Nhu cầu độc lập của người chưa thành niên vi phạm pháp luật
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN PHẠM THỊ THỤC OANH NHU CẦU ĐỘC LẬP CỦA
NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
VI PHẠM PHÁP LUẬT
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Hà Nội - 2013
Nhu cầu độc lập của người chưa thành niên vi phạm pháp luật
2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu 11
3.2. Khách thể nghiên cứu 11
3.2.1. Khách thể chính 11
3.2.2. Khách thể phụ 11
4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC 11
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 12
6. PHẠM VI NGHIÊN CỨU 12
6.1. Giới hạn về nội dung 12
6.2. Giới hạn về khách thể 12
7. PHƢƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
7.1. Phƣơng pháp luận nghiên cứu 13
7.2. Các phƣơng pháp nghiên cứu 13
8. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN 14
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHU CẦU ĐỘC LẬP CỦA NGƢỜI
CHƢA THÀNH NIÊN VI PHẠM PHÁP LUẬT 15
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu nhu cầu độc lập của ngƣời chƣa thành
niên vi phạm pháp luật 15
Nhu cầu độc lập của người chưa thành niên vi phạm pháp luật
6
1.1.1. Một số nghiên cứu về nhu cầu 15
1.1.2. Những nghiên cứu về nhu cầu độc lập 17
1.1.3. Những nghiên cứu về nhu cầu độc lập của ngƣời chƣa thành niên 22
1.2. Một số khái niệm liến quan đến đề tài nghiên cứu 24
1.2.1. Khái niệm nhu cầu và nhu cầu độc lập 24
1.2.2. Khái niệm vi phạm pháp luật 26
1.2.3. Khái niệm ngƣời chƣa thành niên và ngƣời chƣa thành niên vi phạm
pháp luật 30
1.3. Đặc điểm nhu cầu độc lập của ngƣời chƣa thành niên 34
pháp luật ở mặt cảm xúc 70
3.3. Thực trạng biểu hiện nhu cầu độc lập của ngƣời chƣa thành niên vi phạm
pháp luật ở mặt hành động 76
3.3.1. Thực trạng nhu cầu độc lập của ngƣời chƣa thành niên vi phạm pháp
luật biểu hiện trong mối quan hệ với cha mẹ 76
3.3.2. Thực trạng nhu cầu độc lập của ngƣời chƣa thành niên vi phạm pháp
luật biểu hiện trong mối quan hệ với bạn bè 80
3.3.3. Thực trạng nhu cầu độc lập của ngƣời chƣa thành niên vi phạm pháp
luật biểu hiện trong việc chấp hành những quy định chung 83
3.4. Thực trạng một số yếu tố ảnh hƣởng đến nhu cầu độc lập của ngƣời chƣa
thành niên vi phạm pháp luật 85
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 94
PHỤ LỤC 104
PHỤ LỤC 1: CÁC LOẠI BẢNG HỎI 105
PHỤ LỤC 2: ĐỘ TIN CẬY VÀ ĐỘ GIÁ TRỊ CỦA BẢNG HỎI 116
PHỤ LỤC 3: BẢNG TỈ LỆ PHẦN TRĂM CÁC ITEMS TRONG BẢNG
HỎI- TÍNH THEO SPSS 18.0…………………………………………… 119
Nhu cầu độc lập của người chưa thành niên vi phạm pháp luật
8
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU VÀ BIỂU ĐỒ
1. DANH MỤC BẢNG BIỂU Trang
Bảng 2.1: Một số đặc điểm của khách thể nghiên cứu 59
Bảng 3.1: Sự hiểu biết của người chưa thành niên vi phạm pháp luật về tính
độc lập 66
Bảng 3.2: Nhận thức của người chưa thành niên vi phạm pháp luật về nhu
cầu độc lập 68
người chưa thành niên ngày càng nghiêm trọng. Chẳng hạn nếu như trước đây
các loại hành vi vi phạm pháp luật mà người chưa thành niên thực hiện là
trộm cắp tài sản, gây rối, đánh nhau thì gần đây mức độ vi phạm có chiều
hướng đặc biệt nguy hiểm vượt qua giới hạn của tuổi chưa thành niên, đó là
một số loại án tăng cao như “cướp giật tài sản” chiếm 63,85%, giết người tăng
38,7% về số người vi phạm pháp luật (nguồn từ Bộ Công an). Tình trạng vi
phạm pháp luật do người chưa thành niên gây ra còn đi sâu vào trong học
đường- môi trường giáo dục con người và nhân cách con người- thể hiện ở
những hành vi học sinh chống đối thầy cô giáo, đâm chém nhau, xô sát, tham
gia đua xe và tổ chức đua xe trái phép, đánh bạc, Thực tế này đã và đang là
một mối hiểm họa rất lớn không chỉ đối với xã hội nói chung mà còn cả với
môi trường giáo dục, đe dọa cả sự bền vững trong mỗi gia đình nói riêng.
