TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
@ &?
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 32 ( 2006 – 2010)
ĐỀ TÀI
BIỆN PHÁP XỬ LÝ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN VI
PHẠM HÀNH CHÍNH
Giáo viên hướng dẫn:
Võ Duy Nam
Cần Thơ, tháng 4/ 2010
Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Kiến Thức
Lớp: Tư pháp 3 K32
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG BẢO VỆ
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU …..…………………………………………………………… ............1
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN VI
PHẠM PHÁP LUẬT HÀNH CHÍNH..……………………………………................4
1.1. Khái niệm và đặc điểm người chưa thành niên…………………………..…...........4
1.1.1. Khái niệm người chưa thành niên…………….………………..…............4
1.1.2. Đặc điểm người chưa thành niên……………….……………...….……...5
1.1.3. Ảnh hưởng của những đặc điểm của người chưa thành niên đối với……..8
1.2. Vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa…………..12
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm vi phạm hành chính……………………….............12
1.2.2. Những trường hợp có hành vi vi phạm hành chính……………………...16
CHƯƠNG 2. CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ BIỆN PHÁP XỬ LÝ NGƯỜI CHƯA
THÀNH NIÊN……………………………………………………..….…….......……18
2.1. Quá trình hình thành các quy định pháp luật về biện pháp xử lý ……………..…18
2.2. Các biện pháp xử lý vi phạm hành chính đối với người ………………...…...…..20
2.2.1. Các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính……………………..…..…..21
2.2.2. Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp cưỡng……25
2.2.3. Các biện pháp khắc phục hậu quả, ngăn chặn vi phạm hành chính….….31
2.3. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và thẩm quyền quyết định áp…….…..33
2.3.1. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính …………………………...….33
2.3.2. Thẩm quyền quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác...34
2.4. Một số vấn đề phát sinh từ thực tiễn áp dụng ………………………………..…..34
pháp luật. Họ đã thực hiện những hành vi gần như nguy hiểm cho xã hội, làm tổn hại
đến lợi ích của Nhà nước, tính mạng, tài sản của nhân dân, gây mối lo lắng và nhức
nhối đối với từng gia đình và đối với toàn xã hội. Nguy hiểm hơn là tình trạng ấy đang
có xu hướng gia tăng, trở thành hiện tượng phổ biến trong đời sống xã hội, đe doạ sự
tồn vong hưng thịnh của quốc gia, của dân tộc vì không ai khác, họ chính là những chủ
nhân tương lai của đất nước, là thế hệ kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Tình trạng ấy đang gây nên mối lo ngại cho toàn xã hội.
Do vậy, để đảm bảo cho sự phát triển lành mạnh của thế hệ trẻ, sự phát triển bền
vững của xã hội tương lai thì điều không thể khác là phải kịp thời có các giải pháp
ngăn chặn sự gia tăng, tiến tới đẩy lùi và loại bỏ những biểu hiện lệch lạc, tiêu cực nêu
trên ra khỏi đời sống cộng đồng.
Đảng và Nhà nước ta luôn dành sự quan tâm đặc biệt đối với việc bảo vệ, chăm
sóc và giáo dục thế hệ trẻ với phương châm: “Vì lợi ích trăm năm trồng người”. Thế hệ
trẻ chính là thế hệ tương lai của đất nước, là chủ nhân của xã hội mai sau. Vì vậy đấu
tranh phòng ngừa người chưa thành niên vi phạm hành chính, giai đoạn bình minh của
một tội phạm là một bộ phận cấu thành của sự nghiệp chăm sóc, giáo dục và bảo vệ thế
hệ trẻ, là sự nghiệp của tất cả các cấp, các ngành các cơ quan Nhà nước, các đoàn thể,
tổ chức và của mọi gia đình cũng như chính bản thân người chưa thành niên tự giác
ngộ.
