1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÂM THỊ PHƢƠNG THANH
BẢO VỆ QUYỀN TRẺ EM ĐỐI VỚI NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN VI
PHẠM PHÁP LUẬT
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nƣớc và pháp luật
Mã số
: 603801
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS. TS. Hoàng Thị Kim Quế
HÀ NỘI - 2009
2
MỞ ĐẦU
I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Năm 1924 Tuyên bố Giơnevơ đã nêu “... mọi dân tộc có trách nhiệm tạo
cho trẻ em điều tốt đẹp nhất, tuyên bố và chấp nhận đó là nhiệm vụ của mình, vượt
lên trên mọi sự quan tâm về chủng tộc, quốc tịch và nòi giống”; là lứa tuổi quyết
định tƣơng lai của mỗi quốc gia, trẻ em luôn đƣợc quan tâm, giáo dục để có thể
phát triển bình thƣờng nhất. Công ƣớc Liên hiệp quốc 1990 về quyền trẻ em (có
192 quốc gia thành viên) đã tạo khung pháp lý thống nhất cho các quốc gia thành
viên quy định về quyền trẻ em. Mọi quy định phải hƣớng tới “Những người trẻ
những vụ việc chính ngƣời bảo vệ pháp luật còn lợi dụng gia cảnh của các em để
kiếm tiền. Thực trạng đó đòi hỏi phải có nghiên cứu để tăng cƣờng các giải pháp bảo
vệ trẻ em trên cơ sở luật pháp quốc tế và quốc gia.
Trên cơ sở nghiên cứu của dự án “Tăng cường thực hiện quyền trẻ em với
nhóm trẻ em vi phạm pháp luật” do Viện nghiên cứu thanh niên thuộc Trung ƣơng
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh thực hiện trên địa bàn Quận Thanh Xuân – Hà Nội, tác
giả đã chọn vấn đề “Quyền bảo vệ trẻ em đối với người chưa thành niên vi phạm
pháp luật” cho đề tài luận văn thạc sĩ của mình. Qua luận văn, tác giả chú trọng tới
việc phân tích thực trạng, mở rộng vấn đề về bảo vệ quyền trẻ em của ngƣời chƣa
thành niên vi phạm pháp luật hiện nay ở Việt Nam, định hƣớng cho phù hợp với
pháp luật quốc tế và khu vực.
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Cho đến nay, vấn đề Quyền con ngƣời và Quyền trẻ em nói riêng theo pháp
luật quốc tế và theo pháp luật Việt Nam đã đƣợc các nhà khoa học, các luật gia ở
trong và ngoài nƣớc tìm hiểu và nghiên cứu, đã có những đóng góp không nhỏ cho
sự đảm bảo về mặt thể chế, lập pháp quy định quyền cơ bản của ngƣời chƣa thành
niên. Về Quyền con ngƣời nói chung có tác phẩm Tìm hiểu về quyền con người –
tài liệu hướng dẫn về giáo dục quyền con người do Wolfgang Benedek (chủ biên) –
4
Tài liệu dịch, Nhà xuất bản Tƣ pháp 2008. Các nghiên cứu trong nƣớc cho thấy,
Quyền trẻ em đã và đang là chủ đề đƣợc nhiều nhà khoa học, nhiều cơ quan nghiên
cứu nhằm mục đích phục vụ hoạt động của mình, nhƣ công trình của Bộ Công An
về Cẩm nang pháp luật Quyền trẻ em – dành phục vụ cho công tác tại trại tạm giam
và trƣờng giáo dƣỡng. Bên cạnh đó, công trình nghiên cứu khảo sát thực tế của Ủy
ban Văn hóa giáo dục thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội, Viện nghiên
cứu thanh niên, tổ chức Save the Children về Quyền trẻ em đối với người chưa
thành niên vi phạm pháp luật, Hà Nội năm 2007. Nguyễn Ngọc Bích “Hoàn thiện
pháp luật về xử lý hành chính với người chưa thành niên” Luận văn thạc sĩ Luật học
ứng yêu cầu khách quan và phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam.
4. ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Phạm vi nghiên cứu của Luận văn:
- Nội dung cơ bản của Công ƣớc của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm
1990; các văn kiện quan trọng khác của Quốc tế liên quan đến các vấn đề của trẻ
em.
- Nội dung của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật giáo dục, luật
hình sự, luật dân sự, pháp luật hành chính, các văn bản quy phạm pháp luật Việt
Nam liên quan đến đảm bảo quyền trẻ em và trách nhiệm pháp lý của ngƣời chƣa
thành niên vi phạm pháp luật.