Chính vì vậy, để giữ vững an ninh trật tự và an toàn xã hội thì vấn đề đấu
tranh phòng và chống tình trạng vi phạm pháp luật do người chưa thành niên
thực hiện nay càng trở nên bức xúc hơn bao giờ hết.
1.2. Hiện nay công tác đấu tranh phòng ngừa tình trạng vi phạm pháp
luật ở người chưa thành niên tuy đã đạt được nhiều thành tích nhất định
nhưng vẫn còn nhiều bất cập. Hầu hết công tác giáo dục các em chỉ tập trung
Nhu cầu độc lập của người chưa thành niên vi phạm pháp luật
10
vào các nguyên nhân thuộc về yếu tố kinh tế- xã hội chi phối hành vi vi phạm
pháp luật của người chưa thành niên mà chưa đi sâu vào việc nghiên cứu, giáo
dục các em từ khía cạnh tâm sinh lý, từ môi trường xã hội của chính bản thân
những người chưa thành niên vi phạm pháp luật. Do sự phát triển nhanh về số
lượng vụ án vi phạm pháp luật do người chưa thành niên thực hiện và tính
chất phức tạp của những hành vi này nên công tác giáo dục, cảm hóa những
người chưa thành niên vi phạm pháp còn nhiều thiếu xót, thực tế còn có chỗ
này, chỗ kia đôi lúc còn chưa phù hợp.
và những yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu độc lập của người chưa thành niên vi
phạm pháp luật.
3.2. Khách thể nghiên cứu
Tổng số khách thể điều tra: 225 người gồm:
3.2.1. Khách thể chính
Người chưa thành niên vi phạm pháp luật đang được giáo dục tại
Trường giáo dưỡng số 2 Ninh Bình do Cục V26 – Bộ Công an quản lý, gồm:
- 60 em (điều tra thử);
- 125 em (điều tra chính thức);
- 03 em (phỏng vấn sâu);
Tổng số: 188 em.
3.2.2. Khách thể phụ
37 Cán bộ giáo dưỡng đang làm việc tại Trường giáo dưỡng số 2 Ninh
Bình.
4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
- Nhu cầu độc lập là một dạng nhu cầu nhằm đảm bảo cho mỗi con
người có thể tồn tại và phát triển, đối với người chưa thành niên thì nó trở
thành một dạng nhu cầu đặc biệt . Nhu cầu độc lập của người chưa thành niên
vi phạm pháp luật biểu hiện ở mức độ cao và có những đặc trưng riêng, đó là
những nhu cầu độc lập hình thành cũng như phát triển dựa trên sự nhận thức
và giá trị lệch chuẩn. Vì vậy, nhu cầu độc lập của các em chỉ trở thành một
trong những yếu tố chi phối hành vi vi phạm pháp luật của các em khi những
Nhu cầu độc lập của người chưa thành niên vi phạm pháp luật
12
nhu cầu đó đi ngược lại với những giá trị chung, tùy vào hoàn cảnh, tình
huống cụ thể mà các em trải qua.