Vì thế hệ tương lai của đất nước nhằm thực hiện di chúc của Chủ tịch Hồ Chí
Minh “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc làm rất quan trọng và cần
thiết”1. Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương và biện pháp thích hợp. Và riêng đối
với thế hệ trẻ, với người chưa thành niên là đối tượng được Đảng và Nhà nước ta đặc
1
Di chúc của Hồ Chí Minh
biệt quan tâm. Vì lẽ đó mà nhiệm vụ đấu tranh phòng chống người chưa thành niên vi
phạm pháp luật được xác định là một nhiệm vụ cấp thiết.
chính khác đối với người chưa thành niên vi phạm hành chính.
Phương pháp nghiên cứu thu thập tài liệu, thông tin trên báo chí, internet, và phân
tích những quy định của pháp luật về người chưa thành niên, phương pháp thống kê,
phương pháp tổng hợp, phương pháp mô tả, giải thích.
Trong phạm vi và giới hạn cho phép, đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề
sau. Về kết cấu nội dung đề tài bao gồm 3 chương :
Chương 1. Cơ sở lý luận về xử lý người chưa thành niên vi phạm pháp luật hành
chính
Chương 2. Cơ sở pháp lý về các biện pháp xử lý hành chính đối với người chưa
thành niên
Chương 3. Những giải pháp phòng ngừa và bài học rút ra từ công tác phòng ngừa
người chưa thành niên vi phạm hành chính
Đề tài có ý nghĩa là những nghiên cứu cơ bản, bước đầu, xuất phát từ thực trạng
quy định và thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về xử lý người chưa thành niên vi
phạm hành chính. Trên cơ sở đó, đề xuất phương hướng và giải pháp cụ thể để hoàn
thiện các quy định của pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả công tác áp dụng các biện
pháp xử lý hành chính đối với người chưa thành niên.
Trước sự đóng góp to lớn như thế của việc áp dụng pháp luật về xử phạt vi
phạm hành chính. Vậy pháp luật về biện pháp xử lý vi phạm hành chính đã được áp
dụng như thế nào và đã để lại những ưu nhược điểm nào. Có phù hợp với thực tế cuộc
sống không, phải trả lời được câu đó người viết mới đưa ra được những giải pháp hữu
hiệu để ngày càng hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và hệ thống về xử phạt vi
phạm hành chính nói riêng.
Do khả năng nhận thức cũng như kiến thức về thực tế còn hạn chế người viết
xin góp một bài viết nhỏ bàn về các biện pháp xử lý vi phạm hành chính áp dụng đối
với người chưa thành niên vi phạm hành chính. Bài viết sẽ không tránh khỏi những sai
sót. Mong quý thầy cô và các bạn giúp đỡ để bài viết được tốt hơn.
em bao gồm cả người chưa thành niên hay cũng có thể hiểu rằng người chưa thành niên
cũng bao gồm cả trẻ em và đều là những người ở độ tuổi dưới thành niên (dưới 18
tuổi). Cách hiểu này cũng phù hợp với khái niệm trẻ em của Công ước về Quyền Trẻ
em đã nêu ở trên.
Từ điển Luật học đưa ra định nghĩa cụ thể hơn, theo đó “người chưa thành niên”
là người dưới 18 tuổi, tuy nhiên theo định nghĩa này thì khi chưa thành niên sẽ không
được pháp luật coi là có đủ khả năng để sử dụng quyền, làm nghĩa vụ và chịu trách
nhiệm. Nhưng mỗi ngành luật lại có những quy định khác nhau căn cứ vào đặc điểm
tâm sinh lý của người chưa thành niên, ý thức của họ khi tham gia vào các quan hệ xã
hội bị điều chỉnh bởi những quy phạm của ngành luật đó.
Ví dụ, Điều 68 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định: “Người chưa thành niên từ
đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịa trách nhiệm hình sự…”, tuy chưa đủ 18
tuổi (chưa coi là thành niên) họ vẩn bị pháp luật quy định là phải chịu trách nhiệm hình
sự ; Điều 18 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Người từ đủ 18 tuổi trở lên là người
thành niên. Người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên”. Cũng theo quy định của
Bộ luật Dân sự năm 2005 người chưa thành niên vẫn được tham gia vào các quan hệ
dân sự, mà khi đó họ phải được pháp luật công nhận là có khả năng “sử dụng quyền,
làm nghĩa vụ và chịa trách nhiệm”; Điều 119 Bộ luật Lao động 2002 quy định: “Người
lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi”, theo đó Bộ luật lao động
cũng quy định các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người lao động chưa thành niên.
