cho nông dân, giảm trung gian, có như vậy lúa gạo
sẽ không bị lẫn lộn nhiều giống. Muốn như vậy có sự bắt tay hợp đồng tiêu thụ giữa
21
doanh nghiệp và người sản xuất. Thông qua đó những công ty kinh doanh lúa gạo chịu
trách nhiệm về thương hiệu của công ty.
4/ Phải phát triển công nghệ sau thu hoạch : lúa phải được sấy khô đúng tiêu chuẩn,
bảo quản tốt trong lúc tồn trữ, xây dựng lại các nhà máy xay xát, lao bong gạo đạt tiêu
chuẩn xuất khẩu, có như vậy chất lượng lúa mới ổn định, từ đó dể dàng cho việc thành
lập thương hiệu.