- Việc định hướng giá trị, giáo dục của gia đình, nhà trường và cộng
đồng có thể tác động phần nào làm thay đổi nhận thức giúp người chưa thành
luôn được xem là những đặc điểm có tính luôn vận động, nảy sinh, phát
triển,
- Nguyên tắc hoạt động giao tiếp: Chúng tôi tiến hành phân tích thực
tiễn, xuất phát từ quan điểm cho rằng, tâm lý con người được hình thành trong
hoạt động và giao tiếp. Do đó, muốn tìm hiểu rõ về nhu cầu độc lập của người
chưa thành niên vi phạm pháp luật phải nghiên cứu thông qua hoạt động thực
tiễn của họ trong hoạt động học tập, sinh hoạt và trong quan hệ với những
người khác.
- Nguyên tắc tiếp cận hệ thống: Con người là một thực thể xã hội, hành
vi của họ chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau- yếu tố cá nhân và yếu
tố xã hội. Khi nghiên cứu về nhu cầu độc lập của người chưa thành niên vi
phạm pháp luật luôn đặt trong mối quan hệ với môi trường, với nhóm xã hội
mà họ tham gia vào. Tuy vậy, trong từng thời điểm, từng hoàn cảnh khác
nhau, có yếu tố ảnh hưởng trực tiếp, có yếu tố ảnh hưởng gián tiếp, có yếu tố
ảnh hưởng chính, có yếu tố chỉ là yếu tố thúc đẩy. Chính vì lẽ đó, việc xác
định đúng vai trò của từng yếu tố là một yêu cầu không thể thiếu trong việc
đưa ra những hướng giáo dục phù hợp sự phát triển nhu cầu độc lập của người
chưa thành niên vi phạm pháp luật. Đối với lứa tuổi chưa thành niên, sự phát
triển tâm lý chịu sự ảnh hưởng rất lớn của gia đình, nhà trường và bạn bè.
7.2. Các phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể (được trình bày chi tiết ở chương 2).
- Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu;
Nhu cầu độc lập của người chưa thành niên vi phạm pháp luật
14
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi cá nhân;
- Phương pháp quan sát;
- Phương pháp phỏng vấn;
- Phương pháp chuyên gia;
- Phương pháp thống kê toán học.
thành niên vi phạm pháp luật
1.1.1. Một số nghiên cứu về nhu cầu
Nhu cầu là một vấn đề đã được nhiều nghiên cứu về tâm lý học đề cập
đến từ rất lâu. Và cũng có không ít những học thuyết khác nhau giải thích về
nhu cầu. Dưới đây, chúng tôi xin đề cập đến các lý thuyết về nhu cầu của một
số học giả:
- Thuyết nhu cầu của A. Maslow
Abraham Maslow (1908- 1970) là một nhà tâm lý học Mỹ đã xây dựng
nên học thuyết về nhu cầu của con người và phát triển thuyết này vào những
năm 50 của thế kỉ 20 giúp cho sự hiểu biết của nhiều nhà nghiên cứu sau này
về nhu cầu của con người thêm phong phú. Đây là một trong những học
thuyết thông dụng nhất được dùng để giải thích về động cơ hoạt động của con
người. Theo ông, nhu cầu của con người là một chuỗi liên tiếp các nhu cầu từ
bậc thấp đến bậc cao, trong đó mỗi nhu cầu của con người trong hệ thống thứ
bậc đều phụ thuộc vào nhu cầu trước đó. Hay theo nguyên tắc của nhu cầu thì
nhu cầu bậc thấp không được thoả mãn, cá nhân đó có thể tiến lên bước phát
triển tiếp theo. Theo ông, mỗi cá nhân có năm loại nhu cầu chủ yếu như sau:
Nhu cầu cơ thể - đó là những nhu cầu gắn với các yếu tố sinh lý như đói, khát,
rét, ăn mặc, ở…; nhu cầu được an toàn – đó là nhu cầu tránh sự nguy hiểm về
thân thể, không muốn bị đau đớn, tổn thương, được bảo vệ và ổn định, sự đe
dọa mất việc làm, mất tài sản…; nhu cầu xã hội (nhu cầu quan hệ, giao tiếp)
– đó là nhu cầu được giao lưu với người khác, được cho và nhận những tình
cảm yêu thương…; nhu cầu được tôn trọng – đó là sự tự trọng và được tôn
Nhu cầu độc lập của người chưa thành niên vi phạm pháp luật
16
trọng, khao khát thành công, có sức mạnh và niềm tin, có khả năng tự giải
quyết các công việc của mình, khao khát được nhìn nhận, được đánh giá, lòng
tự trọng, giá trị bản thân, sự độc lập và thành quả, và tôn trọng từ những
quan tâm. Nhu cầu độc lập lần đầu tiên được các nhà Triết học cổ Hy Lạp đưa
ra và cho rằng mỗi cá nhân cần tìm hiểu những tiềm năng, hạn chế, những
điểm mạnh và yếu của mình. Dựa trên cơ sở kiến thức này, cá nhân có khả
năng nhận thức, duy trì sự kiểm soát và điều chỉnh bản thân mình theo hướng
tự mình đưa ra mục tiêu. Theo quan niệm Triết học cổ đại Hy Lạp, người độc
lập là một người có thể tạo ra và thiết kế những quy tắc sống cho bản thân
mình [dẫn theo 18; tr 39].