Tóm lại, có thể đưa ra một khái niệm của pháp luật quốc gia về trẻ em như sau:
“Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 18 tuổi”. Khái niệm này phần nào có thể bao hàm
được cả khái niệm trẻ em của Công ước và của các ngành luật thuộc hệ thống pháp luật
quốc gia.Xét dưới khía cạnh Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật, trẻ em là một
chủ thể pháp luật. Cũng như các chủ thể pháp luật khác (như các cá nhân là công dân
Việt Nam, người nước ngoài, người không quốc tịch, các tổ chức như Nhà nước và các
tổ chức có tư cách chủ thể khác), “trẻ em có khả năng trở thành các bên tham gia quan
hệ pháp luật, có được những quyền và nghĩa vụ pháp lý trên cơ sở những quy phạm
sang một giai đoạn trưởng thành (để lớn lên về cơ thể, mở rộng quan hệ xã hội, tích lũy
tri thức, phương thức hoạt động…).Tuổi không quy định trực tiếp sự phát triển nhân
cách. Tuổi có thể phù hợp với trình độ phát triển tâm lí của con người, tuổi cũng có thể
đi chậm hơn hoặc đi nhanh hơn là còn phụ thuộc vào điều kiện hoàn cảnh xung quanh.
Tuy nhiên người chưa thành niên sống trong hoàn cảnh nào cũng có những đặc điểm
chung, đặc trưng cho lứa tuổi. Đó là đặc điểm của một giai đoạn mà cách gọi thôi cũng
cho thấy tính phức tạp và tầm quan trọng của nó: “Thời kì quá độ” (chưa phải là người
lớn cũng không còn là trẻ con), “tuổi khủng hoảng” (cả về sinh lí lẫn tâm lí), “tuổi khó
bảo” (các em ở độ tuổi này trở nên bướng bỉnh và khó bảo), “tuổi bất trị”…
1.1.2.1. Đặc điểm sinh lí của người chưa thành niên2
Thời kì này, cơ thể phát triển mạnh mẽ nhưng không đồng đều, biểu hiện bên
ngoài là các em lớn lên trông thấy. Tùy thuộc vào độ tuổi, ngay trong cùng giai đoạn
mà sự phát triển giữa nam và nữ là khác nhau, như cùng trong giai đoạn chưa thành
niên nhưng ở độ tuổi 12-13, các em nữ phát triển hơn các em nam về hình dáng thì ở
độ tuổi 14-15, cơ thể các em nam lại phát triển hơn. Tuy nhiên ở cả nam và nữ đều có
những đặc điểm chung của lứa tuổi
2
Tham khảo tác phẩm vị thành niên và chính sách đối với vị thành niên của tác giả Đặng Vũ Cảnh Linh nhà xuất
bản Lao động – xã hội năm 2002
Sự phát triển của hệ xương mà chủ yếu là sự phát triển của xương tay, xương
chân rất nhanh nhưng xương ngón tay, ngón chân lại phát triển chậm. Do đó, cơ thể
phát triển không cân đối khiến các em trở nên long ngóng, vụng về và hay làm đổ vỡ
đồ đat.
Sự phát triển của hệ thống tim mạch không cân đối khiến các em dễ rơi vào tình
trạng rối loạn tạm thời với những biểu hiện như: mệt mỏi, chóng mặt, nhức đầu. Những
biểu hiện này diễn ra không lâu nhưng lại thường xuyên, làm ảnh hưởng không nhỏ
đến đời sống sinh hoạt hằng ngày cũng như tâm lí của người chưa thành niên.
cách của mình với những lí do rất riêng. Do đó, khi mắc lỗi, thay vì nhìn nhận thẳng
vào vấn đề để sửa chữa khắc phục thì các em lại cố che dấu, thể hiện ra cử chỉ điệu bộ
ở bên ngoài không tự nhiên, tỏ ra mạnh dạn, can đảm để người khác không chú ý đến
mình; hay chỉ vì một hành động chế giễu, mỉa mai về hình thể dáng vẻ đi lại bên ngoài
cũng gây cho các em những phản ứng mạnh mẽ.