- Nội dung các báo cáo của các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam, của
các tổ chức quốc tế về chủ đề đảm bảo quyền trẻ em đối với ngƣời chƣa thành niên
vi phạm pháp luật hiện nay.
- Số liệu thực tế trên địa bàn quận Thanh Xuân, TP. Hà Nội, tại các báo cáo
khác, trên các phƣơng tiện thông tin đại chúng để làm rõ các vấn đề phân tích trong
luận văn.
6
5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Cơ sở lý luận nghiên cứu đề tài là phƣơng pháp luận triết học duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin. Đƣờng lối, chính sách của
Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nƣớc và Pháp quyền. Đƣờng lối, chính
sách của Đảng và Nhà nƣớc trong sự nghiệp đổi mới, phát triển nền kinh tế thị
trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa và thực tiễn áp dụng.
Bên cạnh đó, tác giả còn đặc biệt coi trọng sử dụng các phƣơng pháp phân
tích quy phạm; điển hình hoá, mô hình hóa các quan hệ xã hội, tổng hợp, hệ thống,
điều tra xã hội học, phƣơng pháp lịch sử, so sánh, phân tích, đánh giá để giải quyết
các vấn đề của đề tài đặt ra.
6. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
Tuyên ngôn về quyền trẻ em đã khẳng định “Trẻ em, dù còn non nớt về thể chất và
trí tuệ, cần được chăm sóc và bảo vệ đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt
pháp lý trước cũng như sau khi ra đời”.
Trong hệ thống pháp luật quốc tế liên quan đến trẻ em, Công ƣớc về quyền
trẻ em có phạm vi và tính pháp lý cao nhất, nhằm bảo vệ các quyền của trẻ em trên phạm vi
quốc tế;
theo đó quy định “Trong phạm vi công ước này, trẻ em có nghĩa là mọi
người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp quy định tuổi thành niên sớm hơn”[3,
Điều 1]. Trong Công ƣớc quy định khái niệm trẻ em là những ngƣời dƣới 18 tuổi,
tuy nhiên công ƣớc cũng đã đƣa ra cơ chế không bắt buộc cho các nƣớc tham gia
công ƣớc là cũng phải quy định trẻ em dƣới 18 tuổi, mà tùy từng quốc gia căn cứ
vào điều kiện, khả năng thực tế của mình về bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em để
quy định độ tuổi trẻ em thấp hay cao cho phù hợp [23]. Việt Nam là một trong những nƣớc
đi đầu trong việc phê chuẩn Công ƣớc quốc tế về Quyền trẻ em, phê chuẩn công ƣớc vào ngày 20/2/1990
và đƣợc Liên hợp quốc công nhận phê chuẩn ngày 28/02/1990. Ngay sau đó năm 1991, Việt Nam ban
hành Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
và đƣợc thay thế năm 2004. Theo các quy
định pháp luật về trẻ em ở nƣớc ta, thì trẻ em đƣợc định nghĩa “Trẻ em quy định
trong luật này là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi”[14, Điều 1], “Người
chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên”[Điều 20].
8
Bộ luật dân sự 2005 quy định tại điều 18 “Người từ đủ mười tám tuổi trở lên
là người thành niên. Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên”.
Bộ luật lao động “Người lao động chưa thành niên là người lao động dưới
Sự điều chỉnh pháp luật xác định địa vị pháp lý của trẻ em. Địa vị pháp lý này
đƣợc hiểu là tổng thể những quyền và nghĩa vụ pháp lý của trẻ em cùng với những
đảm bảo pháp lý cho việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ này [35].
Pháp luật về trẻ em có phạm vi điều chỉnh rất rộng, liên quan đến nhiều lĩnh
vực quan hệ xã hội, đến nhiều ngành luật khác nhau. Nếu xét ở góc độ lĩnh vực
quan hệ xã hội thì pháp luật về trẻ em liên quan đến quan hệ hôn nhân gia đình,
quan hệ lao động, quan hệ hình sự, quan hệ hành chính... Còn nếu xét ở góc độ
ngành luật thì hầu hết các ngành luật của hệ thống pháp luật Việt Nam đều điều
chỉnh về trẻ em nhƣ Luật Hiến pháp, Luật Hành chính, Luật Dân sự, Luật Quốc
tịch, Luật Hình sự, Luật Lao động, Luật Hôn nhân và Gia đình và các Luật Tố tụng
hình sự, Dân sự... Ngoài ra còn có những ngành luật điều chỉnh riêng về trẻ em
nhƣ: Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật Phổ cập giáo dục tiểu học,
Luật Giáo dục. Nhƣng do phạm vi điều chỉnh riêng, trong mỗi ngành luật, sự điều
chỉnh pháp luật về trẻ em đều mang nét đặc thù [35].