Các tác giả L.K. Brendtro, M. Brokenleg và S. V. Bockern (1990) khi
nghiên cứu nền văn minh của người da đỏ cách đây hàng ngàn năm ở Mỹ đã
xác minh rằng người da đỏ ở Mỹ đã biết đưa ra một sơ đồ mục tiêu gọi là
"vòng tròn dũng cảm". Trong đó, người da đỏ tin rằng chỉ có thể tạo ra con
người dũng cảm (con người có nhân cách- theo quan niệm hiện nay) nếu
người đó được giáo dục đủ bốn đức tính: độc lập (independence), hào phóng
(generosity), được phụ thuộc (belonging) và khả năng hoàn thiện tri thức
(mastery). Trong giáo dục nói chung và giáo dục gia đình nói riêng, người da
đỏ đã có lý khi cho rằng nhà giáo dục, những bậc cha mẹ cần xác định mục
tiêu khi dạy dỗ con, muốn con trở thành người dũng cảm, thành người nhân
cách hoàn chỉnh thì nhu cầu độc lập (độc lập với người khác) là một thành
phần không thể thiếu được bên cạnh nhu cầu được phụ thuộc (thuộc vào một
nhóm xã hội nào đó: gia đình, bạn bè, ), nhu cầu cởi mở hào phóng và khả
năng học hỏi để có tri thức [dẫn theo 18, tr 40] .
Như vậy, khái niệm độc lập đã xuất hiện và phát triển trong những
quan điểm triết học từ hàng nghìn năm trước công nguyên. Một trong những
đặc điểm tính nhân văn của con người là con người được quyền và có khả
Nhu cầu độc lập của người chưa thành niên vi phạm pháp luật
18
năng tự quyết định hành vi và lối sống của mình. Con người cần được độc lập
sống theo cách mà họ quyết định trong những điều kiện kinh tế xã hội cụ thể.
khi đối diện với thế giới, muốn được độc lập và tự do với người khác.
- Nhóm thứ hai: Những mong muốn có được danh tiếng hay uy tín (tức
sự kính trọng hay tôn trọng của người khác), tự thừa nhận, sự chú ý, tầm
quan trọng hay sự cảm kích [dẫn theo 18, tr 41].
Có thể nói, lòng tự trọng là một nét tính cách đặc biệt quan trọng và
bền vững có liên quan chặt chẽ với những thuộc tính nhân cách của cá nhân.