Các em luôn muốn bộc lộ cá tính, tự khẳng định mình, muốn nhanh chóng được
trở thành người lớn và cố gắng để được đối xử như người lớn, do đó hay phóng đại
năng lực bản thân mình. Nhưng thực chất kết thúc giai đoạn chưa thành niên các em
mới chỉ phát triển khá hoàn thiện về mặt sinh lí, còn quá trình nhận thức vẩn chưa đầy
đủ. Nhận thức về xã hội, đạo đức, pháp luật… còn hạn chế, đặc biệt là nhận thức về
pháp luật. Đôi khi những nhận thức quan điểm về pháp luật không được hình thành
hoặc có nhưng bị lệch lạc theo cách hiểu chủ quan của các em.
Mặc dù sống độc lập hơn và muốn tỏ ra mình là người lớn nhưng các em ở độ tuổi
này vẫn cần có sự quan tâm, chăm sóc của cha mẹ, bởi những khó khăn, rắc rối về mặc
tâm lí, sinh lí là không tránh khỏi. Cha mẹ phải là người hiểu rõ điều đó để quan tâm
cho đúng mức, sao cho các em vẫn có thể phát huy được tính độc lập của mình nhưng
không thể tách rời sự quản lí chặt chẽ cần thiết của cha mẹ.
Khi trở thành đối tượng áp dụng các biện pháp xử lý hành chính thì những đặc
điểm tâm sinh lí trên phải được xem xét để pháp luật có những quy định phù hợp, đảm
bảo việc bảo vệ hiệu quả nhất quyền lợi của đối tượng “đặc biệt” này.
1.1.3. Ảnh hưởng của những đặc điểm của người chưa thành niên đối với việc quy
định các biện pháp xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật Việt Nam nói chung, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính nói riêng
có những quy định rất đặc thù với đối tượng là người chưa thành niên vi phạm pháp
luật.
Tiêu biểu phải kể đến Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, là một đạo luật
chỉ quy định những vấn đề liên quan đến trẻ em, trong đó có cả người chưa thành niên,
gồm những quy định chung. Những quy định về quyền và nghĩa vụ của trẻ em cũng
như của những đối tượng liên quan đảm bảo mạng lại cho trẻ em những điều tốt đẹp
Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính cũng có những quy định riêng đối với người
chưa thành niên vi phạm hành chính, không phải bất kì người chưa thành niên nào
cũng bị áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính, họ chỉ có thể bị áp dụng các
biện pháp đó khi thỏa mãn một số điều kiện nhất định, gồm: thứ nhất, phải đạt đến một
độ tuổi nhất định; thứ hai, có khả năng nhận thức và có khả năng điều khiển hành vi;
thứ ba, họ phải thực hiện hành vi trái pháp luật mà theo quy định bị áp dụng cưỡng chế
hành chính. Khi họ bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính thì việc áp dụng
cũng có những đặc điểm khác biệt với việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế này đối
với người đã thành niên.
Phần lớn người chưa thành niên còn sống phụ thuộc vào gia đình, họ không có tài
sản riêng, quy định pháp luật về xử lý vi phạm hành chính phải phù hợp với những đặc
điểm đó để đảm bảo tính khả thi khi áp dụng. Khoản 1 Điều 7 Pháp lệnh xử lý vi phạm
hành chính 2002 quy định người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi vi phạm hành chính thì
bị phạt cảnh cáo, khác với trước đây quy định là phạt tiền đến 50.000 đồng, người từ
đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi vi phạm hành chính mà bị áp dụng hình thức phạt tiền thì
mức phạt đối với họ không được quá một phần hai mức phạt đối với người thành niên.