Tiếp cận từ góc độ xã hội học - dân cƣ có thể định nghĩa “chƣa thành niên” là
một bộ phận phức hợp của dân cƣ của một quốc gia - dân tộc bao gồm tất cả các cá
thể ở trong độ tuổi dƣới 18 tuổi. Nhƣ vậy, bộ phận dân cƣ đƣợc gọi là “ngƣời chƣa
thành niên” này chỉ phân biệt một cách tƣơng đối với các bộ phận dân cƣ khác của
quốc gia - dân tộc ấy trên một tiêu chí duy nhất là giới hạn độ tuổi. Có thể nói
“ngƣời chƣa thành niên” là một nhóm xã hội - dân cƣ “động” chứ không phải là một
nhóm “tĩnh”, ổn định. Đặc trƣng này hàm chứa cả những ƣu điểm và cả những
nhƣợc điểm của nhóm xã hội - dân cƣ “ngƣời chƣa thành niên”. Một mặt, nhờ quy
luật là nhóm “động” thƣờng xuyên cho nên nó luôn là chủ thể chuyển tải liên tục các
giá trị liên thế hệ. Vì thế sự chuyển động của nhóm có sự biến động rõ rệt về quy
mô, số lƣợng của các nhóm tuổi. Đối tƣợng ngƣời chƣa thành niên cũng có thể đƣợc
10
phân nhóm theo độ tuổi, xuất phát từ sự phát triển về thể chất, nhận thức mang tính
tƣơng đối.
niên trong khoảng cách tuổi này đƣợc đặc biệt ƣu tiên, quan tâm bảo vệ và quy
định rõ ràng trong các ngành luật, nhƣ Bộ luật hình sự 1999, Bộ tố tụng hình sự, bộ
luật dân sự, Bộ luật lao động, Luật quốc tịch, luật giáo dục, luật hôn nhân gia đình,
luật Thanh niên, luật phòng chống ma túy, pháp lệnh xử phạt hành chính. Nhƣ vậy
quyền trẻ em đƣợc quy định trong công ƣớc và các văn bản pháp luật của Việt
Nam chỉ có hiệu lực đối với khái niệm “trẻ em” dƣới 16 tuổi theo Luật bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em.
1.1.2 Đặc điểm của lứa tuổi người chưa thành niên
Theo Tổ chức y tế thế giới, nhóm trẻ ở độ tuổi từ 10 đến 16 tuổi là lực lƣợng
trẻ trong cơ cấu dân số. Do đó, sự đầu tƣ và phát triển của lứa tuổi này có ý nghĩa
vô cùng quan trọng trong chiến lƣợc dân số nƣớc ta hiện nay. Giai đoạn này là sự
phát triển quá độ cả về tâm lý, tình cảm và thể chất, dễ diễn ra khủng hoảng trong
tâm lý, tình cảm và nhận thức. Chỉ một cú sốc nhỏ về tâm lý, tình cảm trong quan
hệ gia đình, bè bạn, hay do bị dụ dỗ, có khi do đua đòi muốn "khẳng định"... họ rất
dễ có những ứng xử bất thƣờng, quá khích, không làm chủ đƣợc mình, bỏ nhà đi
lang thang, phạm tội, sử dụng ma túy hay tham gia hoạt động mại dâm...Vì vậy,
nếu lực lƣợng này không đƣợc quan tâm chăm sóc chu đáo, giáo dục đầy đủ và
định hƣớng đúng cho sự phát triển thì rất dễ đứng trƣớc nguy cơ hoặc trở thành
nạn nhân hoặc trở thành kẻ gây ra các tệ nạn xã hội. Từ đó đặt ra trách nhiệm vô
cùng lớn lao của cả xã hội, cộng đồng, đặc biệt là gia đình - cái nôi nuôi dƣỡng
nhân cách con ngƣời - trong việc chăm sóc và giáo dục.
Về trình độ, nhận thức cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện
quyền, nghĩa vụ dân sự, ngƣời chƣa thành niên đƣợc coi là những ngƣời chƣa hoàn
thiện, Bộ luật dân sự quy định:
12
“Người chưa đủ sáu tuổi không có năng lực hành vi dân sự. Giao dịch dân
sự của người chưa đủ sáu tuổi phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực
hiện” [10, Điều 21]
các hành vi vi phạm pháp luật có thể là hành vi bị phạt vi phạm hành chính nhƣ
phạt tiền, phạt cảnh cáo, bồi thƣờng thiệt hại, phạt kỷ luật lao động. Tất cả các
hành vi trên có mức độ nguy hiểm cho xã hội ít hơn tội phạm.