Con người có lòng tự trọng cao thường độc lập hơn, ít bị cám dỗ; người có
lòng tự trọng thấp thường biểu hiện khuynh hướng xu thời. Có những tư liệu
nói về mối quan hệ giữa lòng tự trọng của nhân cách và thái độ nhân cách đối
với người khác: con người có thái độ tích cực đối với mình, thường được cả
những người xung quanh "thừa nhận"; trong khi đó, nếu họ có thái độ phủ
định đối với bản thân thì thường biểu lộ thái độ không thân thiện, thiếu tin
tưởng đối với người khác. Điều này chứng minh sự hài lòng khi được độc lập
và tự đánh giá làm người ta có cảm giác tự tin, có giá trị, sức mạnh, đủ năng
lực và toàn vẹn khi trở thành người có ích và cần thiết trong cuộc sống. Việc
ngăn cản hoặc hạn chế đáp ứng những nhu cầu này sẽ tạo ra mặc cảm yếu
đuối, thấp kém và sự bất lực. Những cảm giác này sẽ dẫn đến chỗ nản chí, tổn
thương hoặc lo âu.
Một khía cạnh khác của nhu cầu độc lập còn được Maslow đề cập đến
trong nhóm nhu cầu tự khẳng định, tự thực hiện. Những con người này đã
chuyển động vượt ra ngoài những nhu cầu cơ bản của con người để tìm kiếm
sự phát huy đầy đủ tiềm năng của mình, còn gọi là sự ý thức đầy đủ về bản
thân (self- actualizatinon)- một con người có ý thức đầy đủ về mình, tự nhận
thức được mình, tự chấp nhận, thì nhiệt tình với xã hội, có tính sáng tạo,
không gò bó, sẵn sàng tiếp nhận cái mới và sẵn sàng chấp nhận thử thách-
không kể các phẩm chất tích cực khác. Những lý thuyết này của Maslow có
Nhu cầu độc lập của người chưa thành niên vi phạm pháp luật
20
Theo một hướng tiếp cận khác về nhu cầu độc lập, đó là cách tiếp cận
động cơ chi phối hành vi con người, các tác giả Henry Muray và David
McClelland sử dụng khái niệm nhu cầu độc lập cho một loại động cơ tâm lý,
giống như một lực thúc đẩy và cho rằng nhu cầu độc lập là "để ngăn cản ảnh
hưởng, bất chấp một quyền lực hoặc tìm kiếm sự tự do trong một vị trí mới"
[dẫn theo 18, tr 43].
Tâm lý học coi thái độ là một thành phần trong cấu trúc nhân cách của
mỗi cá nhân. "Môi trường" ở đây chính là hoàn cảnh xã hội, hoàn cảnh xung
quanh, hoạt động của con người chịu sự quy định của các điều kiện hiện có và
cụ thể. Dưới góc độ tâm lý học xã hội, nhu cầu độc lập là một trong các thuộc
tính tâm lý của nhân cách khi xét cá nhân trong mối quan hệ liên nhân cách,
đó là mối quan hệ qua lại giữa các cá nhân, giữa cá nhân với nhóm, giữa các
nhóm, Do đó, có thể hiểu: Nhu cầu độc lập là cá nhân mong muốn tự hành
động, tự đưa ra quyết định theo cách thức mà họ cho rằng phù hợp nhất với
nhận thức và thái độ của bản thân hơn là để thỏa mãn những đòi hỏi từ phía
người khác và từ phía xã hội.
Nhu cầu độc lập được nảy sinh trên cơ sở cá nhân ý thức được "mình
muốn cái gì", và ý thức được "mình là ai". Tức là con người tự ý thức được về
quá trình hoạt động của bản thân thể hiện sự tự ý thức về động cơ, mục đích
và phương thức thực hiện hành động. Khi xuất hiện một nhu cầu cụ thể nào
đó, con người sẽ hướng vào việc tìm kiếm phương thức và điều kiện có thể
thỏa mãn nhu cầu đó. Nhu cầu xuất hiện với cường độ mạnh, thúc đẩy con
người hoạt động nhăm thỏa mãn nó. Khi nhu cầu không được thỏa mãn thì ở
chủ thể sẽ xuất hiện trạng thái căng thẳng, những xúc cảm âm tính [33].