Biện pháp xử phạt với người chưa thành niên chỉ mang tính chất răn đe, giáo dục là
chính, ở độ tuổi đủ 14 đến dưới 16, việc quy định hình thức phạt tiền là không cần
thiết, bởi những người chưa thành niên không có khả năng để chấp hành biện pháp xử
phạt này, thường thì cha mẹ họ là những người có trách nhiệm nộp thay. Điều đó sẽ
không có tác dụng nhiều đến nhận thức của họ, bởi vốn có nhận thức chưa đầy đủ và
sâu sắc, họ được cha mẹ thực hiện thay sẽ không thể hiểu được mục đích chính của
việc áp dụng xử phạt vi phạm hành chính đối với họ là răn đe, giáo dục. còn ở độ tuổi
từ đủ 16 đến dưới 18, các em đã có thể có nhận thức đầy đủ hơn, việc phạt cảnh cáo
với các em đôi khi lại chưa đủ, cần phải áp dụng hình thức xử phạt cao hơn là phạt tiền.
Chỉ riêng những đặc điểm tâm sinh lí chưa đủ để dẫn đến những hành vi vi phạm
pháp luật, chính những yếu tố bên ngoài từ phía gia đình, bạn bè và xã hội khi có tác
động tiêu cực đến khả năng nhận thức của các em khiến các em thực hiện những hành
Người chưa thành niên luôn cần được sự giúp đỡ về mọi mặt, ngay cả khi họ đã vi
phạm pháp luật. Đôi khi họ cũng là người bị tổn thương khi họ thực hiện hành vi vi
phạm. Hay trong trường hợp người chưa thành niên bán dâm do bị ép buộc hành hạ,
hay do bị lừa gạt. Họ rất khổ, đôi khi họ cảm thấy ngay cả họ cũng xấu xa nhưng họ
không còn con đường nào khác, họ muốn quay đầu lại nhưng mặc cảm, mĩa mai, không
định hướng được, sợ xã hội không dung nạp, không cho họ đủ nghị lực để sống thế rồi
họ là đối tượng mà Pháp lệnh quy định phải đưa vào cơ sở chữa bệnh. Ngoài ra Pháp
lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 còn quy định riêng cho nhóm đối tượng này,
xem họ là đối tượng đặc biệt cần phải chăm sóc đặc biệt. Ở cơ sở giáo dục người chưa
thành niên được lao động, học tập, học nghề và cả chữa bệnh. Nếu trong thời gian bán
dâm, các em có bị bệnh thì cơ sở cũng tạo điều kiện chữa bệnh cho các em.
Cũng do đặc điểm riêng về tâm sinh lý, những nhận thức hạn chế của người chưa
thành niên, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 quy định không áp dụng
một số các biện pháp cưỡng chế đối với họ. Chẳng hạn như: không đưa người chưa đủ
18 tuổi vào cơ sở giáo dục quy định tại Điều 25 của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành
chính năm 2002.
Qua phân tích trên ta thấy những đặc điểm về tâm sinh lí của người chưa thành
niên có ảnh hưởng rất quan trọng đến quy định của pháp luật nói chung và Pháp lệnh
xử lý vi phạm hành chính nói riêng. Trong tương lai không xa chúng ta phải dựa vào
những đặc điểm này để hoàn thiện hệ thống pháp luật, cũng như xây dựng Bộ luật xử
lý vi phạm hành chính, cũng giống như Bộ luật hình sự có những quy định riêng để xử
lý người chưa thành niên vi phạm hành chính. Vì như nghiên cứu cho thấy ngăn ngừa,
giáo dục, phòng chống người chưa thành niên vi phạm hành chính cũng góp phần
phòng chống tội phạm, đồng thời bên cạnh đó cũng góp phần bảo vệ quyền lợi của
người chưa thành niên.
1.2. Vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành
niên
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm vi phạm hành chính
1.2.1.2. Đặc điểm cơ bản và các dấu hiệu pháp lí của vi phạm hành chính
1.2.1.2.1. Vi phạm hành chính có những đặc điểm cơ bản sau
Vi phạm pháp luật hành chính à hành vi trái pháp luật xâm phạm các quy tắc
quản lý nhà nước, do cá nhân hay tổ chức thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý.
Vi phạm hành chính có mức độ, tính chất nguy hiểm thấp hơn tội phạm.