Tuy nhiên, dƣới góc độ lý luận chung nhà nƣớc và pháp luật thì vi phạm
pháp luật đƣợc hiểu theo cách thứ nhất, trên cơ sở đó phân loại vi phạm pháp luật
đƣợc chia ra:
-
Vi phạm hình sự: là hành vi trái pháp luật, có lỗi, nguy hiểm cho xã
hội, đƣợc quy định trong Bộ luật hình sự, do ngƣời có trách nhiệm hình sự thực
hiện.
-
Vi phạm hành chính: là hành vi vi phạm pháp luật, có lỗi, nhƣng mức
độ nguy hiểm thấp hơn so với tội phạm, xâm hại đến các quan hệ xã hội đƣợc pháp
luật hành chính bảo vệ.
-
Vi phạm kỷ luật: là hành vi có lỗi, trái pháp luật, kỷ luật của đơn vị, cơ
quan nhà nƣớc.
-
Vi phạm dân sự: là hành vi vi phạm đến các quan hệ tài sản và quan
hệ nhân thân, chủ yếu đƣợc quy định trong bộ luật dân sự.
Vậy, vi phạm pháp luật là hành vi (hành động hoặc không hành động) trái
pháp luật, có lỗi, do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại
phạt đƣợc quy định trong chế tài của quy phạm pháp luật đối với chủ thể vi phạm
và chủ thể đó có nghĩa vụ phải gánh chịu hậu quả bất lợi do hành vi vi phạm của
mình gây ra.
Đặc điểm của trách nhiệm pháp lý:
-
Cơ sở thực tế của trách nhiệm pháp lý là vi phạm pháp luật.
-
Cơ sở pháp lý của trách nhiệm pháp lý là văn bản áp dụng pháp luật
có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
-
Trách nhiệm pháp lý liên quan mật thiết đến cưỡng chế nhà nước.
Tƣơng ứng với phân loại vi phạm pháp luật thì trách nhiệm pháp lý cũng
phân chia ra thành: trách nhiệm hình sự; trách nhiệm hành chính; trách nhiệm dân
sự; trách nhiệm vật chất; trách nhiệm kỷ luật. Đó là bốn loại trách nhiệm có liên
quan trực tiếp đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Ngƣời chƣa thành niên vi phạm pháp luật là hành vi xâm hại đến các quan
hệ xã hội đƣợc pháp luật bảo vệ mà chủ thể thực hiện hành vi là ngƣời chƣa thành
niên, có năng lực trách nhiệm pháp lý, có lỗi và có thể bị xử lý hành chính, hình sự,
lao động, kỷ luật… Nói cách khác, ngƣời chƣa thành niên vi phạm pháp luật là
ngƣời dƣới 18 tuổi thực hiện bất cứ hành vi nào bị pháp luật cấm. Trong pháp luật
về xử lý vi phạm hành chính, là ngƣời vi phạm pháp luật từ đủ 12 tuổi đến dƣới 18
tuổi thuộc đối tƣợng bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc áp dụng các biện pháp xử
lý hành chính khác. Trong pháp luật hình sự, là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình
sự, từ đủ 14 tuổi đến dƣới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc
16
của mỗi ngƣời không có hiệu quả, thì xã hội sẽ là nhân tố chủ yếu tác động đến bản
chất nhân cách con ngƣời. Khi đó, nhân cách con ngƣời phát triển theo chiều hƣớng
tốt hay xấu là do ảnh hƣởng xã hội. Để mỗi con ngƣời trở thành một ngƣời lƣơng
thiện, một công dân tốt, có ích cho xã hội thì sự tác động của xã hội, đặc biệt là quá
trình giáo dục có ý nghĩa rất to lớn, nhất là với lớp ngƣời trẻ, đang hình thành và
phát triển nhân cách.
1.2.2 Trách nhiệm pháp lý của người chưa thành niên vi phạm pháp luật.
Trong thực tiễn, tình hình trẻ em vi phạm pháp luật diễn ra rất đa dạng, phức
tạp, trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; phƣơng thức, thủ đoạn thực hiện vi
phạm của lứa tuổi này cũng không kém phần nguy hiểm so với ngƣời đã thành niên
vi phạm pháp luật. Quy định về việc xử lý trẻ em vi phạm pháp luật , Luật bảo vệ,
chăm sóc, giáo dục trẻ em nêu rõ “Việc xử lý trách nhiệm hành chính, trách nhiệm
dân sự , truy cứu trách nhiệm hình sự đối với trẻ em phải quy định theo pháp luật
đối với người chưa thành niên”. Điều này, giải thích tại sao khi nói đến chủ thể trẻ
em vi phạm pháp luật thƣờng ngƣời ta dùng thuật ngữ là ngƣời chƣa thành niên vi
phạm pháp luật mà không dùng trẻ em vi phạm pháp luật. Bởi ý nghĩa của nó là
nhƣ nhau, theo quy định tại điều 58 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
[23].