Như vậy, nhu cầu độc lập ở đây đồng nghĩa với việc cá nhân tự hành
động và tự đưa ra ý kiến riêng của mình mà không muốn bị ảnh hưởng từ
người khác. Nhu cầu độc lập thể hiện ra bằng hành vi, là mong muốn được tự
Nhu cầu độc lập của người chưa thành niên vi phạm pháp luật
22
23
đang bị coi thường." Tác giả còn cho rằng "đây là vấn đề nhạy cảm nhất, đòi
hỏi cha mẹ phải hết sức thận trọng để tránh xảy ra những bất hoà trong quan
hệ gia đình" [15, tr.188- 189]. Đọc đến đây, ta dễ dàng đồng tình với tác giả
về quan điểm này, thực tế trẻ ở giai đoạn này luôn không muốn bất kì một sự
áp đặt nào từ bố mẹ, nhất là trong việc hình thành những quan điểm sống và
suy nghĩ của chúng. Đã có nhiều hệ quả không hay khi cha mẹ la mắng con
cái. Ví dụ như trường hợp mà tác giả Nguyễn Đình Nhơn đưa ra: "Tôi đã
chứng kiến một bà mẹ la mắng con vì cậu lười học bằng câu: Mày mà không
học lớn lên chỉ đi ăn cướp! Và cậu bé đã ám ảnh câu nói đó suốt tuổi học sinh
và kết quả học tập càng ngày càng kém." [22, tr.16].
Tác giả Nguyễn Đình Xuân cũng có chung quan điểm như vậy khi ông
cho rằng: "Xu hướng vươn lên làm người, muốn được mọi người coi mình là
người lớn được thể hiện rất rõ. Các em đòi sự tôn trọng nhân cách, thích độc
lập tự chủ. Tiếc thay, phần lớn người lớn lại vẫn quan niệm như trẻ em cấp
tiểu học, thường áp đặt ý mình và không tôn trọng các em, nên các em chống
đối lại". Ông cũng đưa ra nguyên tắc giáo dục đối với trẻ là: "Tôn trọng nhân
cách trẻ, chỉ hướng dẫn trẻ suy nghĩ và tự do lựa chọn phương pháp hành
động, trẻ không thích sai vặt như tuổi nhi đồng" và "dùng tình yêu thương để
cảm hoá trẻ" [37, tr 150- 151].
Kết quả nghiên cứu của tác giả Đặng Thanh Nga cho thấy phần lớn
người chưa thành niên có hành vi phạm tội có nhu cầu độc lập quá mức kèm
theo tính tự chủ kém. Họ thường cho rằng, mình đã là người lớn, là người
“sành điệu”, là thủ lĩnh của đám bạn bè [19, tr.99].
Như vậy, những nghiên cứu về nhu cầu độc lập ở Việt Nam và thế giới
có không nhiều những công trình nghiên cứu sâu về nhu cầu độc lập của
người chưa thành niên vi phạm pháp luật. Các nghiên cứu của các nhà khoa
học tập trung vào hướng nghiên cứu về nhu cầu độc lập của người chưa thành
Nhu cầu độc lập của người chưa thành niên vi phạm pháp luật
Nhu cầu độc lập của người chưa thành niên vi phạm pháp luật
25
Về mặt ngôn ngữ học, khái niệm nhu cầu độc lập có nguồn gốc từ tiếng
Hy Lạp "Autonomous" (Autos- tự mình và Nomous- luật lệ). Theo nghĩa này
thì Autonomous là luật lệ của bản thân. Còn trong tiếng Anh có hai từ
Autonomy và Independence, một từ có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp và một từ đơn
thuần là tiếng Anh và dịch ra đều có nghĩa gần giống nhau là độc lập [18, tr. 26]
Các tác giả R.J Corsini & A.J Auerbach nhấn mạnh nhân tố nhận thức
và hành vi của con người nên cho rằng: "Nhu cầu độc lập là mong muốn tự
hành động, tự đưa ra quyết định theo cách phù hợp với nhận thức của bản thân
hơn là để thỏa mãn đòi hỏi của môi trường hay của người khác"[45, tr.425].