Đa số vi phạm hành chính có cấu thành hình thức, nghĩa là chỉ cần xét đến hành
vi vi phạm hành chính xảy ra mà không cần đến hậu quả.
Vi phạm hành chính được quy định cụ thể trong các văn bản dưới luật. Trong đó
Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính năm 2002 là quy định cơ bản có tính luật, định ra
các nguyên tắc chung trong việc phát hiện, ngăn chặn và xử lí vi phạm hành chính.
Vi phạm hành chính là hành vi được pháp luật quy định là phải xử phạt vi phạm
hành chính.
1.2.1.2.2. Các dấu hiệu pháp lý của vi phạm hành chính
Cũng như tội phạm vi phạm hành chính cũng có bốn dấu hiệu pháp lí6.
+ Dấu hiệu trong mặt khách quan
Mặt khách quan của vi phạm hành chính là những biểu hiện ra bên ngoài của hành
vi vi phạm hành chính, bao gồm các yếu tố sau: hành vi, thời gian, công cụ, địa điểm,
mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, trong đó yếu tố hành vi là yếu tố bắt
buộc, thể hiện như sau:
Hành vi vi phạm hành chính: là những biểu hiện của con người hoặc tổ chức tác
động váo thế giới quan dưới những hình thức bên ngoài cụ thể gây tác hại đến sự tồn
tại và phát triển bình thường đến trật tự quản lý nhà nước. Những biểu hiện này thể
hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động bởi ý thức của chủ thể vi phạm hành
chính.
Hành vi vi phạm hành chính là hành vi trái pháp luật, chủ thể vi phạm hành chính
bằng hành động hay không hành động thực hiện những hành vi mà pháp luật cấm hoặc
không thực hiện những hành vi mà pháp luật quy định. Tính chất trái pháp luật của
hành vi xét về mặt hình thức nó thể hiện ở các dạng sau đây:
· Làm một việc ( hành động) mà pháp luật cấm không được làm.
biểu hiện thái độ của người đó đối với hành vi của mình.
Lỗi trong vi phạm hành chính bao gồm: lỗi cố ý và lỗi vô ý.
· Lỗi cố ý trong vi phạm hành chính: là thái độ tâm lí của một người khi thực hiện
hành vi trái pháp luật hành chính nhận thức được nghĩa vụ pháp lý bắt buộc
nhưng lại có ý thức xem thường mặc dù họ hoàn toàn có khả năng xử sự đúng
theo nghĩa vụ đó.
· Lỗi vô ý trong vi phạm hành chính là lỗi của một người khi thực hiện hành vi vi
phạm hành chính do vô tình hoặc thiếu thận trọng mà đã không nhân thức được
nghĩa vụ pháp lý bắt buộc, mặc dù họ có khả năng và điều kiện xử sự theo đúng
nghĩa vụ này.
Trong đó lỗi là một dấu hiệu cơ bản bắt buộc phải hiện diện trong mọi cấu thành
của hành vi vi phạm pháp luật, có ý nghĩa quyết định đến các yếu tố khác trong mặt
chủ quan của vi phạm hành chính. Vì vậy, các trường hợp loại trừ yếu tố lỗi sẽ không
đủ các dấu hiệu cần thiết để xác định là hành vi vi phạm pháp luật.
Ví dụ: sự kiện bất ngờ, tình thế cấp thiết, phòng vệ chính đáng, hoặc vi phạm
hành chính trong khi mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mắc khả năng nhận thức
hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình.
Tuy nhiên mức độ của lỗi thì tùy trường hợp để xem xét. Thậm chí trong nhiều
loại cấu thành của vi phạm hành chính, khi truy cứu cũng không nhất thiết phải xem
xét lỗi cố ý hay lỗi vô ý.
Ví dụ như: hành vi vượt đèn đỏ của chủ thể vi phạm hành chính.
+ Dấu hiệu trong mặt chủ thể
Chủ thể của vi phạm hành chính là cá nhân( công dân Việt Nam, người nước
ngoài và người không quốc tịch thường trú hoặc tạm trú trên lãnh thổ Việt Nam) và tổ
chức( bao gồm tổ chức nước ngoài hoạt động tại Việt Nam).