Ngƣời chƣa thành niên đƣợc quy định trong các quy định của pháp luật Việt
Nam là những đối tƣợng đặc biệt của các ngành luật nhƣ hình sự, dân sự, hành
chính, lao động…
TÀI LIỆU THAM KHẢO
A.
Văn bản quốc tế
chƣa thành niên (hƣớng dẫn Riyadh), đƣợc thông qua ngày 14/12/1990.
B.
Pháp luật Việt Nam
7.
Hiến pháp Nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992.
8.
Bộ Luật Hình sự Nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1999.
9.
Bộ luật Tố tụng hình sự Nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
10.
Bộ luật Dân sự Nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2005
11.
Bộ Luật Tố tụng dân sự Nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
12.
Luật quốc tịch năm 1999.
13.
Nghị định 142/2003/NĐ-CP quy định về đối tƣợng, nguyên tắc, thủ tục đƣa vào
trƣờng giáo dƣỡng, thành lập, tổ chức trƣờng giáo dƣỡng.
18
20.
Quyết định số 142/2003/QĐ-TTg của Thủ tƣớng Chính Phủ quy định
thời hạn áp dụng biện pháp xử phạt hành chính đối với ngƣời chƣa thành niên vi
phạm pháp.
21.
Nghị định 06/2009/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong sản xuất, kinh doanh
rƣợu và thuốc lá.
22.
Chỉ thị số 13/2001/CT-TTg của Thủ tƣớng chính phủ về Tổng kết 10 năm thi hành luật
Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (1991-2000).
C. Tài liệu tham khảo
Giáo trình, sách tham khảo.
23.
Bộ công an, Cẩm nang pháp luật về quyền trẻ em, Hà Nội 2005.
Báo cáo kết quả đánh giá dự án Tăng cường thực hiện quyền trẻ em và người chưa
thành niên vi phạm pháp luật, tháng 9/2008 do Viện nghiên cứu thanh niên, Trung ƣơng Đoàn TNCS Hồ
Chí Minh và Tổ chức cứu trợ trẻ em Anh thực hiện.
19
30.
Báo cáo kết quả khảo sát: Thực trạng tình hình trẻ em vi phạm pháp
luật tại địa bàn dự án thành phố Hà Nội năm 2007, T.Ƣ đoàn TNCS Hồ Chí
Minh, Viện Nghiên cứu thanh niên.
31.
Bộ ngoại giao Việt Nam, Báo cáo Quốc gia kiểm điểm định kỳ việc
thực hiện quyền con người ở Việt Nam, Tạp chí cộng sản Số 8 (176) năm 2009.
32.
Bộ tƣ pháp, Tờ trình chính phủ về dự thảo luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Bộ luật hình sự 1999, Dự thảo số 3 năm 2008.
33.
Bùi Ngọc Hà, Nỗi lo phạm tội vị thành niên, báo nhân dân điện tử ngày 14/12/2008.
34.
Đào Tiệp, Thanh thiếu niên phạm tội đâu là nguyên nhân, Trang thông tin điện tử công
Trang điện tử của Sở Tƣ pháp Hải Phòng ngày 08/06/2009.
40.
Nguyễn Thị Kim Thoa, Đạo đức gia đình trong nền kinh tế thị
trường, Tạp chí Triết học.
41.
Nguyễn Thị Bình Dƣơng, Đầu tư cho trẻ em là đầu tư cho phát triển,
Tạp chí cộng sản số 10(154) năm 2008.
42.
Nguyễn Bá Bình, Gia nhập công ước Lahaye về bảo vệ trẻ em và hợp
tác trong nuôi con nuôi quốc tế, Nghiên cứu lập pháp số 5 (142) tháng 3/2009.
20
43.
Phạm Liên, Một số quy định của pháp luật hình sự Việt Nam đối với người chưa thành
niên phạm tội, Báo điện tử Sở tƣ pháp Hải Phòng, 09/6/2009.
44.
T.S Hoàng Văn Tiến, Một số vấn đề quyền tham gia của trẻ em, Trang
điện tử Baovetreem.vn, ngày 31/03/2009.