Theo tác giả Đỗ Hạnh Nga, nhu cầu độc lập được hiểu là cá nhân mong
muốn tự hành động, tự đưa ra quyết định theo cách phù hợp với nhận thức và
thái độ của bản thân hơn là sự thỏa mãn đỏi hỏi của người khác[18, tr. 27].
Như vậy, nhu cầu độc lập của con người được hình thành trên cơ sở
con người nhận thức về bản thân, về thế giới và về mối quan hệ của mình với
người khác. Con người bộc lộ bản thân mình thông qua thái độ và những hành
vi xử sự của mình với thế giới. Nhưng những gì con người thể hiện luôn chịu
sự chi phối của môi trường xã hội, của những giá trị xã hội. Do đó trên cơ sở
con người bộc lộ bản thân thì cũng đồng thời là lúc con người dự kiến hoạt
động của mình, tự điều khiển, điều chỉnh hoạt động của mình nhằm thích nghi
với cuộc sống, với môi trường, đó cũng chính là quá trình con người kiểm tra,
đánh giá lại chính bản thân mình. Khi đó, con người đã biết tự ý thức về mình.
Có thể nói, các nhà khoa học có nhiều cách hiểu khác nhau về nhu cầu
độc lập, bởi mỗi tác giả khi đưa ra khái niệm nhu cầu độc lập đã nhìn nhận,
ghiên cứu nhu cầu độc lập ở những góc độ khác nhau. Trên cơ sở các quan
điểm của các nhà nghiên cứu, chúng tôi cho rằng người có nhu cầu độc lập là
người có thể tự làm chủ được hoạt động của mình, có thể tổ chức, định hướng
thức, tới những yêu cầu và chuẩn mực của xã hội [11].
Nhu cầu độc lập của người chưa thành niên vi phạm pháp luật
27
Trong Từ điển Tâm lý học do R.J.Corsini chủ biên có viết “Hành vi là
những hành động, phản ứng, những tương tác đáp lại kích thích bên trong và
bên ngoài, bao gồm những cử chỉ quan sát được một cách khách quan, những
cử chỉ thuộc về nội tâm và những quá trình vô thức” [46, tr.8].
Theo X.L Rubinstêin thì hành vi là hoạt động đặc biệt. Hoạt động
chuyển thành hành vi chỉ khi mà động lực hoạt động từ bình diện đối tượng
chuyển sang quan hệ cá nhân- xã hội [11].
Theo A.N.Leonchiev, hành vi không phải là những phản ứng máy
móc của cơ thể sinh vật, mà hành vi phải được hiểu là hoạt động [11].
Từ điển Tâm lý học do A.V.Pêtrovxki và M.G.Iarôsevxki chủ biên có
viết: “Hành vi là sự tác động qua lại giữa cơ thể sống, thông qua hoạt tính bên
ngoài (vận động) và bên trong (tâm lý). Thuật ngữ hành vi được sử dụng để
chỉ hành vi của các cá riêng lẻ, các cá nhân cũng như của nhóm, loài (hành vi
của một loài sinh vật, hay của một nhóm xã hội)” [dẫn theo 20, tr.11].
Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng, mỗi biểu hiện hành vi chỉ là một
bộc lộ ra bên ngoài của hoạt động và bao giờ cũng gắn liền với động cơ, mục
đích [11]. Tác giả Nguyễn Thị Hoa lại cho rằng, hành vi là những biểu hiện
bên ngoài của các quá trình sinh lý của hoạt động, nó gắn liền với động cơ,
nhu cầu và có ý nghĩa xã hội nhất định [13, tr.40]. Còn theo tác giả Lưu Song
Hà hành vi được hiểu là hành vi xã hội, là cách ứng xử của một người trong
một hoàn cảnh cụ thể được biểu hiện ra bên ngoài bằng cử chỉ nhất định [10,
tr.35]. Nói tóm lại, hành vi là cách xử sự của con người trong một hoàn cảnh
cụ thể được biểu hiện ra bên ngoài bằng lời nói, cử chỉ nhất định [20, tr.14].
1.2.2.2. Khái niệm hành vi vi phạm pháp luật
Trước hết cần phân biệt hành vi trái pháp luật với hành vi vi phạm