Tất cả các chủ thể trên phải đủ năng lực chủ thể, tức là phải có năng lực pháp luật
và năng lực hành vi. Tổ chức thì năng lực chủ thể có từ khi có quyết định thành lập và
công nhận hoạt động hợp pháp.
quốc tế tại Việt Nam7.
+ Hành vi vi phạm hành chính đã chuyển hóa thành tội phạm hình sự đươc quy
định tại Điều 62 của Pháp lênh xử lý vi phạm hành chính năm 2002. Khi xem xét vụ vi
phạm để quyết định xử phạt, nếu xét thấy hành vi vi phạm có dấu hiệu tội phạm, thì
người có thẩm quyền phải chuyển ngay hồ sơ cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có
thẩm quyền.Nghiêm cấm việc giữ lại các vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để xử phạt
hành chính. Đối với trường hợp đã ra quyết định xử phạt, nếu sau đó phát hiện hành vi
vi phạm có dấu hiệu tội phạm mà chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì
người đã ra quyết định xử phạt phải hủy quyết định đó và trong thời hạn ba ngày, kể từ
ngày hủy quyết định xử phạt, phải chuyển hồ sơ vụ vi phạm cho cơ quan tiến hành tố
tụng hình sự có thẩm quyền.
+ Quá thời hiệu truy cứu trách nhiệm hành chính.. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm
hành chính được quy định cụ thể tại Điều 10 của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính
năm 2002.
Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là một năm, kể từ ngày vi phạm hành
chính được thực hiện; đối với vi phạm hành chính trong các lĩnh vực tài chính, chứng
khoán, sở hữu trí tuệ, xây dựng, môi trường, an toàn và kiểm soát bức xạ, nhà ở, đất
đai, đê điều, xuất bản, xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh hoặc vi phạm hành
chính là hành vi buôn lậu, sản xuất, buôn bán hàng giả thì thời hiệu là hai năm; nếu
quá các thời hạn nói trên thì không xử phạt nhưng vẫn bị áp dụng các biện pháp khắc
phục hậu quả được quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản 3 Điều 12 của Pháp lệnh
xử lý vi phạm hành chinh năm 2002. Người có thẩm quyền xử phạt nếu có lỗi trong
7
Lệnh của Chủ tịch nước số 25-L/CTN ngày 07/9/1993 công bố Pháp lệnh quyền miễn trừ, ưu đãi cho cơ quan
đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự và cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam
việc để quá thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính thì bị xử lý theo quy định tại Điều
vi phạm hành chính năm 1989. Những văn bản trên có quy định về thẩm quyền, thủ tục
áp dung và biện pháp cải tạo, quản chế, cải tạo, đưa vào trường để giáo dục những
thiếu niên hư hỏng. qua nghiên cứu ta thấy rằng có nhiều biện pháp, hình thức để giáo
dục, xử lí, tạo điều kiện thuận lợi cho những người có thẩm quyền xử lí dể dàng lựa
chọn hình thức áp dụng cho từng loại đối tượng vi phạm pháp luật. Trong khi đó, giai
đoạn này các nhà làm luật không soạn thảo, ban hành quy định người vi phạm pháp
luật mà theo quy định vi phạm như thế nào là có tính chất thường xuyên và những đối
tượng có hành vi vi phạm trật tự xã hội, an ninh nhưng chưa đến mức phải chịu trách
nhiệm hình sự để áp dụng các biện pháp xử lí hành chính khác, để đưa vào trường giáo
dưỡng, đưa vào trung tâm giáo dục giáo dục tại xã, phường, thị trấn.
Các quy định về này được áp dụng trong một thời gian dài và đã một phần nào
phát huy tác dụng tích cực trong việc giữ gìn trật tự xã hội, an toàn xã hội. Tuy nhiên,
đến những năm 90 thì những quy định nêu trên không còn phù hợp áp dụng không còn
phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của đất nước và xã hội đòi hỏi phải có những quy
định phù hợp. Chính vì thế, ngày 20/4/1993 Ủy ban thường vụ Quốc hội ( UBTVQH)
đã ra thông báo số 51/UBTVQH và ngày 11/5/1993 giao cho Bộ nội vụ phối hợp với
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao và các cơ quan hữu quan khác
soạn thảo Pháp lệnh về những biện pháp hành chính cần thiết, các cơ quan đã tiến hành
xây dựng bản dự thảo. Những biện pháp đó là: Tập trung lao động bắt buộc, quản chế,
đưa vào trường giáo dục người chưa thành niên vi phạm pháp luật.
Đồng thời, Quốc hội đã đưa vào chương trình xây dựng pháp luật năm 1994 việc
sửa đổi Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính năm 1995. Và Chính phủ đã thống nhất đề
xuất các biện pháp vào trong Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính..
Ngày 06/7/1995 Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh xử lý vi phạm
hành chính năm, theo đó xử lí vi phạm hành chính được xác định bao gồm xử phạt
hành chính và các biện pháp xử lí hành chính khác. Pháp lệnh này có hiệu lực ngày
01/8/1995.
Theo quy định tại Điều 20 của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995 thì
bệnh.
Trong các quy định về thẩm quyền quyết định áp dụng các biện pháp xử lí hành
chính khác đã thể hiện rõ trong cách phân cấp trong quản lí hành chính nhà nước, cả ba
cấp chính quyền đều được trao thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp xử lí hành
chính khác. Khẳng định tính đúng đắn của quy định, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành
chính năm 2002 quy đinh biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn cho Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cấp xã. Hiện nay, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính có nhiều nghị định
hướng dẫn thi hành cho nên đã bộc ;ộ những bất cập, thiếu thống nhất, vì vậy nhu cầu
xây dựng một văn bản có giá trị pháp lí cao trở nên cấp thiết.
Thực hiện Nghị quyết số 35/2004/NQ-QH11 Ngày 25/11/2004 của Quốc hội về
chương trình xây dựng luật, pháp lệnh 2005, Chính phủ đã giao cho Bộ tư pháp chủ trì
việc xây dựng Bộ luật xử lí vi phạm hành chính. Trong quá trình dự thảo có nhiều ý
kiến cho rằng có nên duy trì các biện pháp xử lí vi phạm hành chính khác hay không,
nên ban hành một văn bản riêng biệt với xử lí vi phạm hành chính hay không.
2.2. Các biện pháp xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên theo
pháp luật hiện hành
Biện pháp xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên theo pháp luật
hiện hành được quy định trong Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002 và các văn
bản có liên quan.
Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002 là kết quả của một quá trình lâu dài
không ngừng hoàn thiện các quy định của pháp luật, với mục đích “ để đấu tranh phòng
ngừa và chống vi phạm hành chính, góp phần giữ vững an ninh trật tự, an toàn xã hội,
bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của cá nhân, tăng cường pháp chế
xã hội chủ nghĩa, nâng cao hiệu lực quản lí Nhà nước”. Pháp lệnh có 10 chương 124
điều. Từ khi Pháp lệnh 2002 ra đời còn có rất nhiều văn bản hướng dẫn chi tiết việc
thực hiện những quy định của Pháp lệnh, trong đó có các Nghị định 134/2003/NĐ-CP
quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính ban
hành ngày 24/11/2003; Nghị định số 163/2003/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành biện
pháp giáo dục tại, xã, phường, thị trấn ban hành ngày 19/12/2003; nghị định
135/2004/NĐ-CP quy định chế độ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh, tổ chức
phạt vi phạm hành chính.
Xử phạt vi phạm hành chính được tiến hành bởi các chủ thể có thẩm quyên theo
quy định của pháp luật. Các chủ thể này được quy định rõ trong Pháp lệnh xử lý vi
phạm hành chính năm 2002 và các văn bản có quy định về xử phạt hành chính.
Xử phạt vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên là hoạt động của các
chủ thể có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành về xử phạt vi
phạm hành chính, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính đối với
người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi thực hiện hành vi vi phạm pháp
luật.